Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Khước từ làm Phật sống




Osel Hita Torre, được chính Dalai Lama công nhận là hóa thân kiếp sau của Lama Yeshe, vừa tuyên bố không muốn làm phật sống nữa mà sẽ trở thành… một nhà làm phim.

Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị đại sư lama được xem là hiện thân của Phật và sau khi chết các vị không quên bổn phận của mình nên tiếp tục đầu thai vào kiếp sau trong một hình hài mới. Người tái sinh của các lama kiếp trước được gọi là tulku, tiếng Trung Quốc dịch là “hoạt Phật” (huofo), nghĩa là “Phật sống”. Hiện ở Tây Tạng có khoảng 2.000 vị “hoạt Phật” như vậy. Họ nhìn chung đều được phát hiện khi còn rất nhỏ và sau khi trải qua các cuộc kiểm nghiệm mới chính thức được công nhận là tulku.

Lama Yeshe - vị đại sư tái sinh vào Torres

Câu chuyện về Lama Yeshe, đại sư Tây Tạng đã lập ra Hội Bảo tồn Phật giáo Đại thừa ở Califfornia (Mỹ) năm 1975 và hiện có 
trên 100 chi nhánh ở 20 quốc gia, tái sinh vào một cậu bé Tây Ban Nha đã được kể trong cuốn Tái sinh ở phương Tây: Vị đại sư đầu thai vào kiếp sau của Vicki Mackenzie xuất bản năm 1996.



Theo đó Lama Yeshe mất ngày 3/3/1984 ở tuổi 49 tại Mỹ. Gần một năm sau, ngày 12/2/1985, cậu bé Osel Hita Torres ra đời trong một gia đình Tây Ban Nha có bố mẹ đều là môn đệ của Lama Yeshe. Họ sống và làm việc ở trung tâm thiền Osel Ling do Lama Yeshe thiết lập tại Bubion, gần thành phố Granada (Tây Ban Nha). Bố mẹ đặt tên cho cậu là Osel (Tịnh Quang) cũng là để tưởng nhớ bậc đại sư của mình. Chỉ ít lâu sau khi Torres ra đời, người ta phát hiện ra rằng cậu bé có những dấu hiệu thể hiện mình chính là hóa thân của Lama Yeshe kiếp trước.

Osel Hita Torre,

Sau những cuộc kiểm nghiệm, đích thân Dalai Lama, được coi là người đứng đầu Phật giáo Tây Tạng hiện nay, đã công nhận điều này và quả quyết, khi nào biết nói, Torres sẽ tự biểu lộ những điều cho thấy mình là tulka của Lama Yeshe. Từ đó rất nhiều người trên thế giới tìm đến để gặp hài đồng lama này. Và có lần cậu bé đã nhận ra những người quen biết của Lama Yeshe trước đây.
Ngày 17/3/1987, Torres được tấn phong làm lama trước sự chứng kiến của giới truyền thông ở Dharamsala, Ấn Ðộ với tên Tenzin Osel Rinpoche, gọi tắt là Lama Osel. Từ năm lên 6, cậu bắt đầu theo học tại thiền viện Sera ở miền Nam Ấn Độ, nơi Lama Yeshe trước kia từng học, để chuẩn bị cho vị trí mới của mình là tiếp tục sự nghiệp của Lama Yeshe làm ngọn cờ của Phật giáo Tây Tạng ở phương Tây.

Hồi ấy, giới phật học Tây Tạng bình luận rằng việc Lama Yeshe mất chưa đầy một năm đã tái sinh là điều cho thấy vị cao tăng viên tịch khi còn khá trẻ này muốn nhanh chóng sống lại để tiếp tục phụng sự chúng sinh. Họ hy vọng Torres nhanh chóng “trở lại” làm người đứng đầu Hội Bảo tồn Phật giáo Đại thừa (FPMT) của Lama Yeshe trước đây, một tổ chức có nhiệm vụ truyền bá Phật giáo Tây Tạng ở phương Tây.
Thế nhưng hồi tháng 5/2009 báo chí Tây Ban Nha cho biết Torres, nay đã là một chàng trai 24 tuổi, đang có ý định từ bỏ phẩm vị Phật giáo của mình và muốn trở thành một nhà làm phim. Tờ El Mundo dẫn lời Torres: "Mới 14 tháng tuổi tôi đã bị đưa sang Ấn Độ. Ở đó người ta khoác cho tôi một chiếc áo vàng và đặt tôi lên ngai để mọi người thờ phụng. Họ kéo tôi khỏi gia đình mình và đưa tôi đến một hoàn cảnh của thời trung cổ...”. Báo này còn cho biết thay vì sống ở tu viện, vì lama trẻ tuổi này hiện mặc quần áo “bụi đời”, để tóc dài và thích trích dẫn nghệ sĩ guitar Jimi Hendrix (đã mất vì uống rượu và dùng thuốc ngủ quá liều) hơn là Đức Phật.




Osel Hita Torres ngày nay: Mặc quần áo “bụi đời”, để tóc dài và thích trích dẫn Jimi Hendrix hơn là Đức Phật


Thông tin nói trên gây xôn xao giới phật giáo Tây Tạng vì việc một tulku khước từ làm “phật sống” là một chuyện cực kỳ hiếm thấy từ trước tới nay. Một số nhà phật học Tây Tạng cho rằng rõ ràng quy trình phát hiện và công nhận tulku có vấn đề, nhất là khi việc đầu thai lại diễn ra ở phương Tây. Vì tranh cãi xung quanh việc có nên để con mình làm lama hay không mà cha mẹ của Torres đã ly dị nhau.
Thực tế là năm 18 tuổi Torres đã rời Ấn Độ trở về Tây Ban Nha và theo học tại Đại học Madrid. Năm ngoái anh tốt nghiệp xuất sắc khoa Điện ảnh của trường này. Có thể thời gian học đại học đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm sống của Torres.
Mới đây trên trang web của FPMT, Torres khẳng định các báo Tây Ban Nha đã đưa không chính xác lời phát biểu của anh. Torres cho biết anh coi đó là một đặc ân khi cùng lúc được thừa hưởng cả hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, đồng thời phủ nhận thông tin cho rằng mối quan hệ giữa anh và Phật giáo cũng như FPMT đã bị cắt đứt. Tuy nhiên Torres tiếp tục khẳng định mình sẽ theo đuổi sự nghiệp điện ảnh.
Điều đó cũng có nghĩa Torres đã tự loại mình khỏi vai trò của một tulku và anh đã trở thành một thí dụ để người ta nghi ngờ về thuyết tái sinh của Phật giáo. Nhưng cũng có người lập luận tăng sĩ phải tu nhiều kiếp mới có thể thành Phật, mới thực sự thoát khỏi luân hồi. Vì thế Torres kiếp trước là một cao tăng, nhưng kiếp này vẫn có thể “hư hỏng” bởi cuộc đời là một chuyện bình thường.

Albrecht Dürer và tác phẩm “Đôi bàn tay nguyện cầu” “The praying hands”

Vào thế kỷ 15, tại một làng nhỏ nọ, có một gia đình có tới 18 người con. Cha của họ phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà cả gia đình chỉ đủ để đắp đổi qua ngày. Thế nhưng, hai người con lớn trong nhà vẫn có nhiều mơ ước. Cả hai đều muốn học vẽ vì họ có năng khiếu từ nhỏ.
Sau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau 4 năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏĐồng xu được tung lên, Albrecht Durer thắng cuộc và được đi học. Albert thua, và đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, và trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học.
Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của Albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì Albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.


Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và Albrecht nói:
- Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình. Albert mỉm cười, rồi bật khóc:
- Không, anh không thể tới Nuremberg được. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…
Hơn 450 năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng… của Albrecht Durer đã được treo ở những Viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ: có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của Albrecht Durer. Đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai Albert, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là “Đôi tay”, nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là “Đôi tay cầu nguyện”.



“The praying hands”

Nếu có lúc nào bạn nhìn vào bức tranh cảm động đó, hãy nhìn lại lần thứ hai. Nó sẽ nói với bạn rằng, không có ai, chắc chắn không có ai, có thể thành công một mình bao giờ!

St

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Các tác phẩm mỹ thuật từ lá bồ đề



Từ nhan

Từ nhãn thị

gfdgfdgdf
Tinh hoa

Nghiệp tâm

Mẫn tuệ

Hiếu nghĩa

An lạc

Hòa hợp

Viên mãn

"Vớt" sách

Franz Eybl (1806–1880),
Cô gái đọc sách,
1850, 53 × 41 cm
Tôi vẫn thường lân la ở những hội sách chỉ để mua những cuốn sách mình đã có rồi, của những tác giả mình đã đọc rồi và đã vô cùng yêu thích rồi. Cái việc săm soi tìm kiếm những quyển sách không hẳn là đã cũ với mức giá rất hời đó, đôi khi lại thú vị không kém việc đào xới trong rừng sách mới để phát hiện ra những quyển gọi là hợp gu.
Không những vì lý do đơn giản là, tôi chắc chắn rằng chúng thực sự có giá trị hay ý nghĩa với bản thân, chúng đã được trải qua quá trình trải-nghiệm-đọc của cá nhân, từng được đóng dấu chất lượng tốt, mà, đôi khi còn với một khoái cảm hết sức ngông ngạo: mua là góp phần làm cho những cuốn sách giá trị đó không còn có mặt trong đống sách xả xo chất chồng được cắm bảng “Đại hạ giá”, “Sách đồng giá 5 ngàn, 10 ngàn đồng/quyển”.
Con người của xã hội thị trường nói với tôi rằng, giá trị một cuốn sách được thể hiện qua giá tiền mà người ta bỏ ra mua nó hay chuyển hóa qua tính chất dịch vụ mà người ta giao dịch nó, như một món hàng vật chất sòng phẳng không hơn không kém. Nhưng, cho dù sòng phẳng như vậy vẫn chưa xong chuyện. Con người phản biện đạo đức nói với tôi rằng, trong nền văn hóa đại chúng đang thống trị này thì thứ gì càng cao cấp, hàn lâm thì càng dễ tuột giá và bị ghẻ lạnh dù đó là thứ lương thực tinh thần, của cải sáng tạo kỳ công đột phá đến đâu. Chuyện đến đây xem ra thì càng chưa xong. Con người trung dung nói với tôi rằng, thôi thì đó là chuyện của thiên hạ, mình không phải là kẻ đọc sách theo tinh thần ngoại tại định hướng, cứ phải nuôi dưỡng sự chủ động, trân trọng, tình yêu âm thầm, đôi khi đơn độc và vô điều kiện với những cuốn sách, rồi tìm cách chia sẻ tình yêu đó đến với những ai có thể, vậy đã là ổn lắm rồi.
Tôi mua. Đi tìm sự thật biết cười của Umberto Eco với giá 10 ngàn đồng, Palomar của Italo Calvino: 5 ngàn đồng, Điệu Valse giã từ của Milan Kundera: 15 ngàn đồng, Truyện ngắn Hemingway: 8 ngàn đồng... Người bán sách lạ lẫm trố mắt nhìn, suy đoán rồi ném vào gã khách hàng tham lam một câu an ủi: “Mua đi, giá rẻ, về bán lại chiết khấu 30% giá bìa vẫn còn lời chán!” (Hóa ra bà ấy luôn nghĩ người mua một lúc nhiều bản của một cuốn sách ế ẩm chỉ có thể là một con buôn sách!)
Tôi dành một ngăn tủ sách của mình để cất giữ những quyển “vớt” được trong các tình huống trên. Tôi lau chùi, sắp xếp thẳng thớm, lưu giữ chúng thật kỹ để quên dần cảm giác chúng đã từng lăn lóc đâu đó trên những sạp sách thanh lý, những đống sách bán với mức giá giấy vụn. Những cuốn sách được nhuận sắc, lung linh hơn khi một ngày, tôi nâng niu như những món quà tặng đầy bất ngờ thú vị cho ai đó trong giới viết lách, dạy học tìm đến, ngỏ ý cần chúng cho công việc nghiên cứu, giảng dạy, trao cho một ai đó mê đọc sách bày tỏ sự quay quắt yêu mến những tác giả, tác phẩm kia.
Và đây, một phép mầu xảy ra: những bản sách được xuất hiện một cách đường hoàng nhất, đến đúng người truy cầu chúng nhất.
Sách hay rốt cuộc cũng đến được với người cần, dù số phận của chúng ba chìm bảy nổi trong đời sống thị trường này đến mức nào.
Nhưng cái cách mà tôi đang làm chỉ là một thói quen có tính vị kỷ, của một người đọc với một số cuốn sách hay tác giả mà mình yêu thích, trong một phạm vi lan truyền cục bộ, hẹp hòi.
Thế nhưng từ câu chuyện trên, có thể đặt ra câu hỏi cay đắng và quen thuộc rằng, vì sao ở thị trường chúng ta, số phận của những đầu sách kinh điển, tác phẩm giá trị lại có một mẫu số chung bi đát đến như vậy? Vì sao “vòng đời” của chúng (nhà in -> nhà sách –> kho chứa hàng tồn –> sạp bán hàng đại hạ giá -> cân giấy vụn) lại diễn ra ngày càng nhanh chóng đến như vậy?
Thực ra, tình trạng đó không phải chỉ diễn ra ở Việt Nam. Những nước có thị trường xuất bản phát triển cũng đã có tình trạng tương tự. Chỉ có thể, trong một điều kiện văn minh hơn thì người ta có cung cách cư xử với chúng ít trần trụi, nghiệt ngã hơn; đại chúng, tuy không hưởng ứng, thì cũng không quá quyết liệt phủ nhận. Và nhất là những nhà làm sách cũng biết cách xác lập cho chúng một vị trí nhất định trong thế giới sách bằng cách đầu tư những dạng ấn bản đặc biệt cho nhà sưu tập, ấn bản bỏ túi để gần hơn với giới bình dân, đầu tư các chương trình tọa đàm, hội thảo để chúng được truyền thông, tương tác về mặt học thuật...
Nhìn lại cách mà những nhà kinh doanh sách kinh điển, những quyển sách nặng về học thuật, những tác phẩm văn chương thuộc nhóm hàn lâm ở ta, có một điều rất dễ nhận thấy, hầu hết chúng đều được “gán nhãn” từ khi chưa ra đời, rằng, đây là thứ khó nhằn, kén độc giả. Điều đáng nói, những “dự đoán” đó không phải bao giờ cũng từ những nhà biên tập hay phê bình sách giỏi, có trách nhiệm, mà kết quả của việc nghe ngóng hay thành kiến thị trường của những người làm phụ trách kinh doanh, quy mọi giá trị văn hóa qua các tiêu chí: doanh thu, sức hấp dẫn với số đông.
Thành kiến thị trường dần dần biến thành định kiến về giá trị. Và như thế, ngay từ lúc ra đời, cuốn sách không được chăm chút kỹ lưỡng về truyền thông, không nằm trong nỗ lực tiếp thị của chính người làm sách. Và nó rơi tõm vào im lặng, tiến thẳng về phía những kho sách tồn như chưa từng có mặt, trở thành sách cũ ngay khi chưa từng là sách mới.
Một điều bất lợi cho chúng nữa, đó chính là sinh khí đời sống học thuật, văn chương, báo chí không đủ sức mạnh và sự nhiệt tâm chia sẻ, khích lệ để đẩy chúng thành những sự kiện gây sự chú ý với cộng đồng trong khi đó những quyển sách son phấn thị trường đang làm mưa làm gió trên từng cây số, từ mạng xã hội cho đến những tờ lá cải!
Trong suy nghĩ của tôi, phần lớn những quyển sách đáng đọc vẫn nằm lẫn đâu đó trong những đống tồn kho mà người ta muốn bán tống bán tháo trong các dịp hội sách, bên dưới những tấm bảng “Sách đại hạ giá” hay “Đồng giá: 5 – 10 ngàn đồng”.
Umberto Eco, Italo Calvino, Ernest Hemingway hay Jorge Luis Borges, Milan Kundera, và cả Franz Kafka nữa... chỉ ngang ngửa giá giấy vụn ở xứ sở này. Nhưng xem kìa, điều thú vị của một kẻ mơ mộng đôi khi là được trục vớt những bản sách quý, những tác phẩm văn chương lớn từ giữa một đống sách bị ứng xử như mớ giấy lộn. Và hắn dùng đến phép thắng lợi tinh thần để tự nhủ rằng, dù sao, trong thầm lặng và ít ỏi, những cuốn sách quý vẫn có vị trí nào đó khi được đến đúng tay người cần đọc chúng, nâng niu đón nhận chúng.
Nghĩa là đâu đó trong đời sống của những người đọc sách, vẫn còn tồn tại kiểu nhận thức đầy ủi an rằng, doanh thu, sự xôm tụ đông vui không hẳn là những 
tiêu chí quyết định giá trị thực của những quyển sách và không phản ánh đầy đủ bản chất đời sống văn hóa đọc. Dù cho nhóm người này luôn ít do với một đại chúng lao xao bề nổi vẫn thấy, nhưng biết đâu, họ lại tạo ra một mạch ngầm nuôi dưỡng nguồn hy vọng cho những người viết, người làm sách tử tế.

Nguyễn Vĩnh Nguyên

Không gian và tâm thức nghệ thuật



 

(Nhìn từ một vài biểu hiện của không gian nghệ thuật trong văn hoá phương Đông)
Không biết từ bao giờ văn chương đã phải thoả hiệp hay du nhập và cuối cùng là bổ khuyết vào cái hành trang (vốn chỉ ưa gọn nhẹ) của mình một người bạn đồng hành là không gian. Không gian - nơi mở đầu và không bao giờ khép lại những đau đáu nghệ thuật.



Không gian kẻ đối nghịch với sự tận cảm của người cầm bút:

Trong khoa học tự nhiên không - thời gian là một khái niệm "kép" được nhận diện như sau: " Không - thời gian là một mô hình toán học gộp không gian 3 chiều với thời gian 1 chiều (chiều thứ tư) để tạo thành một cấu trúc thống nhất gọi là continuum không - thời gian". Tuy nhiên với cảm quan của người nghệ sĩ phương Đông thì nó không hoàn toàn là như vậy mà đơn giản chỉ là hai trục tung và hoànhvới đầy những trăn trở. Thời gian của tạo vật là một vòng tuần hoàn cố hữu và vô cảm, là bánh xe pháp luân cuốn cả thế giới theo vòng quay của hữu và vô. Đây là một chu trình khép kín, không ai (dù là một cá nhân siêu việt nhất) có thể thoát ra ngoài vòng quay của thời gian ấy. Những kẻ tự thức đó tự biết mình là hữu hạn, là một đoạn đứt gãy trong vòng tròn ấy đã tìm cách xuyên thủng "vòng kim cô" thời gian bằng muôn vàn sự ký thác tâm trạng (xem thêm Trần Trọng Dương tài liệu đã dẫn). Vậy là đời người với khoảng ước lược "trăm năm" chỉ là một mũi tên, vẫn cố vươn thẳng trong " chớp mắt" để rồi cuối cùng vẫn phải uốn theo vòng tròn tạo hoá kia. Thế nhưng trên mũi tên ngắn ngủi và bé nhỏ ấy vầng hào quang toả ra từ dũng khí của mũi tên cũng đủ làm kẻ văn nhân kia vững bước. Cuộc đời họ âu cũng chỉ là cuộc làm xiếc trên một con đường nhỏ trên một mũi tên ấy. Bị vầng hào quang dũng khí nhập vào hồn và viết: Mải đi về phía mặt trời/Bẵng quên cái bóng rối bời sau lưng (Không đề - Trương Thiếu Huyền). Trục hoành (ngang) thời gian đã ngắn ngủi lại trống trải để có thể nhận ngay ra ta thường xuyên là kẻ đơn độc:  Trước không thấy người xưa / Sau nào đâu hậu thế ; Trước sau nào thấy bóng người... Trong khi đó trục tung (dọc) không gian lại là những chứng giám lạnh lùng và vô cảm. Nó vừa là những vật chứng để người ta gửi vào đó những tham vọng chinh phục lại vừa chắn ngang đường, chặt đứt đoạn những giấc mơ trường tồn của tham vọng sáng tạo. Nhà thơ đời Đường, Vương Chí Hoán đã thất thế với thời gian (của trục tung): "Bạch nhật y sơn tận/Hoàng hà nhập hải lưu" - (Bóng nắng tắt sườn núi /Sông Hoàng nhập biển khơi) đành chạy đua bằng con đường của không gian trong tham vọng đăng cao phổ biến trong thời đại ấy: "Dục cùng thiên lý mục/Cánh thướng nhất tằng lâu" - (Muốn phóng hết tầm mắt / Hãy lên thêm một tầng lầu)
Bao giờ cũng vậy, bước vào thứ không gian nào phải tuân thủ luật chơi của thứ không gian ấy (chữ chơi ở đây nên được hiểu là sự tham dự vào). Người ta đã khẳng định văn học với không gian topos (với các chiều trên/dưới, sau/trước, phải/trái của nó) chứ không phải kiểu siêu hình học Euclid đã tạo cho văn học những giá trị biểu cảm rất lớn. Tham dự vào sân chơi này người đọc không cần quan tâm đến những logic về chất lượng của nó mà chỉ cần biết cái kề cận với nó, cái đang che chở và nâng đỡ nó là như thế nào. Để rồi từ những chiều ấy, từ những cánh cửa vô hình này rất nhiều điều được gợi mở. Chàng thi sĩ Thơ mới Huy Cận vẫn giữ được vẻ Á Đông trong những câu thơ của mình là như thế:Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu. (Tràng Giang). Với một trí thức Tây học không gian ba chiều với nắng xuống - trời lên - sông dài, trời rộng đã được thuần thục trong cảm thức. Bầu trời nồng nẫu của phương Đông sau khi đã được trấn an bằng những thần thoại và triết lý của bản địa đã chuyển sang cái màu xanh ngắt, lơ lửng tầng mây của xã hội nông nghiệp: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao. (Nguyễn Khuyến) giờ lại được khám phá lại bằng con mắt khám phá và khái quát luận thuyết phương Tây từ chính những người trẻ tuổi trong buổi đầu canh tân ấy. Tuy nhiên với Huy Cận, bước vào Tràng giang để thành công thi sĩ phải tuyệt đối tuân thủ sự khắt khe của luật chơi là tuyệt không được đả động đến chiều thứ tư là thời gian để bài thơ có được vẻ cổ kính của không gian thiêng, của các dòng sông mẹ. Dù biết đấy với "tiếng làng xa vãn chợ chiều", "củi một cành khô"... đã gợi cái nhìn mới mẻ của thơ ca 30-45 rồi nhưng không ai dám mặc nhiên thừa nhận. Phải thật sành với những chiều kích của Đường thi mới nhận ra một điều là lạ ấy là "Bến cô liêu". "Muôn năm cũ" của Vũ Đình Liên là "mực tàu giấy đỏ", là ông đồ, còn cái của ngày hôm nay là cái héo tàn của xác chữ: "Giấy đỏ" không buồn "thắm", cái mất của hôm nay là "ông đồ" là đã thành chuyện ông đồ: "ông đồ xưa" (xưa hoá ông đồ). Ở đây cũng vậy, trời nước biệt ly, sông dài, trời rộng là chuyện muôn đời nhưng bến là bến đợi, là dấu ấn của thời gian, ghi nhận thời điểm hiện tại. "Bến cô liêu" không còn là bến buồn mà phải là sự "bến hoá" sự "cô liêu" ấy, hay nói đúng hơn là tác giả đã hiện tại hoá nỗi buồn ấy. Như vậy tác giả đã gắn cho cảnh chiều một véctơ thời gian vô hình mà vẫn "chơi"đúng luật với Tràng giang. Tuy nhiên cách viết ấy gợi một sự day dứt quá bởi những chiều kích của không gian đều phát triển ra muôn hướng mà thời gian đành ngậm ngùi đứng lại. Bởi thế mà không gian luôn là một đối lập nghiệt ngã.

Không gian với sự hoà hợp và nâng đỡ:

 


 Tranh: Bửu Chỉ
Lâu nay chèo cổ cũng đang bị sân khấu hoá. Chiếu chèo sân đình đã bị đưa lên sân khấu, khán giả đã bị loại ra khỏi cuộc chơi này và thay vào đó là đèn màu và các qui ước về không gian. Chính vì thế trong quan niệm của nhiều người, chèo đã bị định danh theo kiểu sân khấu phương Tây để bắt buộc phải nghiêng về bi hoặc hài, rồi từ đó như một cái cây khô héo và mất vị trí trong đời sống tinh thần. Mấy ai hay xưa kia, khi còn là chiếu chèo của văn hoá làng nó là đại diện của một thứ không - thời gian rất đặc biệt. Tư duy cảm tính của con người trong xã hội nông nghiệp phải chăng đã ngưng kết ở chèo. Chiếu chèo là một khoảng không gian được đặt trong một môi trường diễn xướng trực tiếp. Ở đây người xem đã thâm nhập vào hậu trường của buổi diễn, tham gia trang điểm, dựng nên các vai chèo. Khi buổi diễn được tiến hành họ cũng tham gia đối đáp, chêm lời và bình phẩm. Nói đúng hơn là một cách "ghẹo" rất có nghề bởi chính những người làng ấy là chủ nhân của loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này. Chiếu chèo luôn bị xâm lấn, ôm ấp bằng sự tiếp nhận và thêm bớt độc đáo đó nhưng không bị "vỡ" kịch bản, các đường ranh giới ước lệ vẫn được những con người chân lấm tay bùn ấy tôn trọng và nâng đỡ không hề bị mất thiêng. Phải nói rằng các triều đại vua chúa, những thân phận lỡ dở trong các vở diễn đó thì lúc nào cũng quá xa xôi (dù làng quê xưa vốn đã rất ít đổi thay) và đặc biệt là thứ không gian ước lệ là manh chiếu làng dễ tạo cho ta cảm giác về một thứ không gian trường tồn. Các cụ già bạc phơ râu tóc lại rưng rưng khi được xem lớp cháu con diễn lại các tích trò từ khi là cậu bé tóc để chỏm. Bí quyết để có được sự kì diệu đó là bởi những nghệ sĩ - nông dân của chúng ta luôn biết cách giải thiêng để làm mới các tích trò, làm mới chiếu chèo muôn đời bằng thứ tình cảm của con người ngày hôm nay. Sức mạnh của sự giải thiêng đó được lưu truyền đến cả khi chèo thực sự khô héo trên sân khấu hiện đại, ta vẫn tìm thấy một chàng trai quê đa tình và tinh quái:

Ở ngoài sân diễn là đâu
Cửa trước thì đóng cửa sau thì mời
Bão đâu ở tận cuối trời
Em là nắng của một thời còn mưa
(Nguyễn Hưng Hải)

Sau hàng ngàn năm chúng ta nâng niu và trân trọng những giá trị truyền thống nhưng có lẽ đã bỏ qua một chi tiết khá quan trọng: Dù là tự phát hay cảm tính nhưng ông cha ta xưa đã chạm đến những mức độ khác nhau của triết học, tư tưởng và cảm nhận được hai bình diện không gian và thời gian. Những phát hiện ấy đã dẫn đến một suy xét khá quan trọng: Vòng tuần hoàn của tháng năm như nhịp ru đều đặn vẫn không thể giấu nổi một hình hài lớn lên, già đi và vắng bóng. Triết học và các tìm kiếm y học là một hướng tìm tòi đến sự vĩnh cửu, còn trong khi đó văn nghệ dân gian lại là một sự khắc chế khác với quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lấy nhu thắng cường, khuyến thiện chừng ác là những phương thức quyền biến của phương Đông được vận dụng để gìm dây cương "con tuấn mã thời gian" không khi nào biết chồn chân mỏi gối. Sự cách điệu hoá một thế giới, một vũ trụ, một kiếp người... vào các môi trường diễn xướng ấy cũng không nằm ngoài những khát vọng như thế.
Có người nói rằng suốt một dải từ Trung Cận Đông đến Nam Mỹ qua đường Đại Dương đều cần có một nạn hồng thuỷ nào đó trong kho tàng dân gian của họ để giải quyết một lý giải về nguồn gốc hình thành tộc người. Điều này được thể hiện ra bằng thần thoại, bằng những "mảnh vỡ hoàn hảo" của thần thoại trong các áng sử thi sáng thế. Sau này nó còn được lưu lại ở mức độ nhất định trong ngôn ngữ. Bởi đứng từ góc độ bản thể luận thì ngôn ngữ bao giờ cũng là sự ý thức về tồn tại: "Trong ý thức ngôn ngữ tồn tại không phải là một thế giới khách quan như đôi khi ta vẫn tưởng thế, mà là một thế giới chủ quan, thế giới của các hình ảnh, biểu tượng... đã được "con người hoá"" - (Hai hình thức phản ánh và hai cách nhìn không gian trong ngôn ngữ - PGS..TSKH Lý Toàn Thắng). Nhưng một điều thú vị khác lại nảy sinh là từ cách lập ngôn cho thuở "khai sinh lập địa" của dân tộc mình lại bộc lộ những quan niệm về không - thời gian và tâm thức của mỗi thời đại được trưng cất qua những cấp độ xây dựng thế giới siêu nhiên tưởng tượng ấy. Xưa nay vẫn có một cách để phân biệt giữa thần thoại phương Đông và phương Tây đơn giản là: Phương Đông nghiêng về thần hoá, kể cả với các nhân vật có thật. Trong khi đó phương Tây lại người hoá triệt để ngay cả các phép thuật của các vị cũng chỉ là những biểu hiện tình cảm được cường điệu hoá mà thôi như ghen thế này, đẹp đến thế kia... Tuy nhiên khi đọc lại sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường (đầu đề hoàn chỉnh là: Tẹ tat - tẹ đạc; cọn chu - keo lọi; toọc moong) và để ý kỹ phần thần thoại trong đó (chất thần thoại là nơi ta có thể nhận ra tâm thức dân gian khá rõ) lại khiến cho chúng tôi rất bất ngờ. Một thế giới với mối quan hệ của ba anh em TA CAI, TA CAN và YA KIT và sự trừng phạt của BUA BLOI thông qua THIEN LOI và nữ thần NANG A TĂNG  đã để lại những dấu hiệu về một xã hội với những đột biến tâm trạng của các nhân vật khá hiện đại. Xin nói thêm rằng khái niệm hiện đại ở đây không dựa trên sự "tráng men" mà để chỉ mức độ phát triển trong tư duy và cảm quan mỹ học (tất nhiên ở đây còn rất nguyên hợp). Trở lại với mục đích tìm kiếm tâm thức dân gian về không gian như vừa nêu trên thì cả Mường Trời và Mường Bằng trong sử thi ấy đều là hiện thân của một mã không gian rất độc đáo đó là mường. Lâu nay các sáng tác của các tác giả văn học viết hiện đại đều hướng đến mã không gian này bằng một sự linh cảm và tình yêu nguồn cội:

Mẹ ngồi xếp bằng tròn giữa cửa
Ngó ra đồng cái, đồng con
Nơi gần - mặt lúa xanh ai nhuộm?
Nơi xa - mặt ruộng phẳng ai bày?
(Hoa trong mường - Vương Anh)

Hay ở đây là sự vượt thoát ra khỏi tiểu không gian của mình, giữa trời đất mênh mông nhưng nhân vật trữ tình tự trở thành tiêu điểm hướng tâm, thấy mình bơ vơ lạc lõng:

Băng qua những đồi hoa không kịp hái
Đến với cánh đồng lúa đã gặt xong
Đàn trâu mải mê với những gì còn lại
Chợt nhân ra ta, tay cầm hái giữa đồng.
(Giữa đồng - Đinh Đăng Lượng)


          Tranh: Bửu Chỉ
Trong bài viết này người viết không có ý định đồng nhất mã không gian này với nguồn gốc tên gọi của một dân tộc mà chỉ đi sâu vào lý giải sự hoà hợp giữa các chiều không gian và thời gian của mã ấy. Trong "sân chơi" này "luật chơi" của tâm thức nghệ thuật rất uyển chuyển nhưng cũng cần một sự tuân thủ chặt chẽ. Theo chúng tôi bản chất của mã không gian ấy được thể hiện trên ba điểm sau để tạo nên sức thành công cho các tác giả hiện đại:
Thứ nhất:  không gian và thời gian đã được kết hợp hài hoà bởi đường ranh giới mang tính chất văn hoá và bản địa. Trên giới tuyến ấy là sự mềm mại như đường chỉ hoa văn để giữ gìn những giá trị tốt đẹp truyền thống.
Thứ hai: Con người luôn được quan niệm như là một sự sinh thành tất yếu của các giá trị văn hoá bản địa, từ đó có thể soi chiếu đến các thân phận con người trong cảm quan tôn giáo. Chính nhờ điều này mà ta có thể đưa mọi giá trị vào cùng một hệ quy chiếu mà không va chạm phải một sự khập khiễng nào về địa giới văn hoá:

Đất này, anh vừa qua mường Vó
Ruộng đó, anh vừa đến mường Vang
Anh chớp mắt., mắt cứ ngỡ ngàng
Nhìn quanh quanh đồng mường chóng mặt
Anh nhìn đất, đất nâu hoá mật
Anh nhìn đường, nhựa phẳng hoá lụa tơ
(Cơm mường Vó, lúa mường Vang - Vương Anh)

Không có mã không gian này trong tâm thức nghệ thuật nhưng không gian của một làng Hiếu Lễ nơi địa đầu đất nước cũng giúp Y Phương tìm thấy một nét tương đồng nào đó:

Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
(Nói với con)

Giải thiêng

Và có lẽ cũng là điều quan trọng nhất trong tâm thức nghệ thuật của mỗi người phải tự giải thiêng được chính những giá trị mà mình đang có để nó được trường tồn. Sự giải thiêng là việc luôn làm mới, ta thử đặt một câu hỏi: Nếu Đẻ đất đẻ nước không có những yếu tố rất người thì nó sẽ trở nên khô cứng, liệu còn giữ được sức lối quấn nữa chăng. Giải thiêng xét ở phương diện nào đó chính là phương thuốc bí truyền mà ông cha ta tìm cách khắc chế lại sự nghiệt ngã của thời gian để trường tồn cùng không gian vĩnh cửu. Tâm thức (chữ thức thiên về lý trí) là thứ lý trí của những rung cảm trước vũ trụ và tạo vật. Tâm thức cũng là sự đón nhận một đối cực của nó là tình cảm của truyền thống đời muốn dìu dắt ta đên với những giá trị cao đẹp nhất. Vậy thôi!


Bùi Việt Phương

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Tại sao Khổng Tử… khóc?!



Giáo sư Khâu Thành Đồng - một trong những nhà khoa học chân chính đang lên án mạnh mẽ thói ăn cắp trong giới học thuật Trung Quốc.

Nếu tái sinh vào thời này, hẳn Khổng Tử cũng phải khóc và ngửa mặt lên trời kêu “Ô hô ngán thay!”... Chuyện gì đang xảy ra và làm Khổng Tử uất giận đến thế? Đó là nạn "đạo chích" ý tưởng của giới học thuật, nạn mua bán văn bằng tiến sĩ, nạn xào nấu và bịp bợm trong giới nghiên cứu khoa học lẫn giảng dạy...
Nếu không kể tham nhũng, vấn đề trên thật sự là "quốc nạn" của Trung Quốc ngày nay, một Trung Quốc đang "hừng hực khí thế phát triển" với niềm "tự hào" là nơi có nhiều tiến sĩ nhất thế giới!

Quốc nạn!
"Tham nhũng trong học thuật đang là vấn đề nghiêm trọng đến mức nó có thể chặn đứng thành tựu phát triển khoa học của Trung Quốc. Nếu không thế, tôi đã chẳng rước phiền cho mình khi nói thẳng ra. Mà cũng chẳng có sự phủ nhận nào trong giới học thuật nước nhà cả. Có điều, người ta không sẵn lòng nói một cách công khai" - phát biểu của Khâu Thành Đồng (Yau Shing-tung), Giáo sư toán Đại học Harvard, một trong những nhà khoa học gốc Hoa xuất sắc nhất thế giới hiện nay, người từng giành giải thưởng toán học Fields năm 34 tuổi và mới đây lại được trao giải Wolf lĩnh vực toán năm 2010 (người Trung Quốc đầu tiên giật được cả 2 giải toán học danh giá nhất thế giới nói trên).
Tham nhũng trong học thuật Trung Quốc đúng là vấn đề nghiêm trọng ngày càng gây bức xúc xã hội, như được ghi nhận trên China Daily (bản tiếng Anh của Trung Quốc nhật báo) ra ngày 2/6/2010.
Tình trạng “luộc” đề án nghiên cứu hoặc thuê người viết luận án, từ cử nhân đến tiến sĩ, thậm chí len lỏi vào tận những giảng đường lớn nhất Trung Quốc.
Tháng 3/2009, một giáo sư Đại học Chiết Giang đã bị sa thải sau khi bị phát hiện hành vi ăn cắp ý tưởng và "sao chép dữ liệu". Trước đó, năm 2003, một giáo sư Đại học Giao thông Thượng Hải cũng trở thành trung tâm của scandal tương tự. Năm 2008, 3 vụ bịp trong giới nghiên cứu cũng bị phơi bày tại Đại học Phục Đán, liên quan đến một số giáo sư, giảng viên, nghiên cứu sinh tiến sĩ và tiến sĩ.
Sự việc còn cho thấy một mặt trái nữa: Hệ thống giáo dục và đào tạo nâng cao của Trung Quốc rất có... "vấn đề". Giáo sư Khâu kể: "Nhiều sinh viên Hoa lục cho tôi biết điểm thi đại học quốc gia của họ và hỏi rằng, liệu (điểm cao như thế) có thể giúp họ vào khoa Toán Harvard hay không. Tôi buộc phải nói rằng họ có chút ít cơ hội vào Harvard nhưng vào khoa Toán Harvard thì không bao giờ, bởi họ thậm chí còn không biết làm... toán!".
"Tại Trung Quốc, số bài báo được in trên các chuyên san khoa học là yếu tố quan trọng quyết định một vị trí chuyên môn của nhà nghiên cứu cũng như sự thích hợp cho việc thăng chức" - chú thích ảnh của China Daily.
Trong bài báo khác (23/7/2010), China Daily cho biết thêm, nạn "hư đốn" trong giới học thuật Trung Quốc đã trở thành một thứ văn hóa phổ biến mà "thủ phạm" dường như chẳng còn màng và bận tâm đến sĩ diện và liêm sỉ. Giới giáo sư từ trường đại học danh tiếng thì chôm chỉa đâu đó rồi đưa vào bài "nghiên cứu" mình đăng trên chuyên san. Nghiên cứu sinh tiến sĩ thì chôm kết quả khoa học từ đâu đó bên Mỹ rồi đưa vào luận án riêng. Sinh viên thì sao chép, có khi cả bài (!), từ "tư liệu" nào đó để thực hiện bài kiểm tra...
Tình hình loạn đến mức một nghiên cứu từ Đại học Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc) do Giáo sư Trầm Dương (Shen Yang) thực hiện trong ba năm (công bố gần đây) cho thấy, gần 1 tỉ tệ đã được chi ra cho các bài viết khoa học trong năm 2009, gấp 5 kể từ năm 2007; rằng sinh viên đại học Trung Quốc đã bỏ ra đến nửa tỉ tệ (khoảng 73 triệu USD) mỗi năm để mướn người viết luận án thay.
Điều tra China Daily cho thấy, những sinh viên giỏi chuyên "hành nghề" trong "công nghiệp viết thuê" được trả công tính theo số trang với trung bình mỗi trang từ 130-160 tệ (luận án bằng tiếng Anh khoảng 200 tệ/trang). Theo lời một sinh viên - chuyên gia viết mướn, cậu có thể hoàn tất một luận án cử nhân chỉ trong 2 ngày. Với bằng thạc sĩ, giá viết thuê cho một luận án 20.000 từ là khoảng 4.500 tệ và được giao sau chừng một tháng "đặt hàng"...
Có không ít người thậm chí nổi tiếng nhờ bán chất xám cho công nghiệp viết thuê luận án. Lô Khắc Khiêm (Lu Keqian) là một ví dụ. Với chiếc laptop và ngồi trong buồng ngủ chật chội, tay cựu giáo viên trung học 58 tuổi này là chuyên gia viết luận án thuê cho giáo sư, sinh viên và viên chức nhà nước. Tóm lại là bất cứ ai sẵn lòng trả cho Lô lệ phí khoảng 300 tệ/bài...
Đầu năm 2009, Phó hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp An Huy bị phát hiện từng "đạo chích" cho 20 bài nghiên cứu (đương sự bị cách chức nhưng vẫn được phép giảng dạy). Tháng 6/2009, hiệu trưởng một trường đại học y ở Quảng Châu cũng bị buộc tội chôm chỉa ít nhất 40% trong luận án tiến sĩ.
Tháng 3/2010, China Youth Daily cho biết, một bài báo y khoa từng bị xào đi nấu lại trong suốt một thập niên qua! Ít nhất 25 người từ 16 tổ chức đã "sao y bản chính" bài báo trên... Tất cả điều đó cho thấy sự thật và mặt trái của "hiện tượng kỳ diệu" Trung Quốc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, và rằng tất cả con số hào nhoáng về "cú đại nhảy vọt" Trung Quốc trong thành tựu nghiên cứu khoa học đều rất đáng ngờ!
Như tác giả Stephen Wong thuật trên Asia Times, từ năm 2008, Trung Quốc đã qua mặt Mỹ trở thành quốc gia có nhiều tiến sĩ nhất thế giới. Theo Hội đồng Văn bằng Nhà nước Trung Quốc, chương trình đào tạo tiến sĩ đầu tiên tại nước này năm 1978 chỉ có 18 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Năm 1982, chỉ 6 trong 18 người trên là được cấp bằng tiến sĩ. Số người theo học chương trình tiến sĩ bắt đầu tăng khoảng 23,4%/năm kể từ năm 1982 đến nay (so với 15% sinh viên theo học thạc sĩ). Đến cuối năm 2007, Trung Quốc đã cấp bằng tiến sĩ cho 240.000 người (theo vị Giám đốc Hội đồng Văn bằng Nhà nước Trung Quốc, mỗi giáo sư tên tuổi phải giám sát trung bình 5,77 nghiên cứu sinh tiến sĩ, cao hơn rất nhiều chuẩn quốc tế).
Ai tiếp tay cho tham nhũng trong học thuật?
Tuy nhiên, chất lượng của không ít người lấy bằng tiến sĩ vào cái thời loạn tiến sĩ và tiến sĩ "theo phong trào" mới là điều cần bàn. Chẳng phải tự nhiên mà hơn 10 vị giáo sư An Huy đã cùng ký tên trong lá thư vào tháng 6/2010, gửi lên Bộ Giáo dục Trung Quốc, hỏi rằng tại sao hệ thống giáo dục quốc gia "ưu việt" như thế mà không thể "xuất xưởng" những nhà khoa học và học giả đẳng cấp thế giới. Đó cũng là câu hỏi từng được đặt ra lâu nay (nhưng chẳng ai đủ tư cách trả lời) của nhà khoa học Tiền Học Sâm (Qian Xuesen; cha đẻ công nghiệp hàng không Trung Quốc), cho đến khi ông mất vào tháng 10/2009.
Một phần câu trả lời có thể được tìm thấy ở cơ chế giáo dục và chính trị. Về cơ chế chính trị, bởi yêu cầu được đưa "từ trên" xuống là "nâng cao trình độ" viên chức nhà nước, nhiều vị công bộc của dân bắt đầu thi nhau "phổ cập" bằng tiến sĩ (trong khi họ chẳng hề hiểu rằng bằng tiến sĩ chỉ là sự công nhận thành quả cho công trình nghiên cứu chuyên ngành hẹp nào đó chứ tiến sĩ không hề là người "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý" và càng chẳng dính líu gì đến lĩnh vực quản trị hành chính vốn là kỹ năng chuyên biệt của "giới công bộc").
Nhờ uy quyền và cả tiền, họ được "du di" trong việc học và hậu quả là tấm bằng tiến sĩ của họ chỉ có giá trị như một bằng chứng của sự... tham nhũng trong học thuật! Đó là chưa kể mối quan hệ đặc biệt giữa giới chính trị và giới lãnh đạo đại học mà nhiều người trong số này vốn trước kia lại là viên chức nhà nước.
Một khảo sát từ Trung Kinh cho biết có khoảng 1/2 viên chức cấp cao và đảng viên tại địa phận này, từ cấp quận đến cấp thành, đều từng làm luận án tiến sĩ. Nói cách khác, chính cái cơ chế chỉ được thăng chức một khi có bằng đại học trở lên (bằng càng cao thì cơ hội ngồi ghế to càng lớn) đã nảy sinh cái ung nhọt chạy bằng tiến sĩ bằng mọi giá.
Đó là lý do tại sao có không ít vị lấy được bằng tiến sĩ chỉ gần như sau một đêm! Thái Kế Minh (Cai Jiming), Giáo sư Đại học Thanh Hoa, đã phải thốt lên rằng: "Hầu hết bằng cấp của giới chức Nhà nước Trung Quốc đều rất đáng ngờ". Bằng chứng cho cái sự "đáng ngờ" có thể thấy nhan nhản.
Tháng 2/2008, khi tiến trình điều tra vụ án tham nhũng nhằm vào Vương Ích (Wang Yi) bắt đầu, người ta mới phát hiện thêm rằng nhân vật này, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát chứng khoán Trung Quốc và nguyên Phó chủ tịch Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, là một ông tiến sĩ kinh tế dỏm (tháng 4/2010, Vương bị xử tử hình, hoãn thi hành án 2 năm, tội nhận hối lộ gần 12 triệu tệ).
Dan Ben-Canaan, Giáo sư Israel hiện giảng dạy tại Đại học Hắc Long Giang, đã bổ sung một chi tiết đáng ngờ khác từ câu chuyện của chính mình (dẫn từ AP ngày 12/4/2010). Năm 2008, một đồng nghiệp đưa ông xem bài nghiên cứu của đương sự về vụ bắt cóc và giết chết một nhạc sĩ Do Thái ở Cáp Nhĩ Tân năm 1933 thời Nhật chiếm đóng. Vấn đề ở chỗ, đương sự đã chôm nghiên cứu tương tự của Dan Ben-Canaan mà chẳng hề biết rằng mình đang đứng trước mặt tác giả!
Về cơ chế giáo dục, người ta cũng thấy không ít kẽ hở (được biến thành cơ hội), giúp nạn chôm chỉa trong giới học thuật thêm lộng hành. Theo China Economic Review (3/2010), một khảo sát do Bộ Khoa học - kỹ thuật Trung Quốc thực hiện năm 2006 cho thấy khoảng 60% giáo sư Trung Quốc đều thừa nhận từng chôm chỉa ý tưởng hoặc từng trả tiền để được đăng bài nghiên cứu trên các chuyên san.
Tháng 8/2009, Chu Tổ Đức (Zhou Zude), Chủ tịch Đại học Kỹ thuật Vũ Hán và là ứng viên cho ghế hội viên Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (cơ quan khoa học uy tín nhất nước này), đã bị phanh phui vụ nộp luận cương khoa học lên một hội nghị quốc gia mà trong đó đương sự sao chép "nguyên con" (kể cả cách chia đoạn) từ một bài nghiên cứu của khoa học gia Chile Roberto Cardenas...
Cơ chế lương và cơ chế bổ nhiệm trong hệ thống giáo dục, căn cứ vào số bài báo khoa học và công trình nghiên cứu, chính là nguyên nhân khiến tình trạng ăn cắp vô sỉ trong học thuật trở nên bát nháo (tỉ lệ bài báo khoa học và công trình nghiên cứu cũng là "định chế" bắt buộc để được xếp hạng "uy tín đại học cấp quốc gia"). Tất cả đều là quái thai của "nền văn hóa chỉ tiêu" từng bám rễ vào đời sống Trung Quốc nhiều thập niên qua.
Lô Khắc Khiêm - chuyên gia viết thuê luận án nghiên cứu.
Trong bài viết đăng ngày 11/1/2010, China Daily đã mỉa mai khi viết rằng, nếu còn và sống ở Trung Quốc, Albert Einstein hẳn sẽ không thể là giáo sư bởi ông không có đủ số "quota" bài báo khoa học mà hệ thống giáo dục nước này quy định! Cần biết, tất cả ấn phẩm khoa học chuyên ngành tại Trung Quốc chỉ có thể đăng 2,84 triệu bài báo/năm trong khi có đến 11,8 triệu người luôn nóng lòng muốn bài nghiên cứu của mình được công bố để đạt chỉ tiêu (mới có thể được cấp bằng tiến sĩ, được phong hàm giáo sư hoặc được thăng chức).
Thế là người ta phải "chạy cửa sau", bằng cách chi tiền "trà nước" để bài báo của mình được lên trang chuyên san. Điều này khiến những nhà khoa học chân chính suốt ngày vùi đầu vào phòng thí nghiệm hoặc mò mẫm trên hàng đống tư liệu, nhưng không đủ giàu, gần như không thể công bố được công trình mình nghiên cứu.
Toàn cảnh, như nhận xét của Hồ Tinh Đẩu (Hu Xindou), Giáo sư tên tuổi thuộc Viện Kỹ thuật Bắc Kinh (Bắc Kinh Lý Công đại học), rằng "tham nhũng và gian lận rất phổ biến tại Trung Quốc, và (thế cho nên) tham nhũng và gian lận trong học thuật cũng chỉ phản ánh hiện thực xã hội Trung Quốc ngày nay".
Như tin được loan ngày 25/7/2010, Đại học Centenary (Mỹ) đã tuyên bố đóng cửa hệ thống trường vệ tinh của họ tại Trung Quốc và Đài Loan bởi tình trạng gian lận phổ biến trong giới sinh viên. Trường này còn mạnh tay hơn khi "tạm giam" bằng thạc sĩ đối với tất cả 400 sinh viên theo học chương trình thạc sĩ kinh thương thuộc hệ thống đào tạo Centenary đặt tại Bắc Kinh, Thượng Hải và Đài Loan.
Hậu quả nạn gian lận và man trá trong học thuật ở Trung Quốc tất nhiên không chỉ có thế. Cái mất lớn nhất đối với giáo dục Trung Quốc chính là hành vi tự bôi bẩn nền văn hóa vốn có bề dày được kính nể như là cái nôi phát kiến của lịch sử văn minh loài người.
Miếu Khổng Tử hiện được lập khắp nơi trên thế giới, như một cách quảng bá "thương hiệu Nho học" cùng bề dày truyền thống văn hóa Trung Hoa nhằm khoa trương cái gọi là "quyền lực mềm" trong thời đại toàn cầu, nhưng chắc cụ Khổng cũng buồn lòng khi chứng kiến bi kịch nhiễu nhương trong cái sự học bôi bác của hậu duệ ngày nay?

Mạnh Kim (tổng hợp)




Mối hận của Khổng Tử

Thiên hạ rộng lớn, vẫn có những con đường gọi là độc đạo. Vũ trụ mênh mông, vẫn để cho thánh nhân độc hành. Sướng một đời là kẻ tục nhân, hận nghìn thu là bậc cao sĩ. Thế mà gọi là tục nhân thì bị cho là mắng, gọi là cao sĩ thì lại bảo rằng khen. Có ai ngờ đạo lý lại sinh ra từ đạo tặc? Lừa một người thì khó, lừa cả thiên hạ xem chừng dễ như trở bàn tay. Việc gặp trên đường té ra không đến nỗi phải ôm hận, việc chứng kiến cả đời, té ra vẫn phải ôm hận nghìn thu. Vui đến tận cùng thì nét mặt hoảng hốt, buồn đến tận cùng thì thần thái tỉnh bơ. Ngu đến tận cùng lại chính là đang ở chỗ chân lý. Hiểu đến tận cùng lại chính là quay trở lại cái lúc ngu... Rốt cuộc thánh nhân cái gì cũng giống hệt mọi người, chỉ khác duy nhất chỗ tận cùng đó mà thôi. - Vẫn “Lời tựa” trong “Luận ngữ Tân thư”. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó:

Khổng Tử và các học trò trên đường sang nước Vệ, gặp một người đang cày ruộng, bèn sai học trò tới hỏi thăm đường. Người đi cày trỏ về phía Khổng Tử mà hỏi:
- Người đang ngồi kia là ai vậy?
Học trò đáp:
- Đó là thầy tôi.
Người đi cày bảo:
- Thiên hạ bây giờ lắm đạo, nhiều thầy. Trong nhà vừa mất trộm, ra ngõ gặp ngay một kẻ xưng là thầy thì còn gì chán hơn thế nữa. Ta hỏi thầy ngươi là ai mới được chứ?
Học trò đáp:
- Thầy tôi là Khổng Tử. Đạo của thầy tôi là đạo lý, không phải đạo tặc. Đạo ấy chẳng liên quan gì đến việc trộm cắp cả.
Người đi cày bảo:
- Thế tại sao cũng gọi là đạo? Chẳng phải cuộc đời bao giờ cũng chính là một vụ ăn cắp vĩ đại đó sao? Vì thế mới sinh ra đạo lý. Vậy mà bảo chẳng liên quan gì thì ai mà tin được. Cái ấy gọi là “đạo tặc khứ, đạo lý lai” (Đạo tặc vừa đi khỏi, đạo lý liền đến ngay). Hai thứ ấy cứ thay nhau trở qua trở lại mãi như thế. Khổng Tử thầy ngươi có phải là người đang tìm đường trở về cái chỗ ngu nhất hay không? Sao đến bây giờ mà vẫn còn mờ tối thế? Có mỗi một con đường (độc đạo). Lại có mỗi một người đi (độc hành). Thế mà còn phải hỏi!
Học trò trở lại thưa. Khổng Tử trầm ngâm một lát rồi than rằng:
- Đó là một bậc ẩn sĩ đấy. Dạy ta biết nghĩ là Cha, Mẹ. Dạy ta biết những điều ta nghĩ đã tới đạo hay chưa? chính là kẻ đi cày kia.
Thấy các học trò ngơ ngác có vẻ chưa hiểu. Khổng Tử nói tiếp:
- Chẳng phải các ngươi vì quá hăng hái nên lúc nào cũng sẵn sàng đi nhầm đường đó hay sao? Vì thế thỉnh thoảng mới cần phải dừng lại hỏi thăm. Giả sử hôm nay ta không nghe được những lời nói từ miệng người thợ cày kia thì có lẽ phải ôm hận không biết đến bao giờ.
Một hôm khác, Ngài cùng các học trò đi qua một làng nọ, gặp một bà mẹ đang ôm lấy anh con trai của mình mà gào khóc thảm thiết. Anh con trai mũ cao áo dài, hài vớ, cân đai nghiêm chỉnh, rõ ràng là một kẻ vừa học hành đỗ đạt, đang sắp sửa được bổ làm quan. Khổng Tử thấy vậy thì lấy làm lạ, bèn hỏi:
- Con bà có phải là người vừa đỗ cao đó không? Tôi biết, bà cũng như nhiều người khác, thấy con mình thi đỗ thì mừng quá đến nỗi phải phát khóc lên đó thôi. Song cớ sao lại ra chiều thảm thiết như vậy?
Bà lão nâng vạt áo gạt nước mắt, cay đắng trả lời:
- Nào có gì mà mừng với rỡ. Tôi chẳng qua một chữ bẻ đôi cũng không biết, nên mới phải cho con theo đòi trường ốc đấy thôi. Ngài là bậc thánh nhân, chắc ngài chẳng lạ gì cái sự giáo dục bây giờ. Trong trường, người ta toàn nhồi nhét vào bụng học trò những điều bịp bợm, dối trá, nhằm biến chúng thành những kẻ u mê, không biết phân biệt đâu là thực, đâu là giả nữa. Kết quả những hạng gọi là có học bây giờ nom thì sáng sủa, nghiêm trang đấy, song một nửa chữ của đạo lý làm người cũng không hiểu, chỉ biết suốt đời chạy theo danh lợi, tận tụy phục vụ cho cường quyền, trung thành tuyệt đối với cường quyền... mà thôi. Dạy học như thế thì có khác gì lừa bịp? Biết con mình bị lừa mà không làm thế nào được, thì hỏi còn nỗi đau nào lớn hơn? Nay nó thi đỗ, nghĩa là cái sự lừa ấy đã thành tựu rồi. Vì thế tôi đang đau khổ đấy chứ. Đâu có mừng rỡ gì.
Khổng Tử lại hỏi:
- Bà là người không biết chữ, sao lại biết chắc rằng con mình bị lừa?
Bà lão trả lời:
- Đã là một người mẹ thì không cần phải đọc sách mới biết con mình thay đổi theo chiều hướng nào. Huống chi bây giờ đang là thời đại của dối trá, dối trá ngự trị từ trên cao xuống thấp, dối trá tràn lan từ công sở, chợ búa, đến học đường... Xưa nay học làm người cốt ở học Kinh, Sử. Thế mà Kinh thì tôi nghe con tôi đọc ra rả, chỉ thấy duy nhất một thứ kinh giả cầy ở đâu ấy, hình như những chỗ khác người ta bỏ từ lâu rồi. Sử thì chỉ thấy nhai đi nhai lại một mẩu bé tí tẹo đã được thổi phồng, được tô son trát phấn, trùm lên cả ngàn năm sử sách của Ông Cha. Ngay cả văn chương cũng chỉ thấy học vẹt những thứ văn một chiều, ngợi ca sự giả dối, tàn nhẫn... Giáo dục như thế chẳng phải lừa mị thì là cái gì? Thậm chí có khác nào ăn cắp linh hồn của người ta rồi nhét những thứ đểu giả của mình vào? Học như thế thì dẫu có đỗ cao đến mấy, thực chất cũng chỉ là một thứ dở người, tiểu nhân mà thôi, chẳng bao giờ sống nổi cho ra cái giống người! Rồi thì họ bảo sao nghe vậy, rồi thì chỉ biết tham lam, đớn hèn... Dẫu họ có ngồi trên đầu, trên cổ đến muôn năm cũng chẳng hề nhận ra, có khi còn phải biết ơn họ nữa là khác...
Khổng Tử bảo:
- Thì chính những kẻ đó, vì muốn giữ mãi địa vị đè đầu cưỡi cổ thiên hạ của mình đến muôn năm (nguyên văn: “vạn tuế”), cho nên mới đẻ ra cái nền giáo dục ấy. Nay bà có đồng ý để cho con trai bà đi theo tôi để học lại đạo lý làm người chăng? Có điều sẽ không thể làm quan được mà thôi.
Nói rồi Ngài quay lại bảo các học trò:
- Giả sử hôm nay ta không được chứng kiến câu chuyện này, thì chẳng bao giờ ta biết được cái sự lừa bịp trong giáo dục nó lại ghê gớm đến thế. Bây giờ ta mới hiểu hết được câu nói của người thợ cày ngày trước. Thì ra cuộc đời quả là một vụ ăn cắp vĩ đại. Người ta đã ăn cắp vào đến tận linh hồn của mỗi con người. May mà thiên hạ vẫn còn có những bà mẹ không biết chữ như bà mẹ đây. Nếu không thì chẳng biết đến đời nào ta mới rửa được mối hận này?
Bà lão nghe nói, bấy giờ mới tỏ vẻ mừng rỡ. Bèn vái Khổng Tử ba vái mà dắt tay người con lại, trao cho Khổng Tử. Người con đó sau này trở thành một học trò nổi tiếng giỏi về văn chương của Ngài. Chính là thầy Tử Hạ. Thầy họ Bốc, tên Thượng, người nước Vệ, nhỏ hơn Khổng Tử tới bốn mươi tư tuổi. Tử Hạ về sau quả nhiên suốt đời không làm quan, chỉ mở trường dạy đạo lý và thỉnh thoảng viết sách mà thôi. Câu chuyện trên chính là được rút ra từ trong sách của Thầy.
Lại một hôm khác, Khổng Tử cùng các học trò đi qua một bến đò. Thấy một người ngồi lủi thủi trên bờ, nét mặt buồn bã, đang ném những viên sỏi xuống dòng sông. Khổng Tử bèn tới gần hỏi:
- Có điều gì mà người buồn bã vậy?
Người kia không ngẩng mặt lên, chỉ buông một câu nhát gừng:
- Tôi đang cô đơn.
Khổng Tử bảo:
- Thời buổi đảo điên như thế này mà cô đơn thì cũng không có gì lạ. Song cô đơn mà còn biết buồn thì chẳng qua chỉ là cái cô đơn tạm thời, cô đơn trong chốc lát mà thôi. Cô đơn mà không còn biết buồn là gì nữa mới là sự cô đơn vĩnh cửu.
Nói xong dắt học trò đi thẳng. Duy có Nhan Hồi còn cố nán lại hỏi han, biên rõ tên họ, quê quán người ấy lại rồi mới đuổi theo thầy.
Mấy năm sau, thầy trò lại có dịp qua bến đò ấy. Nhớ lại chuyện xưa, Nhan Hồi lân la hỏi thăm thì được biết người kia quả đã tìm được bạn tri kỉ, không còn cô đơn nữa rồi. Họ Nhan phục quá, bèn hỏi Khổng Tử:
- Năm xưa, làm sao thầy biết kẻ ấy chẳng qua chỉ cô đơn tạm thời mà thôi?
Khổng Tử trả lời:
- Lòng người nghĩ mà chưa tới thì thôi. Một khi nghĩ mà đã tới thì có khác gì vũ trụ thu nhỏ (nguyên văn: “tâm đắc tiểu vũ trụ”). Khi ấy linh tính lúc nào cũng tràn ngập cả trời đất. Còn cảm thấy buồn nghĩa là vẫn có người tri kỉ ở đâu đó trong đời, có điều chưa đến lúc gặp đấy mà thôi. Nhưng cô đơn mà cảm thấy lòng mình lạnh tanh, không còn biết buồn là gì nữa, thì thế gian quả không còn ai là người tri kỉ nữa rồi. Như thế mà chỉ cô đơn đến trọn kiếp thì vẫn còn là may đấy. Việc này ta đã chứng kiến cả cuộc đời rồi.
Nhân chuyện ấy, có mấy câu truyền lại trong đời như sau:
“Thiên hạ thùy nhân tri kỉ? Hận nhất dạ.
Thiên hạ vô nhân tri kỉ! Hận thiên thu.”
(Còn hỏi được) thiên hạ ai là người tri kỉ? thì (chỉ) hận một đêm. (Khi đã biết) thiên hạ không còn người tri kỉ nữa thì hận đến nghìn thu).
Đời sau có người hỏi: Vậy Khổng Tử có phải là người cô đơn không? Nếu là người cô đơn, thì cô đơn như thế nào?
Khổng Tử đúng là người cô đơn. Không những thế, đó là người cô đơn vĩnh cửu. Hiểu được lòng mình chỉ có thể là người tri kỉ. Song trên đời đã không có ai là kẻ như thế, thì mong gì có ở những đời sau. Vì thế rốt cuộc, Ngài vẫn phải ôm hận nghìn thu.


Phạm Lưu Vũ