Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.I
Tất cả những ước vọng nói trên, có thể được biểu tượng hóa trong một chữ: XUÂN.
Xuân ấy tất nhiên không phải là xuân của mùa màng, thời tiết. Nhưng một biểu tượng nếu không được cụ thể hóa, tức là thực hiện bằng hành động và lời nói cụ thể, thì mãi mãi nó chỉ là một ước vọng, không bao giờ nắm bắt được.
Và để đạt được một cái gì đó trong tương lai, ai cũng biết là người ta phải bắt đầu từ hiện tại. Không khởi sự từ bây giờ, từ hôm nay, thì ước vọng, thành quả, mục tiêu… của ngày mai, của tương lai, sẽ không bao giờ có được. Thế nhưng, nhân loại trong mấy ngàn năm qua cứ loay hoay, lẩn quẩn mãi ở chỗ khởi đầu, chứ không tiến về hướng mục tiêu để đạt ước vọng như mong đợi. Nghĩa là cứ mơ ước một cái gì tốt đẹp ở tương lai, mà lại cất bước một cách sai lệch, thiên kiến, mù quáng nơi hiện tại. Quả đẹp thì muốn nhưng nhân tốt lại không gieo, hoặc chỉ biết gieo nhân xấu. Muốn hòa bình mà cứ khai binh, khai hỏa bằng những đạo quân nhân danh lý tưởng (hay ảo tưởng? hoang tưởng?) của lãnh tụ nọ, của thần linh kia; muốn hòa hợp mà cứ khai khẩu, khai ngữ bằng lời châm chọc, chửi bới đối phương; muốn tự do dân chủ mà cứ tước đoạt tự do dân chủ của kẻ khác; muốn hòa đồng (các tôn giáo) mà cứ luôn cho đạo của mình là tốt nhất, đạo kia là tệ nhất… Ai cũng cho lý tưởng, mục tiêu, tôn giáo, đoàn thể, đảng phái… của mình là trên hết, sẵn sàng bịt miệng, thậm chí giết hại kẻ khác chỉ vì họ không giống mình, hoặc đã có lời lẽ xúc phạm cá nhân hay tập thể của mình. Như vậy thì làm sao có được mùa xuân thực sự an vui, hòa bình, thịnh vượng cho cá nhân, gia đình, xã hội, đất nước, hay cho toàn thế giới!
Không cần phải chờ đến ngày đầu năm mới khai bút, khai thị, khai giảng, khai trương… để có một mùa xuân an vui và một năm đầy hứa hẹn. Mỗi người chúng ta hãy ngồi xuống trong phút giây này, lặng yên, dừng hết mọi xung động của ý nghĩ, lời nói, hành động; tâm thật lắng đọng, không còn lăng xăng tính toán, sợ hãi, âu lo; không còn những tham lam, thù hận, ganh ghét, nghi kỵ…; không còn những phân biệt, đối đãi thiên vị thân/sơ; không còn biên giới quốc gia, không còn ngăn cách màu da, chủng tộc, ý thức hệ, tôn giáo… Trong giây phút ấy, một nỗi gì, như là niềm thương, mở ra, lan tỏa đến vô cùng. Dù trên thế gian này có xuất hiện hay không các bậc thần linh, các bậc giáo chủ, các vị lãnh đạo các tôn giáo, chính quyền, đảng phái (minh triết hay phàm phu), thì tấm lòng ấy, niềm thương ấy, vẫn hiện hữu, vẫn luôn ở đây, nơi này.
Tâm như hoa, nở ra cho thơm đẹp cuộc đời. Tâm như hư không, mở ra để dung chứa tất cả, để ôm lấy tất cả những phiền muộn, khổ đau của thế gian—tất cả cùng lúc tan biến vào cõi lòng vô tận này.
Mỗi người khai tâm như thế, ở từng giây phút hiện tại, thì ước vọng của chúng ta, mùa xuân của chúng ta, hiển hiện miên trường.
Vĩnh Hảo
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015
CẢ ĐỜI TÔI TÌM CHÚA
Tôi vốn không thích viết về tôi, một cái tôi đáng ghét. Đã có nhiều độc giả từng đặt ra những câu hỏi, thắc mắc, đúng hơn là những ức đoán có mục đích dèm pha về đời sống cá nhân, gia đình, và nội tâm của con người tôi. Nhưng tôi vẫn giữ im lặng, chẳng cần phải thanh minh hay biện giải. Bởi lẽ, những dèm pha đó không liên quan đến những gì tôi đã viết. Nhưng nay nghĩ lại, có lẽ mình cũng nên chia sẻ với các độc giả về lý do tại sao tôi không còn tin về sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng.
Đã có nhiều tác giả ngoại quốc viết về đề tài này, bao gồm Bertrand Russell với bài Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Ki-tô Giáo; [1] hoặc Robert Ingersoll, Tại Sao Tôi Là Người Không Tin. [2] Do vậy, ở bài viết này, tôi sẽ không đề cập chi tiết về các luận chứng của họ để dành chỗ cho những điều riêng tư, những điều mà tôi đã từng trải nghiệm, kinh qua, để rồi mãi tới ngày hôm nay mới dám khẳng định công khai điều mình đang cảm nhận. Đây là kết quả của một cuộc tìm kiếm suốt cả đời người.
Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày lý do tại sao tôi không còn tin có Chúa qua các tiểu mục sau:
· Tất cả chỉ tại một chữ duyên
· Thượng đế nào?
· Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
· Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
· Kết luận
Tất cả chỉ tại một chữ duyên
Tôi đã dành trọn cả cuộc đời tôi để đi tìm bằng chứng và dấu vết về sự tồn tại của một thượng đế mà người Công Giáo gọi là Thiên Chúa. Mới chừng 11 tuổi đầu (hè 1965), tôi gia nhập Tiểu Chủng Viện Sao Biển thuộc giáo phận Nha Trang để học làm linh mục, theo gót chân của anh tôi. Sau sáu năm, tôi dời bỏ đời sống tu trì, hăng say nhập vào cuộc đời khi gần 17 tuổi (cuối năm 1970). Mặc dù vậy, thắc mắc về sự tồn tại của Thiên Chúa luôn luôn cứ theo bám, luẩn quẩn trong tâm trí tôi. Đến khi đã trưởng thành, học xong bậc đại học, tôi vẫn còn hăng say tích cực hoạt động tông đồ ở một xứ đạo VN bên Hoa Kỳ. Tôi đã là thành viên của hội Cursillo, thư ký của nhóm Linh Thao, sáng lập viên tờ Đồng Hành, và là giảng viên Giáo Lý lớp 12 cho các em học sinh VN của cộng đoàn Các Thánh Tử Đạo VN, New Orleans, Louisiana. Ở tuổi gần 40, sau khi đã có gia đình và bốn thằng con trai, tôi còn là giáo viên dạy Việt Ngữ, ủy viên Công Giáo Tiến Hành, và thừa tác viên Thánh Thể cùng với các linh mục cho giáo dân rước mình thánh Chúa trong những ngày lễ cuối tuần ở cộng đoàn Chúa Cứu Thế, Long Beach, California.
Tôi cũng đã từng trải nghiệm những giây phút sảng khoái, xúc động khi cầu nguyện với Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria, tưởng như được Chúa và Mẹ yêu thương cách riêng đến nỗi nhiều khi rơi rớt đôi dòng lệ. Nhưng tôi cũng đã có những giây phút yếu đuối, ngã lòng, nghi ngờ, tự hỏi không biết có Chúa thực, hay tất cả đơn thuần chỉ là một thứ cảm xúc tự nhiên do trí óc tưởng tượng của con người. Và tôi cũng đã cầu xin Chúa cho tôi một dấu chỉ, một tín hiệu để tôi biết Ngài đang hiện diện. Nhưng tất cả chỉ là sự im lặng tuyệt đối, trống vắng, từ tháng này qua tháng khác, từ năm kia sang năm nọ, suốt cả cuộc đời này.
Nếu cuộc đời cứ trôi nổi mãi như vậy thì tôi đã không phải là tôi như ngày hôm nay, nghĩa là tôi vẫn cứ vô tư, thoải mái tin và làm những gì đã được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời.
Cái cơ duyên bất ngờ đã đến khi tôi có dịp đọc cuốn Hành Hương Đất Phật của tác giả Phan Thiết, tức cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh. Đây là một cuốn sách viết về Phật Giáo bởi một tín đồ Thiên Chúa Giáo, có mục đích xuyên tạc và dèm pha Phật Giáo. Nhưng chính cuốn sách đó là cuốn tôi đã đọc say mê lần đầu tiên trong đời về Phật ở cái tuổi ngoài 40
Bởi lẽ, là một người Công Giáo theo đạo dòng, được rửa tội từ khi mới vài tuần tuổi, tôi luôn luôn xem Bụt và tất cả các thần linh của các tôn giáo khác là ma quỷ, mê tín dị đoan. Tôi cầu nguyện đêm ngày, xin Chúa giữ gìn, tránh xa mọi dịp cám dỗ để khỏi bị sa ngã. Khi mới qua Hoa Kỳ, có lần hai ông mục sư Mỹ gõ cửa nhà tôi để dụ đạo. Tôi đã mời họ vào để nghe họ giảng đạo và xin một ít sách báo để tìm hiểu thêm về Tin Lành, nhưng đã bị cha mẹ tôi la rầy, không muốn tôi tiếp xúc với họ nữa. Và tôi đã vâng lời cha mẹ tôi một cách miễn cưỡng.
Nhưng ngày nay, vì công ăn việc làm, tôi phải sống lẻ loi nơi một thành phố xa lạ, hoàn toàn tách biệt khỏi cha mẹ, anh em, họ hàng, bà con lối xóm, và các bạn bè đồng đạo. Bằng tư duy và nhận thức độc lập, chính bài Vô Tự Chân Kinh đã giúp tôi quyết định tự tìm hiểu thêm về các tôn giáo khác khi đã ở cái tuổi quá nửa đời người. Lời kệ của Đức Thế Tôn được ghi lại trong kinh Tăng Nhất Tập chứa đựng một chân lý mà cho đến nay không một ai có thể phản bác ở bất cứ điểm nào:
Đừng tin điều gì do kinh sách.
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền.
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại.
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân.
Đừng tin điều gì do người ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói.
Đừng tin điều gì vì uy tín của thày dạy.
Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác.
Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con, và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.” [3]
Tôi tự hỏi, nếu ý tưởng của bài kinh kệ đó đích thực là chân lý thì tại sao ở ngoài cái tuổi tri thiên mệnh này tôi vẫn không thể tự tạo cho mình một hướng đi? Cứ nhắm mắt tin và làm theo những gì được dạy dỗ chỉ vì đức vâng lời thì rõ ràng đó là một thái độ hành xử vong thân, vong bản vì đối nghịch với bản chất đích thực của con người vốn có lý trí và ý chí tự do. Tôi phải là tôi, chứ không cần phải là một người nào khác mà tôi muốn bắt chước. Tôi muốn mình là một con người có đầy đủ nhân vị, không phải một con chiên, càng không phải một ông thánh. Và nếu có muốn bắt chước thì cũng phải từ một quyết định tự do cá nhân, chẳng phải quyết định áp đặt của bất cứ ai. Tôi sống cuộc đời của tôi với tinh thần trách nhiệm, an nhiên tự tại, không phải cuộc đời của thiên hạ.
Chỉ một câu kinh Phật đã làm thay đổi toàn vẹn cách lối tư duy và nhận thức của một tín đồ Công Giáo đạo dòng. Thay vì cứ “nhắm mắt tin” vì đó là lời Chúa thì bây giờ tôi chỉ“tin vào điều đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho mình và cho kẻ khác”. Tất cả hoàn toàn đều do một chữ duyên.
Thượng đế nào?
Có một lỗi lầm rất căn bản mà chúng ta thường vấp phạm là không xác định được thượng đế nào khi bàn về thượng đế, bởi vì có đủ thứ hầm bà lằng thượng đế. Từ khi có con người, mỗi bộ lạc, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những ông thượng đế khác nhau. Tôn giáo nào cũng khẳng định chỉ có thượng đế mình đang tôn thờ là chân thật nhất. Ngoài ra, tất cả các thượng đế khác hay thần linh của các tôn giáo khác đều là ma quỷ, mê tín dị đoan, sản phẩm của tưởng tượng. Mỗi tôn giáo đều có những niềm tin đặc thù, nhiều khi còn mâu thuẫn, đối nghịch với nhau, không thể tất cả cùng đúng. Vẽ người mới khó, chứ vẽ ma quỷ thì dễ vẽ vô cùng!
Vậy thượng đế mà tôi đã bỏ cả cuộc đời để tìm kiếm là ông thượng đế nào? Có phải Ngài là một hữu thể sáng tạo, luôn luôn quan tâm và lo lắng cho đời sống của con người trần gian như Thiên Chúa của Độc Thần Giáo; hay đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người đã một thời được dân gian thờ cúng như các thần linh trong Phiếm Thần; hay Ngài chỉ là cái nguyên nhân đầu tiên khởi động vũ trụ, rồi sau đó hoàn toàn lãnh đạm, không còn màng đến nó nữa, như một số khoa học gia một thời tin theo Tự Nhiên Thần Giáo, trước khi có sự khẳng định của nhà vật lý thắng giải Nobel, Stephen Hawking, về việc vũ trụ có thể tự sinh do chính các định luật của thiên nhiên?
Bởi vì tôi đã từng là một người Công Giáo nên chỉ muốn bàn về một thượng đế hữu ngã, có nhân tính (personal God) của Độc Thần Giáo, một thượng đế có đầy đủ hỉ nộ ái ố, đối nghịch với thượng đế vô ngã (impersonal god) được hiểu bàng bạc và mơ hồ trong Tự Nhiên Thần Giáo, Ấn Độ Giáo, và ngay cả trong Phật Giáo. Người Thiên Chúa Giáo gọi thượng đế là Thiên Chúa, và chỉ có một Chúa duy nhất, chủ ý bao gồm tất cả các thượng đế hay thần linh của các tôn giáo khác, kể cả ông trời trong dân gian VN còn được gọi là Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, Giê-su của Thiên Chúa Giáo là Thiên Chúa, nhưng Gia-vê của Do Thái Giáo và Allah của Hồi Giáo cũng vẫn là Thiên Chúa, mặc dù người Do Thái Giáo và Hồi Giáo không phải là người Thiên Chúa Giáo vì họ không tin Giê-su.
Như vậy, đối với người Thiên Chúa Giáo, nhân vật Giê-su, một người đàn ông sinh ra ở Do Thái cách nay hơn 2.000 năm, chính là Đức Ki-tô, cũng là Thiên Chúa, cũng là thượng đế, cũng là đấng sáng tạo trời đất và muôn loài, có những thuộc tính toàn năng, toàn hảo, toàn trí, toàn thiện, ở khắp mọi nơi, thường hay chăm lo và can thiệp tới những công việc của loài người qua các phép lạ như đã có bàn đầy dẫy trong hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước.
Người Công Giáo tin vào Thiên Chúa quan phòng bằng câu răn dạy rằng “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý của Thiên Chúa”. Khi tôi khôn lớn hơn và có thể suy nghĩ độc lập thì mới nhận ra tất cả chỉ là “thánh ý” của Vatican, một quốc gia ngoại tộc, có cơ cấu và tổ chức độc tài toàn trị nhất trong thế giới, và là thành viên của Liên Hiệp Quốc như bao các quốc gia độc lập khác.
Khi đọc các luận chứng mà các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo đã trưng ra, tất cả đều không thuyết phục đối với những người có đầu óc tìm hiểu theo phương pháp của khoa học. Các triết gia và khoa học gia đã trưng ra cho chúng ta thấy những ngụy biện nội tại, nằm ngay trong các luận chứng. Và đó chính là lý do tại sao Công Giáo muốn người tín hữu phải có niềm tin, được thăng hoa thành một đức hạnh lớn nhất trong mọi đức hạnh: ĐỨC TIN. Đó là một cái bẩy xập mà những người tín hữu đã tự nguyện nhắm mắt ngay từ khi mới chào đời thì không dễ gì còn có thể nhìn thấy.
Không có khoa học nào khuyến khích chúng ta tin những điều đối nghịch với lý lẽ, với những quan sát thông thường, và với các bằng chứng hiển nhiên trước mắt. Tính nghi ngờ, sự suy xét chín chắn, tìm hiểu có phê phán là phẩm hạnh cần thiết, được đòi hỏi trong tất cả các bộ môn khoa học, đối nghịch với đức tin của Công Giáo. Nếu không phải để cổ vũ cho những điều vô lý thì chẳng cần bịa ra đức tin. [4] Chỉ với mục đích bảo vệ và phát triển đạo Công Giáo, con người đã bị nhồi sọ bằng việc tự lừa dối chính mình, cứ nhắm mắt trước tất cả mọi bằng chứng hiển nhiên, đối nghịch, và chỉ tin vào một thẩm quyền của Hội “Thánh” hơn là khả năng phán đoán của chính họ, tất cả nằm ở lời Chúa dạy: “Phúc cho những ai không thấy mà tin!”
Thực ra, sự hiện hữu của Thiên Chúa chỉ là một giả định hoang tưởng mà chưa ai có thể chứng minh, một giả định có từ thời tiền sử, đối nghịch với các khám phá của khoa học.
Ngay ý niệm thượng đế đơn thuần như là nguyên nhân đầu tiên để khởi động vụ nỗ lớn (big bang) cũng đã bị khoa học loại bỏ; bởi vì vũ trụ này thì vô tận, đã có từ vô thủy vô chung, nghĩa là không có khởi đầu và chấm dứt nên không cần phải có nguyên nhân đầu tiên. Mang thượng đế để gán cho một nguyên nhân đầu tiên làm tác động vụ nỗ lớn đã trở nên dư thừa, không còn cần thiết nữa. Chỉ cần đơn giản đặt một câu hỏi “vậy ai sinh ra thượng đế” thì cũng đủ đánh đổ mọi luận chứng biện minh cho sự tồn tại của một thượng đế như là nguyên nhân đầu tiên.
Nhưng thượng đế của Thiên Chúa Giáo lại còn là một sinh vật rất yêu thương và chăm lo cho phúc lợi của con người. Nếu chúng ta dùng lý luận thuần lý của Parmenides, một triết gia cổ Hy lạp, thì cũng đủ đánh đổ sự tồn tại của Thiên Chúa, một thượng đế hữu ngã có đầy đủ nhân tính; bởi vì không thể có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Bởi vậy, khi nhìn thấy thế giới này tràn đầy mọi sự dữ, và sự dữ vẫn cứ xảy đến cho đủ mọi hạng người, kể cả những người đã bỏ cả cuộc đời để theo Chúa, Epicurus lý luận như sau từ mấy ngàn năm trước:
- Có phải Thiên Chúa rất muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không thể ?Vậy Thiên Chúa đâu phải là toàn năng.
- Có phải Thiên Chúa có thể ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không muốn? Vậy Thiên Chúa đâu có nhân từ và thương yêu con người.
- Có phải Thiên Chúa có thể và rất muốn ngăn ngừa sự dữ ? Vậy tại sao lại có sự dữ đầy dẫy ở trong thế gian này?
- Phải chăng Thiên Chúa không thể và cũng không muốn ngăn ngừa sự dữ? Thế thì tại sao cần phải tôn thờ Thiên Chúa?
Trong bài Không Thể Có Thượng Đế, tác giả Richard Dawkins cũng lập luận như sau:
“Có một sự thôi thúc để lập luận rằng mặc dù không cần thượng đế để giải thích sự tiến hóa của một trật tự phức tạp một khi vũ trụ đã khởi động với những định luật vật lý căn bản của nó, chúng ta vẫn cần đến một thượng đế để giải thích nguồn gốc của mọi sự vật. Ý tưởng này không có dành cho thượng đế làm nhiều điều: chỉ việc tạo ra vụ nổ lớn rồi ngồi đó và chờ đợi mọi sự sẽ xảy ra. Nhà vật lý và hóa học Peter Atkins, trong cuốn sách viết rất tuyệt của ông, Sự Sáng Tạo, quy định một thượng đế lười biếng đã làm việc ít nhất có thể để khởi sự đủ mọi thứ. Atkins giải thích từng bước của lịch sử vũ trụ tiếp nối nhau bằng định luật vật lý đơn giản. Như vậy, ông đã xén dần số lượng việc làm mà một thượng đế lười biếng cần làm và cuối cùng kết luận rằng, thực vậy, thượng đế chẳng cần để làm bất cứ một điều gì.” [5]
Bởi vì Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo thuộc nhóm Độc Thần Giáo đều đã được xây dựng trên nền tảng của một giả định hoang tưởng nên những cố gắng chứng minh của họ đã hoàn toàn thất bại đối với dòng tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Bởi đó, họ mới phải viện dẫn đến đức tin như một cái bẩy xập để nô lệ hóa tâm linh con người. Và cái bẩy xập này hiện đang được họ bảo vệ rất chặt chẽ, có hệ thống. Ai dám đụng chạm, phỉ báng niềm tin của họ thì chỉ có tội chết. Những bạo động của họ được tôn giáo phong thánh. Cây gậy và củ cà rốt - hình phạt hỏa ngục hay phần thưởng thiên đàng - luôn luôn là nỗi ám ảnh và động cơ khích lệ cho những điều gian ác, nhân danh việc bảo vệ tôn giáo. Chỉ cần gọi tên đúng hoặc sai cái ông thượng đế tưởng tượng kia là Ki-tô, hay Allah, hay Gia-vê, hay Giê-su, cũng đủ đưa đến kết quả hoặc thiên đường hay địa ngục, làm phân chia ranh giới giữa con người, làm động cơ cho những đối xử tàn ác, không khoan nhượng với những kẻ không cùng niềm tin như họ, những kẻ mà họ vẫn hằng ngày khinh thường gọi là quân man di, mọi rợ, dị giáo, vô đạo, kẻ thù, sa-tan, hoặc quân vô thần.
Trong tất cả mọi lĩnh vực, ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề là chuyện bình thường hằng ngày ở huyện. Nhưng riêng ở trong lĩnh vực tôn giáo, chỉ cần khác nhau một niềm tin thì cũng đủ có thể biến bạn thành thù. Và tôi cũng đã từng trải nghiệm những người bạn một thời rất thân thương hiện đang xem tôi như một kẻ tử thù. Tất cả chỉ tại vì chúng tôi không còn có cùng một niềm tin tôn giáo.
Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
Tôi là một kỹ sư cơ khí, chuyên về ngành kỹ nghệ không gian, hiện đang còn làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ. Một trong các công việc chính yếu nhất của tôi là làm những cuộc điều tra để xác định nguyên nhân một bộ phận của máy bay bị hư hại trước thời hạn để từ đó đưa ra những đề nghị: hoặc có nên tiếp tục sửa chữa bộ phận theo cách thức đang có sẳn, hoặc công ty đang cung cấp có nên thay đổi thiết kế của bộ phận, hoặc có nên thay thế toàn bộ phận đó bằng một bộ phận khác của một công ty khác, hoặc có nên làm một thiết kế hoàn toàn mới khác. Tôi đã từng viết cả trăm bản tường trình đúc kết các cuộc điều tra (final engineering investigation report). Dĩ nhiên, một bản tường trình đúc kết như vậy luôn luôn là kết quả cộng tác của nhiều chuyên viên khác trong các ngành chuyên biệt, và còn từ cả nhiều công ty có liên hệ. Và tôi cũng đã từng đọc hằng trăm bản tường trình đúc kết khác của các đồng nghiệp. Có những cuộc điều tra rất đơn giản, chỉ liên quan đến một bộ phận không quan trọng, cho dù hư cũng chẳng gây hệ quả gì nghiêm trọng khi máy bay đang bay. Nhưng cũng đã có nhiều cuộc điều tra liên quan đến các bộ phận tối quan trọng (critical safety item), làm rớt máy bay, gây tử vong cho nhiều người, ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Khi làm công việc khoa học kỹ thuật này từ mấy chục năm nay, tôi đã nhận ra một điều rất đáng để suy nghĩ, là chưa bao giờ tôi thấy một kỹ sư đồng nghiệp nào đã khẳng định, hoặc cho dù chỉ suy đoán, rằng nguyên nhân chính yếu (root cause) làm rớt máy bay có nguồn gốc siêu tự nhiên. Nếu có một vị kỹ sư nào viết như vậy thì rõ ràng đó là một sự điên khùng có một không hai, một trò hề ngoài sức tưởng tượng.
Trong tất cả các phương trình khoa học, tuyệt đối không có yếu tố siêu nhiên để giải thích các hiện tượng. Tất cả mọi sự xảy ra trong vũ trụ này đều có nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, Einstein, một nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, đã phát biểu rằng:
"Nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác, có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo cách thức khác.”
Thí dụ về chiếc máy bay dân sự Boeing 777-200ER của hãng hàng không Mã Lai, chuyến bay MH370, đã mất tích vào ngày 8 tháng 3 năm 2014 mà cho đến nay vẫn chưa tìm thấy dấu vết. Nếu chúng ta đem vào bất cứ một hữu thể thiêng liêng nào để giải thích một biến cố mà hiện nay khoa học chưa giải thích được, như là ý Chúa nhiệm mầu để giết chết tất cả 239 hành khách, thì rất ư là khôi hài, tàn nhẫn, độc ác, vô tâm, vô cảm, vô đạo, chắc chắn chẳng một ai tin. Có phải vì đó là ý Chúa thì chúng ta nên ngừng ngay mọi cố gắng tìm kiếm? Và những thiên tai, thảm họa không phải do con người như các trận động đất, núi lửa, sóng thần, mưa bão, lụt lội, và các bệnh dịch Si-đa, Ebola… thì sao? Có phải đó cũng là ý Chúa? Nếu “mọi sự đều do thánh ý Chúa, kể cả một sợi tóc trên đầu rụng xuống”, nghĩa là Thiên Chúa toàn năng có ý định muốn các biến cố đó phải xảy ra, thì chúng ta, những loài thụ tạo, làm sao có thể cưỡng chống? Và những cố gắng của con người để giải cứu các nạn nhân có phải rõ rệt là đang chống lại ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa toàn năng?
Chúng ta vẫn thường được dạy “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người thế gian” (Cv 5, 29) cho dù cả cuộc đời chúng ta chưa từng nghe Chúa nói, ngoài những lời nói của Vatican tự phong cho mình quyền đại diện Thiên Chúa để có thể cầm buộc dưới đất cũng như trên trời. Những lời tuyên bố, răn dạy như “chiên ta thì phải nghe tiếng ta”, “bỏ Ngài thì con theo với ai?”, hoặc “thà mất nước chẳng thà mất Chúa”… thì cũng chỉ để “vâng lời trong tuân phục”một thế lực tôn giáo hoàn vũ đã từng phải xưng thú bảy núi tội lỗi đối với đồng loại. Khi bảo rằng "của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” thì có khác gì đem cả linh hồn và trí khôn giao nạp cho quốc gia ngoại tộc Vatican?
Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
Tôi đã cố gắng dành trọn cả cuộc đời này để đi tìm bằng chứng và dấu vết của Thiên Chúa, nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng, ngoài sự trống vắng, im lặng tuyệt đối. Từ đó, chỉ cần động não một chút, những câu hỏi và thắc mắc sau đây tự động tuôn ra trong đầu óc, nên xin được trình bày ở đây theo cách thức nghiêm túc của học thuật trí thức:
![]()
1. Tại sao Thiên Chúa cứ phải che giấu thân phận mình? Chẳng phải chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người để tỏ mình bằng xương bằng thịt cho thiên hạ thấy hay sao? Rồi có vô số phép lạ Chúa làm để tỏ mình đã được ghi chép trong các kinh sách Công Giáo. Không lẽ đó chẳng phải là ý Chúa muốn mọi người nhận biết Chúa là đấng thực hữu?
2. Nếu Chúa đã từng tỏ mình ở trong quá khứ thì tại sao không còn tỏ mình ở trong hiện tại, cái thời hậu hiện đại mà khoa học có thể nghiên cứu, điều tra tường tận để vạch trần được mọi sự gian dối?
3. Nhưng Thiên Chúa thì toàn năng, ở khắp mọi nơi, có thể làm được hết mọi sự, vậy tại sao ý muốn tỏ mình của một đấng Toàn Năng lại không thể thực hiện, cũng chẳng hiệu quả hơn gì ý muốn của các phàm nhân có rất nhiều giới hạn?
4. Còn nếu Thiên Chúa đã thay đổi ý định, không muốn con người nhận biết Ngài nên không còn tỏ mình nữa, thì tại sao Giáo Hội Công Giáo cứ làm trái ý của Thiên Chúa trong suốt hơn 2.000 năm qua bằng cách phí công sức và tiền của để rao giảng về Thiên Chúa, núp dưới mỹ từ là “đem tin mừng cứu rỗi muôn dân”?
5. Tại sao một đấng toàn năng, toàn trí như Thiên Chúa lại cần phải thay đổi ý định? Các phép lạ trong Công Giáo đang chứng minh bất khả phủ bác rằng Thiên Chúa đã phải thay đổi ý định nhiều lần chỉ vì lời van xin hay hối lộ của con người hèn mọn. Điều này thì hoàn toàn đối nghịch với tính toàn năng và toàn trí của Thiên Chúa.
6. Tất cả những điều vô lý đó không phải đã chứng minh rõ ràng Giáo Hội Công Giáo đã và đang làm công việc buôn thần bán thánh, những thứ giả mạo, không có thực, từ hơn 2.000 năm nay sao?
Tôi đã được dạy rằng Thiên Chúa thì phải như thế này, phải như thế nọ; nhưng khi đã khôn lớn, những điều đó tự động trở nên hiển nhiên phi lý, ngớ ngẫn, hoàn toàn không còn thuyết phục. Những gì các ông thần học chí chóe bàn về Thiên Chúa thì cũng giống y chang như những gì thiên hạ vẽ hưu vẽ vượn trong các chuyện tiểu thuyết hư cấu hay thần thoại hoang đường. Khi còn là một đứa con nít, tôi tin hoàn toàn những chuyện nhảm nhí đó, không bao giờ có một chút thắc mắc. Bây giờ đã trưởng thành với đầy đủ trí khôn rồi, tôi không còn tin chúng nữa.
Như vậy, có sự khác biệt gì giữa một đức tin tôn giáo và niềm tin mê tín dị đoan, ngoài việc đức tin tôn giáo thì được cổ vũ, hỗ trợ, tuyên truyền, nhồi sọ, và rao bán bởi một tổ chức tôn giáo có thế lực nhất hoàn vũ; trong khi niềm tin bị cho là mê tín thì không, ai tin cũng được, không tin cũng chẳng sao? Vậy đức tin trong bản chất đích thực thì hoàn toàn đồng nghĩa với các niềm tin mê tín dị đoan khác trong dân gian.
Kết luận.
Kết quả tìm kiếm suốt cả cuộc đời tôi về sự tồn tại của Thiên Chúa là một sự im lặng tuyệt đối, trống không. Đó chẳng phải là một điều lạ lùng gì! Những thắc mắc ở trên đã minh xác rằng Thiên Chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như các nhân vật trong các chuyện tiểu thuyết hay thần thoại hoang đường, không hơn không kém. Sự việc Chúa phải im lặng, che giấu thân phận, là chuyện đương nhiên, tất yếu, không thể khác được. Có sinh vật tưởng tượng nào mà chẳng phải tuyệt đối giữ im lặng?
Do đó, tôi có thể bảo đảm rằng nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện với bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên Chúa thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ họ như những điều chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.
Những luận chứng của các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào. Mặc dù vậy, trên đời này chẳng có ai đã trưởng thành còn tin vào sự hiện hữu của các sinh vật tưởng tượng trong tiểu thuyết thần thoại hoang đường, nhưng lại có vô số người tin có Thiên Chúa. Vậy đó chính là kết quả của một nền giáo dục và tuyên truyền nhồi sọ, không phải một tặng phẩm hay hồng ân do Chúa ban.
Các phép lạ, những biến cố vi phạm các định luật của khoa học, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong thực chất không thể đi đôi với khoa học. Thiên Chúa cũng giống như đôi nạng gỗ. Nếu ai phải cần cặp nạng đó để có thể đi đứng vững vàng thì xin cứ việc tự do, thoải mái sử dụng, nhưng đừng bao giờ mong muốn người khác cũng phải đi bằng đôi nạng gỗ như mình. Đối với những người còn dám sử dụng lý trí, họ vẫn cứ đi đứng thoải mái, vững vàng bằng chính đôi chân của họ mà chẳng cần cặp nạng gỗ. Và tôi tin chắc rằng chúng ta cũng có thể đi đứng như họ, nếu muốn.
Con người chúng ta đích thực là những con ếch ngồi dưới đáy giếng hoặc những thằng mù sờ chân voi nhưng lại thích bàn chuyện trên trời. Có một điều lạ lùng, vô lý và rất khôi hài là khi các nhà khoa học bàn chuyện trên trời thì chúng ta gọi họ là những thằng mù hay con ếch; nhưng khi những con ếch hay thằng mù ngồi ở đáy giếng tận bên Vatican bàn chuyện trên trời thì chúng ta lại gọi “đó là lời Chúa”.
Đứng trước những sự kiện bất khả phủ bác, các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo không thể phản biện được bất cứ điều gì, ngoài việc tiếp tục dèm pha, tấn công tư cách cá nhân của các tác giả. Họ thường kết án thiên hạ cái tội đánh phá tôn giáo. Nhưng thưa bạn, việc bảo vệ và phục vụ chân lý, hay bảo vệ và phục vụ tôn giáo, việc nào thì quan trọng, nên làm hơn? Hỏi tức là đã trả lời, bởi vì “chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta”. Tôn giáo chỉ là một trong muôn vàn con đường dẫn ta đến các chân lý, không phải tự nó đang là chân lý. Nó chỉ là phương tiện, không phải cùng đích của cuộc đời chúng ta mong tìm kiếm. Chắc chắn không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật, kể cả Công Giáo.
Riêng cá nhân tôi còn bị kết án thêm cái tội ăn cháo đá bát. Vậy tôi xin trích dẫn quan điểm của tác giả Robert Ingersollđể trả lời cho lời cáo buộc này. Ông được người đời tôn vinh là Người Không Tin Vĩ Đại (The Great Agnostic) vì đã khước từ những niềm tin của gia đình và tổ tiên sau khi ông đã trưởng thành. Trong bài Tại Sao Tôi Là Người Không Tin, ông biện giải như sau:
"Nếu chúng ta phải theo tôn giáo của cha mẹ chúng ta thì cha mẹ chúng ta cũng phải theo tôn giáo của họ. Như vậy thì đã không thể có sự tiến bộ trong lĩnh vực tư tưởng. Tôn giáo đầu tiên có lẽ đã là tôn giáo cuối cùng, và người con có lẽ đã chết trong sự ngu dốt như người mẹ. Sự tiến bộ có lẽ đã không có, và sự thông minh của nhân loại có lẽ đã bị hy sinh ở tại những ngôi mộ của các tổ tiên.” [2]
Vậy thưa bạn, cái tội đánh phá tôn giáo, hay cái tội đánh phá chân lý để làm cản trở sự tiến bộ tri thức của con người, tội nào là tội nặng hơn cả? Nếu tôi viết sai, xin bạn hãy chỉ ra cái sai nằm ở chỗ nào; còn nếu tôi viết đúng, tại sao lại kết án tôi?
Trần Tiên Long
Mùa lễ nghỉ Noel 2014
Đã có nhiều tác giả ngoại quốc viết về đề tài này, bao gồm Bertrand Russell với bài Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Ki-tô Giáo; [1] hoặc Robert Ingersoll, Tại Sao Tôi Là Người Không Tin. [2] Do vậy, ở bài viết này, tôi sẽ không đề cập chi tiết về các luận chứng của họ để dành chỗ cho những điều riêng tư, những điều mà tôi đã từng trải nghiệm, kinh qua, để rồi mãi tới ngày hôm nay mới dám khẳng định công khai điều mình đang cảm nhận. Đây là kết quả của một cuộc tìm kiếm suốt cả đời người.
Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày lý do tại sao tôi không còn tin có Chúa qua các tiểu mục sau:
· Tất cả chỉ tại một chữ duyên
· Thượng đế nào?
· Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
· Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
· Kết luận
Tất cả chỉ tại một chữ duyên
Tôi đã dành trọn cả cuộc đời tôi để đi tìm bằng chứng và dấu vết về sự tồn tại của một thượng đế mà người Công Giáo gọi là Thiên Chúa. Mới chừng 11 tuổi đầu (hè 1965), tôi gia nhập Tiểu Chủng Viện Sao Biển thuộc giáo phận Nha Trang để học làm linh mục, theo gót chân của anh tôi. Sau sáu năm, tôi dời bỏ đời sống tu trì, hăng say nhập vào cuộc đời khi gần 17 tuổi (cuối năm 1970). Mặc dù vậy, thắc mắc về sự tồn tại của Thiên Chúa luôn luôn cứ theo bám, luẩn quẩn trong tâm trí tôi. Đến khi đã trưởng thành, học xong bậc đại học, tôi vẫn còn hăng say tích cực hoạt động tông đồ ở một xứ đạo VN bên Hoa Kỳ. Tôi đã là thành viên của hội Cursillo, thư ký của nhóm Linh Thao, sáng lập viên tờ Đồng Hành, và là giảng viên Giáo Lý lớp 12 cho các em học sinh VN của cộng đoàn Các Thánh Tử Đạo VN, New Orleans, Louisiana. Ở tuổi gần 40, sau khi đã có gia đình và bốn thằng con trai, tôi còn là giáo viên dạy Việt Ngữ, ủy viên Công Giáo Tiến Hành, và thừa tác viên Thánh Thể cùng với các linh mục cho giáo dân rước mình thánh Chúa trong những ngày lễ cuối tuần ở cộng đoàn Chúa Cứu Thế, Long Beach, California.
Tôi cũng đã từng trải nghiệm những giây phút sảng khoái, xúc động khi cầu nguyện với Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria, tưởng như được Chúa và Mẹ yêu thương cách riêng đến nỗi nhiều khi rơi rớt đôi dòng lệ. Nhưng tôi cũng đã có những giây phút yếu đuối, ngã lòng, nghi ngờ, tự hỏi không biết có Chúa thực, hay tất cả đơn thuần chỉ là một thứ cảm xúc tự nhiên do trí óc tưởng tượng của con người. Và tôi cũng đã cầu xin Chúa cho tôi một dấu chỉ, một tín hiệu để tôi biết Ngài đang hiện diện. Nhưng tất cả chỉ là sự im lặng tuyệt đối, trống vắng, từ tháng này qua tháng khác, từ năm kia sang năm nọ, suốt cả cuộc đời này.
Nếu cuộc đời cứ trôi nổi mãi như vậy thì tôi đã không phải là tôi như ngày hôm nay, nghĩa là tôi vẫn cứ vô tư, thoải mái tin và làm những gì đã được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời.
Cái cơ duyên bất ngờ đã đến khi tôi có dịp đọc cuốn Hành Hương Đất Phật của tác giả Phan Thiết, tức cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh. Đây là một cuốn sách viết về Phật Giáo bởi một tín đồ Thiên Chúa Giáo, có mục đích xuyên tạc và dèm pha Phật Giáo. Nhưng chính cuốn sách đó là cuốn tôi đã đọc say mê lần đầu tiên trong đời về Phật ở cái tuổi ngoài 40
Bởi lẽ, là một người Công Giáo theo đạo dòng, được rửa tội từ khi mới vài tuần tuổi, tôi luôn luôn xem Bụt và tất cả các thần linh của các tôn giáo khác là ma quỷ, mê tín dị đoan. Tôi cầu nguyện đêm ngày, xin Chúa giữ gìn, tránh xa mọi dịp cám dỗ để khỏi bị sa ngã. Khi mới qua Hoa Kỳ, có lần hai ông mục sư Mỹ gõ cửa nhà tôi để dụ đạo. Tôi đã mời họ vào để nghe họ giảng đạo và xin một ít sách báo để tìm hiểu thêm về Tin Lành, nhưng đã bị cha mẹ tôi la rầy, không muốn tôi tiếp xúc với họ nữa. Và tôi đã vâng lời cha mẹ tôi một cách miễn cưỡng.
Nhưng ngày nay, vì công ăn việc làm, tôi phải sống lẻ loi nơi một thành phố xa lạ, hoàn toàn tách biệt khỏi cha mẹ, anh em, họ hàng, bà con lối xóm, và các bạn bè đồng đạo. Bằng tư duy và nhận thức độc lập, chính bài Vô Tự Chân Kinh đã giúp tôi quyết định tự tìm hiểu thêm về các tôn giáo khác khi đã ở cái tuổi quá nửa đời người. Lời kệ của Đức Thế Tôn được ghi lại trong kinh Tăng Nhất Tập chứa đựng một chân lý mà cho đến nay không một ai có thể phản bác ở bất cứ điểm nào:
Đừng tin điều gì do kinh sách.
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền.
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại.
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân.
Đừng tin điều gì do người ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói.
Đừng tin điều gì vì uy tín của thày dạy.
Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác.
Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con, và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.” [3]
Tôi tự hỏi, nếu ý tưởng của bài kinh kệ đó đích thực là chân lý thì tại sao ở ngoài cái tuổi tri thiên mệnh này tôi vẫn không thể tự tạo cho mình một hướng đi? Cứ nhắm mắt tin và làm theo những gì được dạy dỗ chỉ vì đức vâng lời thì rõ ràng đó là một thái độ hành xử vong thân, vong bản vì đối nghịch với bản chất đích thực của con người vốn có lý trí và ý chí tự do. Tôi phải là tôi, chứ không cần phải là một người nào khác mà tôi muốn bắt chước. Tôi muốn mình là một con người có đầy đủ nhân vị, không phải một con chiên, càng không phải một ông thánh. Và nếu có muốn bắt chước thì cũng phải từ một quyết định tự do cá nhân, chẳng phải quyết định áp đặt của bất cứ ai. Tôi sống cuộc đời của tôi với tinh thần trách nhiệm, an nhiên tự tại, không phải cuộc đời của thiên hạ.
Chỉ một câu kinh Phật đã làm thay đổi toàn vẹn cách lối tư duy và nhận thức của một tín đồ Công Giáo đạo dòng. Thay vì cứ “nhắm mắt tin” vì đó là lời Chúa thì bây giờ tôi chỉ“tin vào điều đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho mình và cho kẻ khác”. Tất cả hoàn toàn đều do một chữ duyên.
Thượng đế nào?
Có một lỗi lầm rất căn bản mà chúng ta thường vấp phạm là không xác định được thượng đế nào khi bàn về thượng đế, bởi vì có đủ thứ hầm bà lằng thượng đế. Từ khi có con người, mỗi bộ lạc, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những ông thượng đế khác nhau. Tôn giáo nào cũng khẳng định chỉ có thượng đế mình đang tôn thờ là chân thật nhất. Ngoài ra, tất cả các thượng đế khác hay thần linh của các tôn giáo khác đều là ma quỷ, mê tín dị đoan, sản phẩm của tưởng tượng. Mỗi tôn giáo đều có những niềm tin đặc thù, nhiều khi còn mâu thuẫn, đối nghịch với nhau, không thể tất cả cùng đúng. Vẽ người mới khó, chứ vẽ ma quỷ thì dễ vẽ vô cùng!
Vậy thượng đế mà tôi đã bỏ cả cuộc đời để tìm kiếm là ông thượng đế nào? Có phải Ngài là một hữu thể sáng tạo, luôn luôn quan tâm và lo lắng cho đời sống của con người trần gian như Thiên Chúa của Độc Thần Giáo; hay đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người đã một thời được dân gian thờ cúng như các thần linh trong Phiếm Thần; hay Ngài chỉ là cái nguyên nhân đầu tiên khởi động vũ trụ, rồi sau đó hoàn toàn lãnh đạm, không còn màng đến nó nữa, như một số khoa học gia một thời tin theo Tự Nhiên Thần Giáo, trước khi có sự khẳng định của nhà vật lý thắng giải Nobel, Stephen Hawking, về việc vũ trụ có thể tự sinh do chính các định luật của thiên nhiên?
Bởi vì tôi đã từng là một người Công Giáo nên chỉ muốn bàn về một thượng đế hữu ngã, có nhân tính (personal God) của Độc Thần Giáo, một thượng đế có đầy đủ hỉ nộ ái ố, đối nghịch với thượng đế vô ngã (impersonal god) được hiểu bàng bạc và mơ hồ trong Tự Nhiên Thần Giáo, Ấn Độ Giáo, và ngay cả trong Phật Giáo. Người Thiên Chúa Giáo gọi thượng đế là Thiên Chúa, và chỉ có một Chúa duy nhất, chủ ý bao gồm tất cả các thượng đế hay thần linh của các tôn giáo khác, kể cả ông trời trong dân gian VN còn được gọi là Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, Giê-su của Thiên Chúa Giáo là Thiên Chúa, nhưng Gia-vê của Do Thái Giáo và Allah của Hồi Giáo cũng vẫn là Thiên Chúa, mặc dù người Do Thái Giáo và Hồi Giáo không phải là người Thiên Chúa Giáo vì họ không tin Giê-su.
Như vậy, đối với người Thiên Chúa Giáo, nhân vật Giê-su, một người đàn ông sinh ra ở Do Thái cách nay hơn 2.000 năm, chính là Đức Ki-tô, cũng là Thiên Chúa, cũng là thượng đế, cũng là đấng sáng tạo trời đất và muôn loài, có những thuộc tính toàn năng, toàn hảo, toàn trí, toàn thiện, ở khắp mọi nơi, thường hay chăm lo và can thiệp tới những công việc của loài người qua các phép lạ như đã có bàn đầy dẫy trong hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước.
Người Công Giáo tin vào Thiên Chúa quan phòng bằng câu răn dạy rằng “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý của Thiên Chúa”. Khi tôi khôn lớn hơn và có thể suy nghĩ độc lập thì mới nhận ra tất cả chỉ là “thánh ý” của Vatican, một quốc gia ngoại tộc, có cơ cấu và tổ chức độc tài toàn trị nhất trong thế giới, và là thành viên của Liên Hiệp Quốc như bao các quốc gia độc lập khác.
Khi đọc các luận chứng mà các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo đã trưng ra, tất cả đều không thuyết phục đối với những người có đầu óc tìm hiểu theo phương pháp của khoa học. Các triết gia và khoa học gia đã trưng ra cho chúng ta thấy những ngụy biện nội tại, nằm ngay trong các luận chứng. Và đó chính là lý do tại sao Công Giáo muốn người tín hữu phải có niềm tin, được thăng hoa thành một đức hạnh lớn nhất trong mọi đức hạnh: ĐỨC TIN. Đó là một cái bẩy xập mà những người tín hữu đã tự nguyện nhắm mắt ngay từ khi mới chào đời thì không dễ gì còn có thể nhìn thấy.
Không có khoa học nào khuyến khích chúng ta tin những điều đối nghịch với lý lẽ, với những quan sát thông thường, và với các bằng chứng hiển nhiên trước mắt. Tính nghi ngờ, sự suy xét chín chắn, tìm hiểu có phê phán là phẩm hạnh cần thiết, được đòi hỏi trong tất cả các bộ môn khoa học, đối nghịch với đức tin của Công Giáo. Nếu không phải để cổ vũ cho những điều vô lý thì chẳng cần bịa ra đức tin. [4] Chỉ với mục đích bảo vệ và phát triển đạo Công Giáo, con người đã bị nhồi sọ bằng việc tự lừa dối chính mình, cứ nhắm mắt trước tất cả mọi bằng chứng hiển nhiên, đối nghịch, và chỉ tin vào một thẩm quyền của Hội “Thánh” hơn là khả năng phán đoán của chính họ, tất cả nằm ở lời Chúa dạy: “Phúc cho những ai không thấy mà tin!”
Thực ra, sự hiện hữu của Thiên Chúa chỉ là một giả định hoang tưởng mà chưa ai có thể chứng minh, một giả định có từ thời tiền sử, đối nghịch với các khám phá của khoa học.
Ngay ý niệm thượng đế đơn thuần như là nguyên nhân đầu tiên để khởi động vụ nỗ lớn (big bang) cũng đã bị khoa học loại bỏ; bởi vì vũ trụ này thì vô tận, đã có từ vô thủy vô chung, nghĩa là không có khởi đầu và chấm dứt nên không cần phải có nguyên nhân đầu tiên. Mang thượng đế để gán cho một nguyên nhân đầu tiên làm tác động vụ nỗ lớn đã trở nên dư thừa, không còn cần thiết nữa. Chỉ cần đơn giản đặt một câu hỏi “vậy ai sinh ra thượng đế” thì cũng đủ đánh đổ mọi luận chứng biện minh cho sự tồn tại của một thượng đế như là nguyên nhân đầu tiên.
Nhưng thượng đế của Thiên Chúa Giáo lại còn là một sinh vật rất yêu thương và chăm lo cho phúc lợi của con người. Nếu chúng ta dùng lý luận thuần lý của Parmenides, một triết gia cổ Hy lạp, thì cũng đủ đánh đổ sự tồn tại của Thiên Chúa, một thượng đế hữu ngã có đầy đủ nhân tính; bởi vì không thể có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Bởi vậy, khi nhìn thấy thế giới này tràn đầy mọi sự dữ, và sự dữ vẫn cứ xảy đến cho đủ mọi hạng người, kể cả những người đã bỏ cả cuộc đời để theo Chúa, Epicurus lý luận như sau từ mấy ngàn năm trước:
- Có phải Thiên Chúa rất muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không thể ?Vậy Thiên Chúa đâu phải là toàn năng.
- Có phải Thiên Chúa có thể ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không muốn? Vậy Thiên Chúa đâu có nhân từ và thương yêu con người.
- Có phải Thiên Chúa có thể và rất muốn ngăn ngừa sự dữ ? Vậy tại sao lại có sự dữ đầy dẫy ở trong thế gian này?
- Phải chăng Thiên Chúa không thể và cũng không muốn ngăn ngừa sự dữ? Thế thì tại sao cần phải tôn thờ Thiên Chúa?
Trong bài Không Thể Có Thượng Đế, tác giả Richard Dawkins cũng lập luận như sau:
“Có một sự thôi thúc để lập luận rằng mặc dù không cần thượng đế để giải thích sự tiến hóa của một trật tự phức tạp một khi vũ trụ đã khởi động với những định luật vật lý căn bản của nó, chúng ta vẫn cần đến một thượng đế để giải thích nguồn gốc của mọi sự vật. Ý tưởng này không có dành cho thượng đế làm nhiều điều: chỉ việc tạo ra vụ nổ lớn rồi ngồi đó và chờ đợi mọi sự sẽ xảy ra. Nhà vật lý và hóa học Peter Atkins, trong cuốn sách viết rất tuyệt của ông, Sự Sáng Tạo, quy định một thượng đế lười biếng đã làm việc ít nhất có thể để khởi sự đủ mọi thứ. Atkins giải thích từng bước của lịch sử vũ trụ tiếp nối nhau bằng định luật vật lý đơn giản. Như vậy, ông đã xén dần số lượng việc làm mà một thượng đế lười biếng cần làm và cuối cùng kết luận rằng, thực vậy, thượng đế chẳng cần để làm bất cứ một điều gì.” [5]
Bởi vì Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo thuộc nhóm Độc Thần Giáo đều đã được xây dựng trên nền tảng của một giả định hoang tưởng nên những cố gắng chứng minh của họ đã hoàn toàn thất bại đối với dòng tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Bởi đó, họ mới phải viện dẫn đến đức tin như một cái bẩy xập để nô lệ hóa tâm linh con người. Và cái bẩy xập này hiện đang được họ bảo vệ rất chặt chẽ, có hệ thống. Ai dám đụng chạm, phỉ báng niềm tin của họ thì chỉ có tội chết. Những bạo động của họ được tôn giáo phong thánh. Cây gậy và củ cà rốt - hình phạt hỏa ngục hay phần thưởng thiên đàng - luôn luôn là nỗi ám ảnh và động cơ khích lệ cho những điều gian ác, nhân danh việc bảo vệ tôn giáo. Chỉ cần gọi tên đúng hoặc sai cái ông thượng đế tưởng tượng kia là Ki-tô, hay Allah, hay Gia-vê, hay Giê-su, cũng đủ đưa đến kết quả hoặc thiên đường hay địa ngục, làm phân chia ranh giới giữa con người, làm động cơ cho những đối xử tàn ác, không khoan nhượng với những kẻ không cùng niềm tin như họ, những kẻ mà họ vẫn hằng ngày khinh thường gọi là quân man di, mọi rợ, dị giáo, vô đạo, kẻ thù, sa-tan, hoặc quân vô thần.
Trong tất cả mọi lĩnh vực, ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề là chuyện bình thường hằng ngày ở huyện. Nhưng riêng ở trong lĩnh vực tôn giáo, chỉ cần khác nhau một niềm tin thì cũng đủ có thể biến bạn thành thù. Và tôi cũng đã từng trải nghiệm những người bạn một thời rất thân thương hiện đang xem tôi như một kẻ tử thù. Tất cả chỉ tại vì chúng tôi không còn có cùng một niềm tin tôn giáo.
Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
Tôi là một kỹ sư cơ khí, chuyên về ngành kỹ nghệ không gian, hiện đang còn làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ. Một trong các công việc chính yếu nhất của tôi là làm những cuộc điều tra để xác định nguyên nhân một bộ phận của máy bay bị hư hại trước thời hạn để từ đó đưa ra những đề nghị: hoặc có nên tiếp tục sửa chữa bộ phận theo cách thức đang có sẳn, hoặc công ty đang cung cấp có nên thay đổi thiết kế của bộ phận, hoặc có nên thay thế toàn bộ phận đó bằng một bộ phận khác của một công ty khác, hoặc có nên làm một thiết kế hoàn toàn mới khác. Tôi đã từng viết cả trăm bản tường trình đúc kết các cuộc điều tra (final engineering investigation report). Dĩ nhiên, một bản tường trình đúc kết như vậy luôn luôn là kết quả cộng tác của nhiều chuyên viên khác trong các ngành chuyên biệt, và còn từ cả nhiều công ty có liên hệ. Và tôi cũng đã từng đọc hằng trăm bản tường trình đúc kết khác của các đồng nghiệp. Có những cuộc điều tra rất đơn giản, chỉ liên quan đến một bộ phận không quan trọng, cho dù hư cũng chẳng gây hệ quả gì nghiêm trọng khi máy bay đang bay. Nhưng cũng đã có nhiều cuộc điều tra liên quan đến các bộ phận tối quan trọng (critical safety item), làm rớt máy bay, gây tử vong cho nhiều người, ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Khi làm công việc khoa học kỹ thuật này từ mấy chục năm nay, tôi đã nhận ra một điều rất đáng để suy nghĩ, là chưa bao giờ tôi thấy một kỹ sư đồng nghiệp nào đã khẳng định, hoặc cho dù chỉ suy đoán, rằng nguyên nhân chính yếu (root cause) làm rớt máy bay có nguồn gốc siêu tự nhiên. Nếu có một vị kỹ sư nào viết như vậy thì rõ ràng đó là một sự điên khùng có một không hai, một trò hề ngoài sức tưởng tượng.
Trong tất cả các phương trình khoa học, tuyệt đối không có yếu tố siêu nhiên để giải thích các hiện tượng. Tất cả mọi sự xảy ra trong vũ trụ này đều có nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, Einstein, một nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, đã phát biểu rằng:
"Nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác, có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo cách thức khác.”
Thí dụ về chiếc máy bay dân sự Boeing 777-200ER của hãng hàng không Mã Lai, chuyến bay MH370, đã mất tích vào ngày 8 tháng 3 năm 2014 mà cho đến nay vẫn chưa tìm thấy dấu vết. Nếu chúng ta đem vào bất cứ một hữu thể thiêng liêng nào để giải thích một biến cố mà hiện nay khoa học chưa giải thích được, như là ý Chúa nhiệm mầu để giết chết tất cả 239 hành khách, thì rất ư là khôi hài, tàn nhẫn, độc ác, vô tâm, vô cảm, vô đạo, chắc chắn chẳng một ai tin. Có phải vì đó là ý Chúa thì chúng ta nên ngừng ngay mọi cố gắng tìm kiếm? Và những thiên tai, thảm họa không phải do con người như các trận động đất, núi lửa, sóng thần, mưa bão, lụt lội, và các bệnh dịch Si-đa, Ebola… thì sao? Có phải đó cũng là ý Chúa? Nếu “mọi sự đều do thánh ý Chúa, kể cả một sợi tóc trên đầu rụng xuống”, nghĩa là Thiên Chúa toàn năng có ý định muốn các biến cố đó phải xảy ra, thì chúng ta, những loài thụ tạo, làm sao có thể cưỡng chống? Và những cố gắng của con người để giải cứu các nạn nhân có phải rõ rệt là đang chống lại ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa toàn năng?
Chúng ta vẫn thường được dạy “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người thế gian” (Cv 5, 29) cho dù cả cuộc đời chúng ta chưa từng nghe Chúa nói, ngoài những lời nói của Vatican tự phong cho mình quyền đại diện Thiên Chúa để có thể cầm buộc dưới đất cũng như trên trời. Những lời tuyên bố, răn dạy như “chiên ta thì phải nghe tiếng ta”, “bỏ Ngài thì con theo với ai?”, hoặc “thà mất nước chẳng thà mất Chúa”… thì cũng chỉ để “vâng lời trong tuân phục”một thế lực tôn giáo hoàn vũ đã từng phải xưng thú bảy núi tội lỗi đối với đồng loại. Khi bảo rằng "của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” thì có khác gì đem cả linh hồn và trí khôn giao nạp cho quốc gia ngoại tộc Vatican?
Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
Tôi đã cố gắng dành trọn cả cuộc đời này để đi tìm bằng chứng và dấu vết của Thiên Chúa, nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng, ngoài sự trống vắng, im lặng tuyệt đối. Từ đó, chỉ cần động não một chút, những câu hỏi và thắc mắc sau đây tự động tuôn ra trong đầu óc, nên xin được trình bày ở đây theo cách thức nghiêm túc của học thuật trí thức:
1. Tại sao Thiên Chúa cứ phải che giấu thân phận mình? Chẳng phải chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người để tỏ mình bằng xương bằng thịt cho thiên hạ thấy hay sao? Rồi có vô số phép lạ Chúa làm để tỏ mình đã được ghi chép trong các kinh sách Công Giáo. Không lẽ đó chẳng phải là ý Chúa muốn mọi người nhận biết Chúa là đấng thực hữu?
2. Nếu Chúa đã từng tỏ mình ở trong quá khứ thì tại sao không còn tỏ mình ở trong hiện tại, cái thời hậu hiện đại mà khoa học có thể nghiên cứu, điều tra tường tận để vạch trần được mọi sự gian dối?
3. Nhưng Thiên Chúa thì toàn năng, ở khắp mọi nơi, có thể làm được hết mọi sự, vậy tại sao ý muốn tỏ mình của một đấng Toàn Năng lại không thể thực hiện, cũng chẳng hiệu quả hơn gì ý muốn của các phàm nhân có rất nhiều giới hạn?
4. Còn nếu Thiên Chúa đã thay đổi ý định, không muốn con người nhận biết Ngài nên không còn tỏ mình nữa, thì tại sao Giáo Hội Công Giáo cứ làm trái ý của Thiên Chúa trong suốt hơn 2.000 năm qua bằng cách phí công sức và tiền của để rao giảng về Thiên Chúa, núp dưới mỹ từ là “đem tin mừng cứu rỗi muôn dân”?
5. Tại sao một đấng toàn năng, toàn trí như Thiên Chúa lại cần phải thay đổi ý định? Các phép lạ trong Công Giáo đang chứng minh bất khả phủ bác rằng Thiên Chúa đã phải thay đổi ý định nhiều lần chỉ vì lời van xin hay hối lộ của con người hèn mọn. Điều này thì hoàn toàn đối nghịch với tính toàn năng và toàn trí của Thiên Chúa.
6. Tất cả những điều vô lý đó không phải đã chứng minh rõ ràng Giáo Hội Công Giáo đã và đang làm công việc buôn thần bán thánh, những thứ giả mạo, không có thực, từ hơn 2.000 năm nay sao?
Tôi đã được dạy rằng Thiên Chúa thì phải như thế này, phải như thế nọ; nhưng khi đã khôn lớn, những điều đó tự động trở nên hiển nhiên phi lý, ngớ ngẫn, hoàn toàn không còn thuyết phục. Những gì các ông thần học chí chóe bàn về Thiên Chúa thì cũng giống y chang như những gì thiên hạ vẽ hưu vẽ vượn trong các chuyện tiểu thuyết hư cấu hay thần thoại hoang đường. Khi còn là một đứa con nít, tôi tin hoàn toàn những chuyện nhảm nhí đó, không bao giờ có một chút thắc mắc. Bây giờ đã trưởng thành với đầy đủ trí khôn rồi, tôi không còn tin chúng nữa.
Như vậy, có sự khác biệt gì giữa một đức tin tôn giáo và niềm tin mê tín dị đoan, ngoài việc đức tin tôn giáo thì được cổ vũ, hỗ trợ, tuyên truyền, nhồi sọ, và rao bán bởi một tổ chức tôn giáo có thế lực nhất hoàn vũ; trong khi niềm tin bị cho là mê tín thì không, ai tin cũng được, không tin cũng chẳng sao? Vậy đức tin trong bản chất đích thực thì hoàn toàn đồng nghĩa với các niềm tin mê tín dị đoan khác trong dân gian.
Kết luận.
Kết quả tìm kiếm suốt cả cuộc đời tôi về sự tồn tại của Thiên Chúa là một sự im lặng tuyệt đối, trống không. Đó chẳng phải là một điều lạ lùng gì! Những thắc mắc ở trên đã minh xác rằng Thiên Chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như các nhân vật trong các chuyện tiểu thuyết hay thần thoại hoang đường, không hơn không kém. Sự việc Chúa phải im lặng, che giấu thân phận, là chuyện đương nhiên, tất yếu, không thể khác được. Có sinh vật tưởng tượng nào mà chẳng phải tuyệt đối giữ im lặng?
Do đó, tôi có thể bảo đảm rằng nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện với bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên Chúa thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ họ như những điều chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.
Những luận chứng của các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào. Mặc dù vậy, trên đời này chẳng có ai đã trưởng thành còn tin vào sự hiện hữu của các sinh vật tưởng tượng trong tiểu thuyết thần thoại hoang đường, nhưng lại có vô số người tin có Thiên Chúa. Vậy đó chính là kết quả của một nền giáo dục và tuyên truyền nhồi sọ, không phải một tặng phẩm hay hồng ân do Chúa ban.
Các phép lạ, những biến cố vi phạm các định luật của khoa học, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong thực chất không thể đi đôi với khoa học. Thiên Chúa cũng giống như đôi nạng gỗ. Nếu ai phải cần cặp nạng đó để có thể đi đứng vững vàng thì xin cứ việc tự do, thoải mái sử dụng, nhưng đừng bao giờ mong muốn người khác cũng phải đi bằng đôi nạng gỗ như mình. Đối với những người còn dám sử dụng lý trí, họ vẫn cứ đi đứng thoải mái, vững vàng bằng chính đôi chân của họ mà chẳng cần cặp nạng gỗ. Và tôi tin chắc rằng chúng ta cũng có thể đi đứng như họ, nếu muốn.
Con người chúng ta đích thực là những con ếch ngồi dưới đáy giếng hoặc những thằng mù sờ chân voi nhưng lại thích bàn chuyện trên trời. Có một điều lạ lùng, vô lý và rất khôi hài là khi các nhà khoa học bàn chuyện trên trời thì chúng ta gọi họ là những thằng mù hay con ếch; nhưng khi những con ếch hay thằng mù ngồi ở đáy giếng tận bên Vatican bàn chuyện trên trời thì chúng ta lại gọi “đó là lời Chúa”.
Đứng trước những sự kiện bất khả phủ bác, các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo không thể phản biện được bất cứ điều gì, ngoài việc tiếp tục dèm pha, tấn công tư cách cá nhân của các tác giả. Họ thường kết án thiên hạ cái tội đánh phá tôn giáo. Nhưng thưa bạn, việc bảo vệ và phục vụ chân lý, hay bảo vệ và phục vụ tôn giáo, việc nào thì quan trọng, nên làm hơn? Hỏi tức là đã trả lời, bởi vì “chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta”. Tôn giáo chỉ là một trong muôn vàn con đường dẫn ta đến các chân lý, không phải tự nó đang là chân lý. Nó chỉ là phương tiện, không phải cùng đích của cuộc đời chúng ta mong tìm kiếm. Chắc chắn không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật, kể cả Công Giáo.
Riêng cá nhân tôi còn bị kết án thêm cái tội ăn cháo đá bát. Vậy tôi xin trích dẫn quan điểm của tác giả Robert Ingersollđể trả lời cho lời cáo buộc này. Ông được người đời tôn vinh là Người Không Tin Vĩ Đại (The Great Agnostic) vì đã khước từ những niềm tin của gia đình và tổ tiên sau khi ông đã trưởng thành. Trong bài Tại Sao Tôi Là Người Không Tin, ông biện giải như sau:
"Nếu chúng ta phải theo tôn giáo của cha mẹ chúng ta thì cha mẹ chúng ta cũng phải theo tôn giáo của họ. Như vậy thì đã không thể có sự tiến bộ trong lĩnh vực tư tưởng. Tôn giáo đầu tiên có lẽ đã là tôn giáo cuối cùng, và người con có lẽ đã chết trong sự ngu dốt như người mẹ. Sự tiến bộ có lẽ đã không có, và sự thông minh của nhân loại có lẽ đã bị hy sinh ở tại những ngôi mộ của các tổ tiên.” [2]
Vậy thưa bạn, cái tội đánh phá tôn giáo, hay cái tội đánh phá chân lý để làm cản trở sự tiến bộ tri thức của con người, tội nào là tội nặng hơn cả? Nếu tôi viết sai, xin bạn hãy chỉ ra cái sai nằm ở chỗ nào; còn nếu tôi viết đúng, tại sao lại kết án tôi?
Trần Tiên Long
Mùa lễ nghỉ Noel 2014
Biết tự tha thứ
Sự sống lúc nào cũng chấp nhận ta, nó chỉ chờ ta tự chấp nhận chính mình mà thôi. Tha thứ không có nghĩa là bỏ qua hết những gì ta đã làm, hoặc tưởng tượng rằng một ngày nào đó những nỗi đau trong ký ức rồi sẽ giản dị biến mất. Nó chỉ có nghĩa là ta ý thức được màn lưới chằng chịt nối liền của nhân duyên, của những điều kiện đã tạo nên hành động của mình. Và nhờ sự hiểu biết đó, ta sẽ biết thương mình và kẻ khác hơn.
Nhà thơ Rumi viết, “Một cái nhìn sâu thẳm vào nội tâm sẽ làm phát khởi lên một nỗi đau lớn, nhưng nỗi đa u ấy sẽ giúp ta bước ra được phía sau tấm màn che”. Mỗi khi chúng ta nhớ lại những việc nào mình đã làm mà gây khổ cho kẻ khác, ngay trong giây phút ấy, ta sẽ kinh nghiệm một nỗi đau. Và nỗi đau đó có thể trở thành một phương tiện giúp ta chuyển hóa. Khi ta có thể “bước ra được phía sau tấm màn che” của vọng tưởng, ta sẽ không còn cho mình là “xấu xa” nữa, và ta biết cởi mở đối với tự tánh khổ đau của mọi kinh nghiệm.
Mỗi khi tưởng nhớ lại những lần mình đã làm khổ kẻ khác, chắc chắn sẽ gây cho ta nhiều khổ tâm. Tôi đã từng ngồi thiền chung với một người chồng đánh đập vợ mình tàn nhẫn mỗi khi nổi giận, với một người đàn ông chờ án tử hình vì đã vi phạm tội sát nhân trong một lần ăn cướp, hơn hai mươi năm về trước. Và tôi cũng đã từng ngồi với những ký ức buồn đau của chính mình về những nỗi khổ tôi đã gây cho người khác. Không cần biết việc lớn hay nhỏ, hễ khi ta làm cho người khác khổ là ta cũng sẽ chịu một sự đớn đau.
Có thể ta nghĩ rằng, mỗi khi ta nhớ lại những lỗi lầm của mình rồi tự hành hạ và dày vò, thì đó cũng là một hình thức chuộc tội. Nhưng thật ra, chính tâm từ mới là một sự hối tội chân chính. Khi ta bị một mặc cảm tội lỗi chiếm ngự, nó sẽ làm cái tôi của mình trở nên vô cùng giới hạn và nhỏ bé, “Ðây mới là con người của tôi, một người đã có những hành động xấu xa này…”. Và một khi cái tôi đã bị giới hạn, ta sẽ càng cảm thấy bị tự trừng phạt bởi những sự khổ đau, xa cách, cô đơn và vô vọng của mình. Ta cho là mình xứng đáng bị như vậy. Và khi nghe đức Phật dạy, mọi chúng sinh đều muốn sống hạnh phúc và đều có khả năng sống hạnh phúc, ta lại càng cảm thấy cô độc hơn.
Nhiều năm trước đây, trong một giờ ngồi thiền của một khóa tu, tôi thấy mình nhìn lại một quãng đời khó khăn trong cuộc sống của mình. Nhớ lại những việc làm xưa chẳng làm tôi vui sướng gì. Nhưng khi hiểu rằng hành động của tôi chỉ là một phần của những biến cố nối liền, liên tiếp theo nhau, tôi có thể nhìn lại mình với một ánh mắt hiểu biết hơn và tha thứ hơn. Tôi có thể thấy rõ rằng khi một việc này khởi lên, nó sẽ làm nền tảng cho một việc kế tiếp phát sinh theo.
Kinh Phật có dùng một ví dụ để diễn tả tính cách nối liền, nhân quả của những sự kiện xảy ra với nhau. Khi nước trong đại dương theo thủy triều dâng lên cao, nước trong các con sông cũng sẽ dâng lên theo; khi nước sông dâng lên, nước trong các hồ lớn, kinh rạch cũng sẽ dâng lên. Khi nước trong đại dương theo thủy triều hạ xuống thấp, nước trong trăm con sông cũng sẽ hạ thấp, và nước trong hồ, kinh, rạch cũng thế. Sức hút của mặt trăng tác dụng lên khối lượng nước trên quả đất, trừ những trường hợp rất hiếm, khiến chúng chuyển động rất tương hợp với nhau. Khi một cái này phát khởi lên, sẽ khiến một cái kia có liên hệ với nó phát khởi lên theo. Bất cứ một sự kiện nào có mặt chắc chắn cũng sẽ bị điều kiện bởi một cái khác. Cũng thế, tất cả mọi yếu tố có liên hệ đến sự hiện hữu của ta – thân này, tâm này, thế giới bên trong, thế giới chung quanh ta – đều có một kết cấu rất mật thiết với nhau.
Trong khóa tu, tôi thấy được những sự kiện của đời mình, giống như sông và biển, chúng xảy ra theo một thứ tự rõ rệt. Tôi thấy mình đã cố gắng làm hết sức mình trong hoàn cảnh đang có mặt. Trong tình trạng ấy, với những điều kiện ấy, có lẽ tôi đã không thể nào làm gì khác hơn thế được. Vì một thái độ khác sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết khác dựa trên những sự kiện và kinh nghiệm khác.
Chúng ta không thể nào hốt lại nước đã đổ và chúng ta cũng không thể nào trốn tránh được hậu quả về hành động của mình. Nhưng thay vì tự oán trách hoặc là cứ ôm một mặc cảm hổ thẹn mãi, ta có thể thay đổi nó bằng cách tưới tẩm hạt giống xấu ấy bằng chánh niệm và tâm từ. Ðó chính là nền tảng của sự tu tập.
Theo luật nhân quả, karma, thì cái tác ý đứng sau hành động mới là yếu tố chánh quyết định cho sự tốt, xấu của hạt giống ta gieo trồng trong mỗi giây phút. Một hạt giống, khi đủ điều kiện, đủ nhân duyên, nó sẽ nở hoa kết trái. Nhưng luật nhân quả không bao giờ vận chuyển một cách máy móc và cứng nhắc hết. Vì nếu thế thì chắc ta sẽ không bao giờ có thể làm gì để thay đổi được cuộc đời mình hết. Sẽ không có cách nào để ta chuyển hóa được khổ đau, cũng như sự tu tập sẽ chẳng đem lại cho ta một lợi ích gì.
Như thiên nhiên đã cho phép rất nhiều điều kiện khác nhau đóng góp vào sự chín mùi của một hạt giống, cũng thế, hạt giống chủ ý của ta không bao giờ hiện hữu cô lập. Quả trái của một hành động không phải chỉ tùy thuộc vào hạt giống của nó mà thôi, mà còn lệ thuộc vào tất cả những đặc điểm của miếng đất trong đó nó được gieo trồng. Vì chúng ta luôn thay đổi để ảnh hưởng sự sống của mình, nên miếng đất mà hạt giống ấy đang cắm rễ cũng sẽ biến đổi luôn. Và cũng vì thế, mục tiêu giải thoát và cơ hội chấm dứt khổ đau của ta là chuyện có thể thực hiện được.
Giả sử chúng ta đã lỡ có một hành động bất thiện hoặc gây hại cho ai, nhưng nếu biết trở lại sống trong chánh niệm và từ bi, ta sẽ có thể ảnh hưởng chuyển hóa được thửa vườn mà hạt giống xấu ấy được gieo trồng, và rồi tất cả sẽ được thay đổi. Ðó cũng chính là một sự chuyển hóa mà ta có thể bắt đầu ngay trong giờ phút này.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách dùng chánh niệm và tâm từ nhìn sâu vào những khổ đau ta đã gây cho kẻ khác, cũng như nỗi đau của chính mình. Chúng ta hãy nhìn sâu vào những mặc cảm tội lỗi, những hổ thẹn, sợ hãi bằng một tâm hiểu biết và bao dung. Chúng ta thấy được sự khác biệt giữa việc cho rằng, “Tôi là một người xấu xa” với lại “Tôi đã làm một việc xấu và tôi rất hối tiếc về hành động đó”. Khi ta có thể kinh nghiệm được dòng sông cảm xúc của mình với sự tĩnh lặng, sáng tỏ, và thương yêu – không phán xét và hẹp hòi – tâm ta sẽ trở thành một tấm gương trong vắt, phản chiếu được hết những gì đang có mặt. Trong tiến trình ấy, tấm gương tâm của ta cũng sẽ phản chiếu luôn được cả tự tánh của chính nó: tỏa chiếu, thanh tịnh và ngời sáng. Như đức Phật dạy, “Chân tâm của ta bao giờ cũng trong sáng”.
Chúng ta sẽ tìm lại được cái khả năng tỉnh thức, biết yêu thương và bắt đầu lại của mình. Mặc dầu trong quá khứ có thể ta đã có những hành động bất thiện, nhưng ta vẫn biết rằng sự trong sáng, tĩnh lặng mới chính là bản chất thật sự của mình, chứ không phải là những tâm tham sân thường xúi dục ta đi gây hại cho kẻ khác. Thật ra, ta không cần phải làm gì mới có thể xứng đáng có được bản chất thanh tịnh ấy – vì nó là bản tánh tự nhiên của ta. Dẫu trong quá khứ ta có thể sống mà không hề biết đến nó, nhưng chân tánh ấy vẫn không bao giờ bị mất đi hay lu mờ một chút nào hết. Chúng ta có thể xem thường nó, chà đạp nó, nhưng bản tính thanh tịnh ấy không bao giờ thay đổi và vẫn chờ đợi ta một ngày khám phá lại.
Khi khổ đau giúp ta bước ra được “phía sau tấm màn che” của một ảo tưởng về sự chia cách, ta sẽ tiếp tục được sự sống trọn vẹn, trong đó có chính ta. Sự sống lúc nào cũng chấp nhận ta, nó chỉ chờ ta tự chấp nhận chính mình mà thôi. Tha thứ không có nghĩa là bỏ qua hết những gì ta đã làm, hoặc tưởng tượng rằng một ngày nào đó những nỗi đau trong ký ức rồi sẽ giản dị biến mất. Nó chỉ có nghĩa là ta ý thức được màn lưới chằng chịt nối liền của nhân duyên, của những điều kiện đã tạo nên hành động của mình. Và nhờ sự hiểu biết đó, ta sẽ biết thương mình và kẻ khác hơn.
Nguyễn Duy Nhiên chuyển dịch
Nhà thơ Rumi viết, “Một cái nhìn sâu thẳm vào nội tâm sẽ làm phát khởi lên một nỗi đau lớn, nhưng nỗi đa u ấy sẽ giúp ta bước ra được phía sau tấm màn che”. Mỗi khi chúng ta nhớ lại những việc nào mình đã làm mà gây khổ cho kẻ khác, ngay trong giây phút ấy, ta sẽ kinh nghiệm một nỗi đau. Và nỗi đau đó có thể trở thành một phương tiện giúp ta chuyển hóa. Khi ta có thể “bước ra được phía sau tấm màn che” của vọng tưởng, ta sẽ không còn cho mình là “xấu xa” nữa, và ta biết cởi mở đối với tự tánh khổ đau của mọi kinh nghiệm.
Mỗi khi tưởng nhớ lại những lần mình đã làm khổ kẻ khác, chắc chắn sẽ gây cho ta nhiều khổ tâm. Tôi đã từng ngồi thiền chung với một người chồng đánh đập vợ mình tàn nhẫn mỗi khi nổi giận, với một người đàn ông chờ án tử hình vì đã vi phạm tội sát nhân trong một lần ăn cướp, hơn hai mươi năm về trước. Và tôi cũng đã từng ngồi với những ký ức buồn đau của chính mình về những nỗi khổ tôi đã gây cho người khác. Không cần biết việc lớn hay nhỏ, hễ khi ta làm cho người khác khổ là ta cũng sẽ chịu một sự đớn đau.
Có thể ta nghĩ rằng, mỗi khi ta nhớ lại những lỗi lầm của mình rồi tự hành hạ và dày vò, thì đó cũng là một hình thức chuộc tội. Nhưng thật ra, chính tâm từ mới là một sự hối tội chân chính. Khi ta bị một mặc cảm tội lỗi chiếm ngự, nó sẽ làm cái tôi của mình trở nên vô cùng giới hạn và nhỏ bé, “Ðây mới là con người của tôi, một người đã có những hành động xấu xa này…”. Và một khi cái tôi đã bị giới hạn, ta sẽ càng cảm thấy bị tự trừng phạt bởi những sự khổ đau, xa cách, cô đơn và vô vọng của mình. Ta cho là mình xứng đáng bị như vậy. Và khi nghe đức Phật dạy, mọi chúng sinh đều muốn sống hạnh phúc và đều có khả năng sống hạnh phúc, ta lại càng cảm thấy cô độc hơn.
Nhiều năm trước đây, trong một giờ ngồi thiền của một khóa tu, tôi thấy mình nhìn lại một quãng đời khó khăn trong cuộc sống của mình. Nhớ lại những việc làm xưa chẳng làm tôi vui sướng gì. Nhưng khi hiểu rằng hành động của tôi chỉ là một phần của những biến cố nối liền, liên tiếp theo nhau, tôi có thể nhìn lại mình với một ánh mắt hiểu biết hơn và tha thứ hơn. Tôi có thể thấy rõ rằng khi một việc này khởi lên, nó sẽ làm nền tảng cho một việc kế tiếp phát sinh theo.
Kinh Phật có dùng một ví dụ để diễn tả tính cách nối liền, nhân quả của những sự kiện xảy ra với nhau. Khi nước trong đại dương theo thủy triều dâng lên cao, nước trong các con sông cũng sẽ dâng lên theo; khi nước sông dâng lên, nước trong các hồ lớn, kinh rạch cũng sẽ dâng lên. Khi nước trong đại dương theo thủy triều hạ xuống thấp, nước trong trăm con sông cũng sẽ hạ thấp, và nước trong hồ, kinh, rạch cũng thế. Sức hút của mặt trăng tác dụng lên khối lượng nước trên quả đất, trừ những trường hợp rất hiếm, khiến chúng chuyển động rất tương hợp với nhau. Khi một cái này phát khởi lên, sẽ khiến một cái kia có liên hệ với nó phát khởi lên theo. Bất cứ một sự kiện nào có mặt chắc chắn cũng sẽ bị điều kiện bởi một cái khác. Cũng thế, tất cả mọi yếu tố có liên hệ đến sự hiện hữu của ta – thân này, tâm này, thế giới bên trong, thế giới chung quanh ta – đều có một kết cấu rất mật thiết với nhau.
Trong khóa tu, tôi thấy được những sự kiện của đời mình, giống như sông và biển, chúng xảy ra theo một thứ tự rõ rệt. Tôi thấy mình đã cố gắng làm hết sức mình trong hoàn cảnh đang có mặt. Trong tình trạng ấy, với những điều kiện ấy, có lẽ tôi đã không thể nào làm gì khác hơn thế được. Vì một thái độ khác sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết khác dựa trên những sự kiện và kinh nghiệm khác.
Chúng ta không thể nào hốt lại nước đã đổ và chúng ta cũng không thể nào trốn tránh được hậu quả về hành động của mình. Nhưng thay vì tự oán trách hoặc là cứ ôm một mặc cảm hổ thẹn mãi, ta có thể thay đổi nó bằng cách tưới tẩm hạt giống xấu ấy bằng chánh niệm và tâm từ. Ðó chính là nền tảng của sự tu tập.
Theo luật nhân quả, karma, thì cái tác ý đứng sau hành động mới là yếu tố chánh quyết định cho sự tốt, xấu của hạt giống ta gieo trồng trong mỗi giây phút. Một hạt giống, khi đủ điều kiện, đủ nhân duyên, nó sẽ nở hoa kết trái. Nhưng luật nhân quả không bao giờ vận chuyển một cách máy móc và cứng nhắc hết. Vì nếu thế thì chắc ta sẽ không bao giờ có thể làm gì để thay đổi được cuộc đời mình hết. Sẽ không có cách nào để ta chuyển hóa được khổ đau, cũng như sự tu tập sẽ chẳng đem lại cho ta một lợi ích gì.
Như thiên nhiên đã cho phép rất nhiều điều kiện khác nhau đóng góp vào sự chín mùi của một hạt giống, cũng thế, hạt giống chủ ý của ta không bao giờ hiện hữu cô lập. Quả trái của một hành động không phải chỉ tùy thuộc vào hạt giống của nó mà thôi, mà còn lệ thuộc vào tất cả những đặc điểm của miếng đất trong đó nó được gieo trồng. Vì chúng ta luôn thay đổi để ảnh hưởng sự sống của mình, nên miếng đất mà hạt giống ấy đang cắm rễ cũng sẽ biến đổi luôn. Và cũng vì thế, mục tiêu giải thoát và cơ hội chấm dứt khổ đau của ta là chuyện có thể thực hiện được.
Giả sử chúng ta đã lỡ có một hành động bất thiện hoặc gây hại cho ai, nhưng nếu biết trở lại sống trong chánh niệm và từ bi, ta sẽ có thể ảnh hưởng chuyển hóa được thửa vườn mà hạt giống xấu ấy được gieo trồng, và rồi tất cả sẽ được thay đổi. Ðó cũng chính là một sự chuyển hóa mà ta có thể bắt đầu ngay trong giờ phút này.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách dùng chánh niệm và tâm từ nhìn sâu vào những khổ đau ta đã gây cho kẻ khác, cũng như nỗi đau của chính mình. Chúng ta hãy nhìn sâu vào những mặc cảm tội lỗi, những hổ thẹn, sợ hãi bằng một tâm hiểu biết và bao dung. Chúng ta thấy được sự khác biệt giữa việc cho rằng, “Tôi là một người xấu xa” với lại “Tôi đã làm một việc xấu và tôi rất hối tiếc về hành động đó”. Khi ta có thể kinh nghiệm được dòng sông cảm xúc của mình với sự tĩnh lặng, sáng tỏ, và thương yêu – không phán xét và hẹp hòi – tâm ta sẽ trở thành một tấm gương trong vắt, phản chiếu được hết những gì đang có mặt. Trong tiến trình ấy, tấm gương tâm của ta cũng sẽ phản chiếu luôn được cả tự tánh của chính nó: tỏa chiếu, thanh tịnh và ngời sáng. Như đức Phật dạy, “Chân tâm của ta bao giờ cũng trong sáng”.
Chúng ta sẽ tìm lại được cái khả năng tỉnh thức, biết yêu thương và bắt đầu lại của mình. Mặc dầu trong quá khứ có thể ta đã có những hành động bất thiện, nhưng ta vẫn biết rằng sự trong sáng, tĩnh lặng mới chính là bản chất thật sự của mình, chứ không phải là những tâm tham sân thường xúi dục ta đi gây hại cho kẻ khác. Thật ra, ta không cần phải làm gì mới có thể xứng đáng có được bản chất thanh tịnh ấy – vì nó là bản tánh tự nhiên của ta. Dẫu trong quá khứ ta có thể sống mà không hề biết đến nó, nhưng chân tánh ấy vẫn không bao giờ bị mất đi hay lu mờ một chút nào hết. Chúng ta có thể xem thường nó, chà đạp nó, nhưng bản tính thanh tịnh ấy không bao giờ thay đổi và vẫn chờ đợi ta một ngày khám phá lại.
Khi khổ đau giúp ta bước ra được “phía sau tấm màn che” của một ảo tưởng về sự chia cách, ta sẽ tiếp tục được sự sống trọn vẹn, trong đó có chính ta. Sự sống lúc nào cũng chấp nhận ta, nó chỉ chờ ta tự chấp nhận chính mình mà thôi. Tha thứ không có nghĩa là bỏ qua hết những gì ta đã làm, hoặc tưởng tượng rằng một ngày nào đó những nỗi đau trong ký ức rồi sẽ giản dị biến mất. Nó chỉ có nghĩa là ta ý thức được màn lưới chằng chịt nối liền của nhân duyên, của những điều kiện đã tạo nên hành động của mình. Và nhờ sự hiểu biết đó, ta sẽ biết thương mình và kẻ khác hơn.
Nguyễn Duy Nhiên chuyển dịch
Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015
Sống hài hòa cùng thiên nhiên
Vào thập niên 70 của thế kỷ trước. Câu lạc bộ Roma gồm gần 100 thành viên trên khắp thế giới đã viết những báo cáo nói rằng sự tăng trưởng kinh tế không chú ý đến môi trường sẽ là thảm họa cho loài người. Trước đó, năm 1949, W. Voght là người đầu tiên nêu lên khái niệm cân bằng sinh thái trong cuốn Con đường sinh tồn. Bây giờ chính những nhà lãnh đạo chính trị, những người chậm thấy nhất, cũng phải ngồi lại họp về vấn nạn nóng lên của trái đất trước khi quá muộn.Tại sao nền văn minh Tây phương đã đối xử với thiên nhiên như thế? Dĩ nhiên phải từ quan điểm từ cách nhìn (mà Phật giáo gọi là chánh kiến) của Tây phương đối với thiên nhiên. Nhưng chúng ta không đề cập đến thế giới quan Tây phương, tư tưởng triết học và tôn giáo Tây phương đã có cái nhìn coi thường thiên nhiên, và mục đích trong mấy trăm năm nay của văn minh Tây phương là “thực dân” đối với thiên nhiên, thống trị và khai thác không thương tiếc. Tinh thần bóc lột, tận dụng thiên nhiên để rút lấy những tiện nghi vật dụng cho mình, cái làm nên sức mạnh Tây phương cũng đã biến Đông phương thành thuộc địa và mặc cảm này khiến Đông phương từ bỏ quan điểm về thiên nhiên của mình để chạy đua theo cho kịp.
Nhưng cũng chính cái tinh thần đó cho thấy sự sai lầm của nó, rõ nhất là vào cuối thế kỷ XX. Bây giờ Tây phương đã thấy rõ sự thất trận của mình và với chính mình: thất bại trong việc đối xử với ngôi nhà chung là trái đất. Người vội vã đuổi cho kịp Tây phương về mặt vật chất là Trung Quốc năm nay đã phải thành lập siêu bộ môi trường. Còn Tây phương thì bắt đầu sửa chữa lại sai lầm của mình, bằng một nền kỹ nghệ sản xuất “thân thiện với môi trường”.
Thiên nhiên có ý nghĩa gì với đời sống con người?
1. Con người không thể tách lìa khỏi thiên nhiên
Hiện nay con người đang sống trong một thế giới do mình chế biến ra từ chất liệu thiên nhiên. Nó là chế biến vì khoa học không thể làm ra một nguyên tử từ hư không và không thể từ những nguyên tử làm ra một tế bào sống đơn giản nhất . Từ văn minh nông nghiệp, con người chế biến và sống trong văn minh công nghiệp rồi hậu công nghiệp, nhưng dầu nền văn minh nào cũng phải dựa vào thiên nhiên, như là nền tảng ban sơ của sự sống.
Đã có thời, những thập niên đầu của thế kỷ XX, các kiến trúc sư tiền phong của Tây phương chủ trương mỹ học cơ giới (machine acsthetic), quan niệm “những tòa nhà là những bộ máy để con người sinh sống trong đó” (Le Corbusier). Kết quả là hàng loạt nhà cao tầng, những khối bê tông như hộp diêm cao ngất ra đời. Ai cũng biết là sau đó, người ta lại phải đem thiên nhiên vào cuộc sống: trồng cây bên trong, hình thể bắt chước thiên nhiên, gắn kính phản chiếu trời mây, giếng trời… thậm chí bây giờ càng có thiên nhiên, càng giống thiên nhiên càng tốt.
Trong thi ca, nghệ thuật và trong cuộc sống hàng ngày, chẳng ai dám nói: em xinh như một chiếc điện thoại di động (mà có thể, em xinh như một con sóc), em sáng như một cái đồng hồ vàng (mà: em sáng như mặt trăng), em trắng và sạch như bột giặt (mà, em trắng sạch như sương, như tuyết), anh hùng ví như một đập thủy điện (mà, anh hùng ví như rừng, như núi), anh oai nghi như một chiếc Rolls Royce (mà, anh oai nghi như một vị thần, một ông vua). Tại sao trong tâm thức bình thường của con người, thiên nhiên vẫn quý giá, trang trọng hơn những vật phẩm do con người chế tạo ra? Có phải chăng, dù đã đi qua văn minh nông nghiệp để đến văn minh công nghiệp và bây giờ là văn minh tri thức, con người vẫn bị thiên nhiên ám ảnh, vẫn không thể tách lìa khỏi thiên nhiên? Có phải chăng, thân con người hẳn là không tách lìa được với thiên nhiên, với đất nước gió lửa mà tâm con người, những nội dung để nó tư duy cũng lấy thiên nhiên làm căn bản? Những lý thuyết khoa học mới như lý thuyết về hỗn độn, lý thuyết về phức hợp, toán học fractal, toán học về tai biến, tính toàn đồ… chẳng phải là những quan niệm lấy từ thiên nhiên sao?
Thiên nhiên là môi trường để con người sống, học tập và phát triển toàn diện. Thế mà trong bốn thế kỷ vừa qua, thế giới Tây phương bằng lòng tham lam, hiếu chiến và bạo động đã làm thay đổi toàn bộ thiên nhiên trái đất theo một chiều hướng xấu, để trái đất phải kêu cứu. Kinh tế và kỹ thuật công nghiệp không xấu, nhưng khi được sử dụng bằng lòng tham, hiếu chiến và bạo động thì đã trở thành xấu. Chính vì thế mà Hồng y Gianfranco Girotti của Vatican Thiên Chúa giáo, tác nhân quan trọng nhất của nền văn minh Tây phương, đã giới thiệu danh sách bảng tội lớn nhất trong thời hiện đại: ngoài những tội lỗi căn bản có từ xưa, (như trộm cắp, ngoại tình, lăng mạ người khác…) còn thêm vào các tội “lạm dụng hủy hoại môi trường, chủ nghĩa tiêu dùng không lành mạnh, biến đổi gen…” (TTCT, 23/3/08).
“Lần đầu tiên trong lịch sử, thế giới tự nhiên chúng ta để lại cho con cháu mình sẽ tệ hại hơn rất nhiều so với cái thế giới tự nhiên mà chúng ta thừa kế từ cha mẹ… Chúng ta đang sử dụng hành tinh này như thể không hề có ngày mai… Phí tổn vào thiên nhiên được tính bằng không” (Chủ nghĩa tư bản phiên bản 3.0 – Peter Burnes – 2006, Nguyễn Đình Huy dịch. NXB Trẻ).
Theo khảo sát thực hiện ở 16 nước châu Á, có đến 9/10 người Singapore thú nhận không hạnh phúc và chịu quá nhiều áp lực trong cuộc sống (TT,21/3/2008).
Mới đây theo một nhà kinh tế khảo sát ở Mỹ, cho thấy hạnh phúc tăng theo GDP, nhưng đến một mức hơn hai mươi mấy ngàn USD thì bắt đầu gây rắc rối, thậm chí có khi đến chỗ mất hạnh phúc. Xem thêm: Tại sao người Mỹ chưa được hạnh phúc? (Peter Burnes, trang 37).
2. Thiên nhiên là sự sống
Tại sao vào ngày nghỉ người ta thích đi chơi ở giữa thiên nhiên hơn là ở trong những thành phố? Nhật đã tạo ra những “cô” rôbốt đem bia, cà phê tới cho khách hàng, nhưng vài tuần đầu còn thấy thích vì lạ, sau đó người ta – có lẽ người ta ở mọi nước – lại muốn “cô cà phê” thật hơn.
Chúng ta thích thiên nhiên vì nó có sự sống, nghĩa là có đổi thay, bất ngờ và tiến hóa. Người ta có thể ngồi cả buổi chỉ để nhìn biển, nghe sóng biển, vì biển có sự sống, sự thay đổi, không lặp lại. Mandelbrot, nhà toán học tiên phong đã làm việc ở IBM cuối thập niên 1960 và thập niên 1970 nói: “Những áng mây không phải là khối cầu, ngọn núi không phải là khối nón, bờ biển không phải là đường cong, mặt gỗ, không trơn nhẳn, tia sét không đi theo đường thẳng”. (Tư duy chiến lược và khoa học mới, trang 97, Irène Sanders, Chu Tiến Ánh dịch, Tri thức 2006). Như vậy, toán học chỉ là những biểu tượng hóa cao độ – nhưng chỉ xấp xỉ – về các sự vật trong đời sống, chứ không phải là chính đời sống.
Với thiên nhiên bên trong, sự sống bên trong thân thể mình, chúng ta thường ít đồng cảm với nó. Chỉ khi nào đau ở đâu đó chúng ta mới chú ý đến nó. Chỉ khi nào ngọp thở, chúng ta mới để ý đến hơi thở và mới biết quý trọng từng hơi thở. Cái thiên nhiên bên trong làm gì, tự tổ chức ra sao, hài hòa với nhau như thế nào trong suốt cả cuộc đời, chúng ta không biết. Chúng ta rất thiếu hiểu biết và thương yêu. Chẳng hạn đến khi thiên nhiên bên ngoài kêu cứu, trái đất bị hư hoại sắp đến chỗ không thể cứu chữa, sự việc này trực tiếp đe dọa cuộc sống của thiên nhiên bên trong của chúng ta, sinh mạng chúng ta, chúng ta mới chịu dừng bớt cơn khát khao có cho thật nhiều, tiêu xài cho thật nhiều bằng cách bóc lột thiên nhiên không kể gì đến sự sống của nó.
Không những thân thể phát xuất từ thiên nhiên, thức ăn nuôi sống lấy từ thiên nhiên, mà cả tâm hồn chúng ta, nội dung của nó cũng bắt nguồn từ thiên nhiên: chúng ta biết hình tròn từ mặt trăng mặt trời, sự mát lạnh từ dòng sông, màu lục từ lá cây, biết sự sống từ mầm hạt, cây cối. Có lẽ thiên nhiên là một nguyên mẫu (archetype, chữ của Carl Jung) nào đó mà con người đã bỏ quên, đã đánh mất trong quá trình tham lam chiếm đoạt của mình.
Nếu ngày nay chúng ta có thể hãnh diện vì trí năng của loài người, trí quyển (noosphère) – hay theo Karl Popper, cái thế giới thứ ba (world 3 hay third world) – đang chuyển hóa và bao trùm toàn bộ trái đất, thì trí quyển đó vẫn phải dựa vào thiên nhiên (nghĩa là địa quyển và sinh quyển (geosphère và biosphere), vì chúng ta không thể nào tạo ra một nguyên tử từ hư không được, vì với những nguyên tử có sẵn chúng ta không thể tạo ra sự sống được. Ngược lại, chúng ta (nói theo Đông Á là Nhân) phải dựa vào thiên nhiên (Địa), từ nguyên tử, đến AND đến vũ trụ để tìm hiểu thế giới và chính con người chúng ta.
H.Rolston viết trong cuốn Triết học đi về miền hoang dã: “Thiên nhiên được coi là hệ thống sinh thái (ecosystem) thì không bao giờ gồm bất kỳ sự hoang dã với ý nghĩa không tốt nào, cũng không bao gồm trong đó sự thoái hóa và càng không thể bao gồm bất kỳ sự vô nghĩa nào. Ngược lại, nó bao gồm thể cộng đồng sinh mệnh đẹp đẽ, hoàn chỉnh và ổn định” (Tìm hiểu triết học tự nhiên, trang 73 – Nguyễn Đình Cửu biên soạn – NXB Hà Nội, 2006).
Như vậy thiên nhiên là một cộng đồng sinh mệnh tiến hóa bao gồm cả sinh mệnh và sự tiến hóa của loài người. Nói cách khác, thiên nhiên là dạng sự sống căn bản và phổ quát là nền tảng cho sự sống con người. Chúng ta thích thiên nhiên vì thế, nó và chúng ta cùng chung một nguồn gốc sự sống và tiến hóa.
Chúng ta cần cải tạo thiên nhiên, nhưng phải cải tạo theo hướng thêm sự sống cho con người và cả thiên nhiên – đó là hướng đi chung của toàn vũ trụ – chứ không phải làm cho thiên nhiên kém sự sống rồi chết. Bạo động và tàn sát thiên nhiên là bước đầu của lòng hiếu chiến, bước thứ hai là đối với đồng loại của mình. Từ ái và hài hòa với thiên nhiên là bước đầu để mở rộng hiểu biết và thương yêu, bước thứ hai là đối với người khác, anh em của mình.
Đánh mất và cắt đứt với thiên nhiên là đánh mất và cắt đứt với chính con người của mình. Văn học Tây phương thế kỷ XX với gam màu chủ đạo là cô đơn, phân mảnh, xa lạ, trơ nặng… đã nói lên điều đó.
3. Hạnh phúc là sống hài hòa với thiên nhiên
Arnold Toynbee là một sử gia hàng đầu Tây phương trong thế kỷ XX. Ông viết bộ A Study of History trong 38 năm (1934 – 1972) gồm 12 cuốn.
Trong cuốn cuối cùng có tính cách đúc kết và nhận định về các nền văn minh, ông viết:
“Chỉ đơn thuần mức độ công nghiệp hóa hay cơ khí hóa của một xã hội sẽ có ít ý nghĩa hơn là mức độ thành công của xã hội đó trong việc tìm ra giải pháp cho các vấn đề ô nhiễm, cạn kiệt các tài nguyên và căng thẳng xã hội, hiện nay đang là những vấn đề không thể giải quyết được của hệ thống công nghiệp. Có thể tương lai sẽ đưa ra câu trả lời không phải của phương Tây cho vấn đề mà ban đầu là do phương Tây đặt ra cho thế giới”. (trang 372)
Và ông vừa tiên kiến vừa hy vọng:
“Kiểu sống bùng nổ của phương Tây là động, kiểu sống làm hóa đá của Trung Hoa (nói chung là của cả Đông phương, nói thêm của người viết) là tĩnh. Nếu ưu thế hiện nay của phương Tây tiếp tục – có vẻ như vậy, dưới ánh sáng của các sự kiện tương tự đang diễn ra – thì trong sự tương đồng hóa và pha trộn văn hóa, có thể tưởng tượng rằng tính động của phương Tây có thể kết hợp với tính tĩnh của Trung Hoa theo một tỷ lệ, tỷ lệ đó sẽ sinh ra một lốo sống mới cho toàn thể nhân loại không chỉ cho phép nhân loại tồn tại mà còn bảo đảm cả hạnh phúc của nhân loại nữa (trang 400, bản tiếng Việt, NXB Thế giới, 2002).
Einstein đã từng nói: “Điều kỳ diệu nhất của thế giới là con người có thể hiểu biết thế giới”. Chúng ta có thể nói thêm: Điều kỳ diệu nhất của thế giới là con người có thể hiểu biết và thương yêu thế giới.
Hiểu biết và thương yêu thế giới, đó có phải là phẩm tính và sứ mạng cao cả nhất của con người? Hiểu biết và thương yêu thế giới, đó có phải là hạnh phúc lớn nhất và trường cửu nhất của con người?
Ai cũng dễ thấy là chừng nào con người còn đối kháng với thiên nhiên, xem thiên nhiên là một địch thủ hay một tên nô lệ vô tri vô giác, hoặc ngược lại, con người bị thiên nhiên áp bức làm nô lệ cho thiên nhiên, khi ấy không có hạnh phúc. Hạnh phúc là sống với và sống cùng, tức là sống hài hòa với thiên nhiên. Sự hài hòa này không phải là trở về với một thiên nhiên vô tri và hoang dã, mà là kết hợp với toàn thể sự sống trong đó thiên nhiên là một mặt căn bản và trọng yếu.
Chỉ trích hai câu của hai nhà hiền triết Trung Hoa cách đây 2.500 năm: “Vạn vật đều đầy đủ nơi ta, quay lại nơi bản thân mà thành tựu, không gì vui lớn hơn” (Mạnh Tử), và “Trời đất cùng với ta sanh ra, vạn vật với ta là Một” (Trang Tử). Đó là nguyên lý “Thiên, Địa, Nhân nhất thể” của văn minh Đông Á. Có điều quan niệm về Thiên, cái siêu việt, cái thực tại tối thượng và tối hậu của Trung Hoa vẫn còn chưa cao sâu và rộng lớn. Chẳng hạn, Thiên của Lão Tử là Đạo, mà Đạo thì “quy văn viết tĩnh” (chương 16). Chưa thoát khỏi cái tĩnh mà Toynbee đã nói có phần e ngại ở trên. Trong khi đó, Thiên với Đại thừa là tánh Không, mà tánh không thì vượt khỏi động – tĩnh, đồng thời có mặt ở trong cả động lẫn tĩnh.
Lăng Tự Đức ở Huế được người Pháp xem là “ một bài thơ của kiến trúc”. Chúng ta thấy ở đó có sự hài hòa và thông thương lẫn nhau giữa Địa Nhân Thiên. Sự hài hòa ở chỗ sâu thẳm của tâm hồn con người với toàn bộ thực tại - từ cái hữu hình đến cái vô hình, từ sự sống sơ khai đến sự sống cao nhất và trường cửu nhất – đây hẳn là hạnh phúp lớn nhất, chúng ta tìm thấy trong kinh nghiệm của Tuệ Trung Thương Sĩ đời Trần:
Tâm của vạn vật tức Phật tâm
Pật tâm bèn với tâm ta hiệp
Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim
( Phật Tâm Ca)
Lý tưởng của Đông phương là vậy mà của Tây phương cũng vậy: tất cả triết học từ Hy Lạp cho đến khoa học ngày nay đều là tìm kiếm để hiểu biết cái chất thể căn bản nào đã sinh ra vũ trụ và qua tiến trình tìm hiểu ấy, phát triễn thái độ hài hòa với toàn thể vũ trụ. Nhân loại vẫn luôn lqà một trong khát vọng, trong hướng đi, trong sự tiến hóa của mình.
Đã qua rồi những hăm hở khai thác, xài phí và tàn phá trái đất. Họ đã thấy ra lỗi lầm của mình và bây giờ mở miệng ra và nói sinh thái, môi trường, thân thiện với môi trường. Trong khi đó những nưuớc còn kém phát triễn như Trung Quốc, Việt Nam… trong cơn khát làm giàu của mình đã không nương tay với thiên nhiên. Chỉ riêng tỉnh Khánh Hòa, VTV1 kêu ca về việc xây những khách sạn cao tầng chắn giữa bờ biển và thành phố; báo Tuổi Trẻ nói về làm nhà máy thép sẽ bị phá hư vịnh Vân Phong. Tại sao? Tại vì thiếu hiểu biết và thương yêu. Thiếu hiểu biết và thương yêu với then nhiên và trước mắt với con cháu đời sau. Hơn nữa thiếu cái tinh thần Đông phương.
Trở lại với tỷ lệ Tây phương và Đông phương, đó cũng là tỷ lệ của hạnh phúc như Toynbee nói ở trên. Hiện nay người Âu Mỹ đang thực hiện tỷ lệ đó bằng chính việc nghiên cứu và sống theo đạo Phật, một nguồn minh triết Đông phương còn sống động và phát triễn khắp thế giới. Còn chúng ta? Chúng ta sẽ chỉ thực hiện được tỷ lệ đó bằng cách sống được những tinh túy của đạo Phật vốn là văn hóa chủ lực đã tạo một đất nước Việt Nam. Và nếu chúng ta có đủ hiểu biết, đủ thương yêu, đủ phương tiện khéo léo, biết đâu cái tỷ lệ Tây phương và Đồng dương của chúng ta sẽ là mẫu mực cho một thế giới toàn cầu hóa? Bởi vì do hoàn cảnh lịch sử chúng ta chậm phát triển theo chiều hướng Tây phương hóa, và do đó chúng ta có quyền chọn lựa một tỷ lệ tốt nhất cho riêng mình, đồng thời tránh được những say mê quá đà mà Tây phương đã mắc phải và đang sửa sai.
Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 55 | NGUYỄN THẾ ĐĂNG
Nhưng cũng chính cái tinh thần đó cho thấy sự sai lầm của nó, rõ nhất là vào cuối thế kỷ XX. Bây giờ Tây phương đã thấy rõ sự thất trận của mình và với chính mình: thất bại trong việc đối xử với ngôi nhà chung là trái đất. Người vội vã đuổi cho kịp Tây phương về mặt vật chất là Trung Quốc năm nay đã phải thành lập siêu bộ môi trường. Còn Tây phương thì bắt đầu sửa chữa lại sai lầm của mình, bằng một nền kỹ nghệ sản xuất “thân thiện với môi trường”.
Thiên nhiên có ý nghĩa gì với đời sống con người?
1. Con người không thể tách lìa khỏi thiên nhiên
Hiện nay con người đang sống trong một thế giới do mình chế biến ra từ chất liệu thiên nhiên. Nó là chế biến vì khoa học không thể làm ra một nguyên tử từ hư không và không thể từ những nguyên tử làm ra một tế bào sống đơn giản nhất . Từ văn minh nông nghiệp, con người chế biến và sống trong văn minh công nghiệp rồi hậu công nghiệp, nhưng dầu nền văn minh nào cũng phải dựa vào thiên nhiên, như là nền tảng ban sơ của sự sống.
Đã có thời, những thập niên đầu của thế kỷ XX, các kiến trúc sư tiền phong của Tây phương chủ trương mỹ học cơ giới (machine acsthetic), quan niệm “những tòa nhà là những bộ máy để con người sinh sống trong đó” (Le Corbusier). Kết quả là hàng loạt nhà cao tầng, những khối bê tông như hộp diêm cao ngất ra đời. Ai cũng biết là sau đó, người ta lại phải đem thiên nhiên vào cuộc sống: trồng cây bên trong, hình thể bắt chước thiên nhiên, gắn kính phản chiếu trời mây, giếng trời… thậm chí bây giờ càng có thiên nhiên, càng giống thiên nhiên càng tốt.
Trong thi ca, nghệ thuật và trong cuộc sống hàng ngày, chẳng ai dám nói: em xinh như một chiếc điện thoại di động (mà có thể, em xinh như một con sóc), em sáng như một cái đồng hồ vàng (mà: em sáng như mặt trăng), em trắng và sạch như bột giặt (mà, em trắng sạch như sương, như tuyết), anh hùng ví như một đập thủy điện (mà, anh hùng ví như rừng, như núi), anh oai nghi như một chiếc Rolls Royce (mà, anh oai nghi như một vị thần, một ông vua). Tại sao trong tâm thức bình thường của con người, thiên nhiên vẫn quý giá, trang trọng hơn những vật phẩm do con người chế tạo ra? Có phải chăng, dù đã đi qua văn minh nông nghiệp để đến văn minh công nghiệp và bây giờ là văn minh tri thức, con người vẫn bị thiên nhiên ám ảnh, vẫn không thể tách lìa khỏi thiên nhiên? Có phải chăng, thân con người hẳn là không tách lìa được với thiên nhiên, với đất nước gió lửa mà tâm con người, những nội dung để nó tư duy cũng lấy thiên nhiên làm căn bản? Những lý thuyết khoa học mới như lý thuyết về hỗn độn, lý thuyết về phức hợp, toán học fractal, toán học về tai biến, tính toàn đồ… chẳng phải là những quan niệm lấy từ thiên nhiên sao?
Thiên nhiên là môi trường để con người sống, học tập và phát triển toàn diện. Thế mà trong bốn thế kỷ vừa qua, thế giới Tây phương bằng lòng tham lam, hiếu chiến và bạo động đã làm thay đổi toàn bộ thiên nhiên trái đất theo một chiều hướng xấu, để trái đất phải kêu cứu. Kinh tế và kỹ thuật công nghiệp không xấu, nhưng khi được sử dụng bằng lòng tham, hiếu chiến và bạo động thì đã trở thành xấu. Chính vì thế mà Hồng y Gianfranco Girotti của Vatican Thiên Chúa giáo, tác nhân quan trọng nhất của nền văn minh Tây phương, đã giới thiệu danh sách bảng tội lớn nhất trong thời hiện đại: ngoài những tội lỗi căn bản có từ xưa, (như trộm cắp, ngoại tình, lăng mạ người khác…) còn thêm vào các tội “lạm dụng hủy hoại môi trường, chủ nghĩa tiêu dùng không lành mạnh, biến đổi gen…” (TTCT, 23/3/08).
“Lần đầu tiên trong lịch sử, thế giới tự nhiên chúng ta để lại cho con cháu mình sẽ tệ hại hơn rất nhiều so với cái thế giới tự nhiên mà chúng ta thừa kế từ cha mẹ… Chúng ta đang sử dụng hành tinh này như thể không hề có ngày mai… Phí tổn vào thiên nhiên được tính bằng không” (Chủ nghĩa tư bản phiên bản 3.0 – Peter Burnes – 2006, Nguyễn Đình Huy dịch. NXB Trẻ).
Theo khảo sát thực hiện ở 16 nước châu Á, có đến 9/10 người Singapore thú nhận không hạnh phúc và chịu quá nhiều áp lực trong cuộc sống (TT,21/3/2008).
Mới đây theo một nhà kinh tế khảo sát ở Mỹ, cho thấy hạnh phúc tăng theo GDP, nhưng đến một mức hơn hai mươi mấy ngàn USD thì bắt đầu gây rắc rối, thậm chí có khi đến chỗ mất hạnh phúc. Xem thêm: Tại sao người Mỹ chưa được hạnh phúc? (Peter Burnes, trang 37).
2. Thiên nhiên là sự sống
Tại sao vào ngày nghỉ người ta thích đi chơi ở giữa thiên nhiên hơn là ở trong những thành phố? Nhật đã tạo ra những “cô” rôbốt đem bia, cà phê tới cho khách hàng, nhưng vài tuần đầu còn thấy thích vì lạ, sau đó người ta – có lẽ người ta ở mọi nước – lại muốn “cô cà phê” thật hơn.
Chúng ta thích thiên nhiên vì nó có sự sống, nghĩa là có đổi thay, bất ngờ và tiến hóa. Người ta có thể ngồi cả buổi chỉ để nhìn biển, nghe sóng biển, vì biển có sự sống, sự thay đổi, không lặp lại. Mandelbrot, nhà toán học tiên phong đã làm việc ở IBM cuối thập niên 1960 và thập niên 1970 nói: “Những áng mây không phải là khối cầu, ngọn núi không phải là khối nón, bờ biển không phải là đường cong, mặt gỗ, không trơn nhẳn, tia sét không đi theo đường thẳng”. (Tư duy chiến lược và khoa học mới, trang 97, Irène Sanders, Chu Tiến Ánh dịch, Tri thức 2006). Như vậy, toán học chỉ là những biểu tượng hóa cao độ – nhưng chỉ xấp xỉ – về các sự vật trong đời sống, chứ không phải là chính đời sống.
Với thiên nhiên bên trong, sự sống bên trong thân thể mình, chúng ta thường ít đồng cảm với nó. Chỉ khi nào đau ở đâu đó chúng ta mới chú ý đến nó. Chỉ khi nào ngọp thở, chúng ta mới để ý đến hơi thở và mới biết quý trọng từng hơi thở. Cái thiên nhiên bên trong làm gì, tự tổ chức ra sao, hài hòa với nhau như thế nào trong suốt cả cuộc đời, chúng ta không biết. Chúng ta rất thiếu hiểu biết và thương yêu. Chẳng hạn đến khi thiên nhiên bên ngoài kêu cứu, trái đất bị hư hoại sắp đến chỗ không thể cứu chữa, sự việc này trực tiếp đe dọa cuộc sống của thiên nhiên bên trong của chúng ta, sinh mạng chúng ta, chúng ta mới chịu dừng bớt cơn khát khao có cho thật nhiều, tiêu xài cho thật nhiều bằng cách bóc lột thiên nhiên không kể gì đến sự sống của nó.
Không những thân thể phát xuất từ thiên nhiên, thức ăn nuôi sống lấy từ thiên nhiên, mà cả tâm hồn chúng ta, nội dung của nó cũng bắt nguồn từ thiên nhiên: chúng ta biết hình tròn từ mặt trăng mặt trời, sự mát lạnh từ dòng sông, màu lục từ lá cây, biết sự sống từ mầm hạt, cây cối. Có lẽ thiên nhiên là một nguyên mẫu (archetype, chữ của Carl Jung) nào đó mà con người đã bỏ quên, đã đánh mất trong quá trình tham lam chiếm đoạt của mình.
Nếu ngày nay chúng ta có thể hãnh diện vì trí năng của loài người, trí quyển (noosphère) – hay theo Karl Popper, cái thế giới thứ ba (world 3 hay third world) – đang chuyển hóa và bao trùm toàn bộ trái đất, thì trí quyển đó vẫn phải dựa vào thiên nhiên (nghĩa là địa quyển và sinh quyển (geosphère và biosphere), vì chúng ta không thể nào tạo ra một nguyên tử từ hư không được, vì với những nguyên tử có sẵn chúng ta không thể tạo ra sự sống được. Ngược lại, chúng ta (nói theo Đông Á là Nhân) phải dựa vào thiên nhiên (Địa), từ nguyên tử, đến AND đến vũ trụ để tìm hiểu thế giới và chính con người chúng ta.
H.Rolston viết trong cuốn Triết học đi về miền hoang dã: “Thiên nhiên được coi là hệ thống sinh thái (ecosystem) thì không bao giờ gồm bất kỳ sự hoang dã với ý nghĩa không tốt nào, cũng không bao gồm trong đó sự thoái hóa và càng không thể bao gồm bất kỳ sự vô nghĩa nào. Ngược lại, nó bao gồm thể cộng đồng sinh mệnh đẹp đẽ, hoàn chỉnh và ổn định” (Tìm hiểu triết học tự nhiên, trang 73 – Nguyễn Đình Cửu biên soạn – NXB Hà Nội, 2006).
Như vậy thiên nhiên là một cộng đồng sinh mệnh tiến hóa bao gồm cả sinh mệnh và sự tiến hóa của loài người. Nói cách khác, thiên nhiên là dạng sự sống căn bản và phổ quát là nền tảng cho sự sống con người. Chúng ta thích thiên nhiên vì thế, nó và chúng ta cùng chung một nguồn gốc sự sống và tiến hóa.
Chúng ta cần cải tạo thiên nhiên, nhưng phải cải tạo theo hướng thêm sự sống cho con người và cả thiên nhiên – đó là hướng đi chung của toàn vũ trụ – chứ không phải làm cho thiên nhiên kém sự sống rồi chết. Bạo động và tàn sát thiên nhiên là bước đầu của lòng hiếu chiến, bước thứ hai là đối với đồng loại của mình. Từ ái và hài hòa với thiên nhiên là bước đầu để mở rộng hiểu biết và thương yêu, bước thứ hai là đối với người khác, anh em của mình.
Đánh mất và cắt đứt với thiên nhiên là đánh mất và cắt đứt với chính con người của mình. Văn học Tây phương thế kỷ XX với gam màu chủ đạo là cô đơn, phân mảnh, xa lạ, trơ nặng… đã nói lên điều đó.
3. Hạnh phúc là sống hài hòa với thiên nhiên
Arnold Toynbee là một sử gia hàng đầu Tây phương trong thế kỷ XX. Ông viết bộ A Study of History trong 38 năm (1934 – 1972) gồm 12 cuốn.
Trong cuốn cuối cùng có tính cách đúc kết và nhận định về các nền văn minh, ông viết:
“Chỉ đơn thuần mức độ công nghiệp hóa hay cơ khí hóa của một xã hội sẽ có ít ý nghĩa hơn là mức độ thành công của xã hội đó trong việc tìm ra giải pháp cho các vấn đề ô nhiễm, cạn kiệt các tài nguyên và căng thẳng xã hội, hiện nay đang là những vấn đề không thể giải quyết được của hệ thống công nghiệp. Có thể tương lai sẽ đưa ra câu trả lời không phải của phương Tây cho vấn đề mà ban đầu là do phương Tây đặt ra cho thế giới”. (trang 372)
Và ông vừa tiên kiến vừa hy vọng:
“Kiểu sống bùng nổ của phương Tây là động, kiểu sống làm hóa đá của Trung Hoa (nói chung là của cả Đông phương, nói thêm của người viết) là tĩnh. Nếu ưu thế hiện nay của phương Tây tiếp tục – có vẻ như vậy, dưới ánh sáng của các sự kiện tương tự đang diễn ra – thì trong sự tương đồng hóa và pha trộn văn hóa, có thể tưởng tượng rằng tính động của phương Tây có thể kết hợp với tính tĩnh của Trung Hoa theo một tỷ lệ, tỷ lệ đó sẽ sinh ra một lốo sống mới cho toàn thể nhân loại không chỉ cho phép nhân loại tồn tại mà còn bảo đảm cả hạnh phúc của nhân loại nữa (trang 400, bản tiếng Việt, NXB Thế giới, 2002).
Einstein đã từng nói: “Điều kỳ diệu nhất của thế giới là con người có thể hiểu biết thế giới”. Chúng ta có thể nói thêm: Điều kỳ diệu nhất của thế giới là con người có thể hiểu biết và thương yêu thế giới.
Hiểu biết và thương yêu thế giới, đó có phải là phẩm tính và sứ mạng cao cả nhất của con người? Hiểu biết và thương yêu thế giới, đó có phải là hạnh phúc lớn nhất và trường cửu nhất của con người?
Ai cũng dễ thấy là chừng nào con người còn đối kháng với thiên nhiên, xem thiên nhiên là một địch thủ hay một tên nô lệ vô tri vô giác, hoặc ngược lại, con người bị thiên nhiên áp bức làm nô lệ cho thiên nhiên, khi ấy không có hạnh phúc. Hạnh phúc là sống với và sống cùng, tức là sống hài hòa với thiên nhiên. Sự hài hòa này không phải là trở về với một thiên nhiên vô tri và hoang dã, mà là kết hợp với toàn thể sự sống trong đó thiên nhiên là một mặt căn bản và trọng yếu.
Chỉ trích hai câu của hai nhà hiền triết Trung Hoa cách đây 2.500 năm: “Vạn vật đều đầy đủ nơi ta, quay lại nơi bản thân mà thành tựu, không gì vui lớn hơn” (Mạnh Tử), và “Trời đất cùng với ta sanh ra, vạn vật với ta là Một” (Trang Tử). Đó là nguyên lý “Thiên, Địa, Nhân nhất thể” của văn minh Đông Á. Có điều quan niệm về Thiên, cái siêu việt, cái thực tại tối thượng và tối hậu của Trung Hoa vẫn còn chưa cao sâu và rộng lớn. Chẳng hạn, Thiên của Lão Tử là Đạo, mà Đạo thì “quy văn viết tĩnh” (chương 16). Chưa thoát khỏi cái tĩnh mà Toynbee đã nói có phần e ngại ở trên. Trong khi đó, Thiên với Đại thừa là tánh Không, mà tánh không thì vượt khỏi động – tĩnh, đồng thời có mặt ở trong cả động lẫn tĩnh.
Lăng Tự Đức ở Huế được người Pháp xem là “ một bài thơ của kiến trúc”. Chúng ta thấy ở đó có sự hài hòa và thông thương lẫn nhau giữa Địa Nhân Thiên. Sự hài hòa ở chỗ sâu thẳm của tâm hồn con người với toàn bộ thực tại - từ cái hữu hình đến cái vô hình, từ sự sống sơ khai đến sự sống cao nhất và trường cửu nhất – đây hẳn là hạnh phúp lớn nhất, chúng ta tìm thấy trong kinh nghiệm của Tuệ Trung Thương Sĩ đời Trần:
Tâm của vạn vật tức Phật tâm
Pật tâm bèn với tâm ta hiệp
Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim
( Phật Tâm Ca)
Lý tưởng của Đông phương là vậy mà của Tây phương cũng vậy: tất cả triết học từ Hy Lạp cho đến khoa học ngày nay đều là tìm kiếm để hiểu biết cái chất thể căn bản nào đã sinh ra vũ trụ và qua tiến trình tìm hiểu ấy, phát triễn thái độ hài hòa với toàn thể vũ trụ. Nhân loại vẫn luôn lqà một trong khát vọng, trong hướng đi, trong sự tiến hóa của mình.
Đã qua rồi những hăm hở khai thác, xài phí và tàn phá trái đất. Họ đã thấy ra lỗi lầm của mình và bây giờ mở miệng ra và nói sinh thái, môi trường, thân thiện với môi trường. Trong khi đó những nưuớc còn kém phát triễn như Trung Quốc, Việt Nam… trong cơn khát làm giàu của mình đã không nương tay với thiên nhiên. Chỉ riêng tỉnh Khánh Hòa, VTV1 kêu ca về việc xây những khách sạn cao tầng chắn giữa bờ biển và thành phố; báo Tuổi Trẻ nói về làm nhà máy thép sẽ bị phá hư vịnh Vân Phong. Tại sao? Tại vì thiếu hiểu biết và thương yêu. Thiếu hiểu biết và thương yêu với then nhiên và trước mắt với con cháu đời sau. Hơn nữa thiếu cái tinh thần Đông phương.
Trở lại với tỷ lệ Tây phương và Đông phương, đó cũng là tỷ lệ của hạnh phúc như Toynbee nói ở trên. Hiện nay người Âu Mỹ đang thực hiện tỷ lệ đó bằng chính việc nghiên cứu và sống theo đạo Phật, một nguồn minh triết Đông phương còn sống động và phát triễn khắp thế giới. Còn chúng ta? Chúng ta sẽ chỉ thực hiện được tỷ lệ đó bằng cách sống được những tinh túy của đạo Phật vốn là văn hóa chủ lực đã tạo một đất nước Việt Nam. Và nếu chúng ta có đủ hiểu biết, đủ thương yêu, đủ phương tiện khéo léo, biết đâu cái tỷ lệ Tây phương và Đồng dương của chúng ta sẽ là mẫu mực cho một thế giới toàn cầu hóa? Bởi vì do hoàn cảnh lịch sử chúng ta chậm phát triển theo chiều hướng Tây phương hóa, và do đó chúng ta có quyền chọn lựa một tỷ lệ tốt nhất cho riêng mình, đồng thời tránh được những say mê quá đà mà Tây phương đã mắc phải và đang sửa sai.
Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 55 | NGUYỄN THẾ ĐĂNG
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015
AN BÌNH TRONG BÃO TỐ
Ðược sinh ra làm người là một cái phước, nhưng làm người không phải là dễ, vì luôn luôn phải đối phó với mọi vấn đề đa đoan trong đời sống. Ai cũng muốn được sống thỏa thích theo ý mình, nhưng những ước muốn đó phải được cân bằng với những liên hệ ràng buộc và bổn phận đối với gia đình, xã hội và chính bản thân mình.
Cuộc sống càng văn minh, càng sinh ra nhiều nhu cầu và ràng buộc. Thế giới càng văn minh, càng sinh ra nhiều bất an. Chiến tranh, khủng bố, tội ác bạo tàn luôn luôn đe dọa đời sống của chúng ta, không kể những thiên tai càng ngày càng khốc liệt do hiện tượng hâm nóng địa cầu, hậu quả của kỹ nghệ hóa gây ra. Văn minh kỹ thuật đem lại những tiện nghi lý tưởng, cũng như cải thiện tuổi thọ và sức khỏe của con người, nhưng cũng có mặt trái của nó. Sự lệ thuộc vào máy móc quá nhiều sẽ làm mất đi tính tự do trong đời sống. Phương tiện truyền thông hoàn hảo và nhanh chóng lan tuyền đi những cái xấu và nguy hiểm nhiều không thua gì những cái tốt. Hiện tượng hoàn cầu hóa cải thiện đời sống kinh tế cho các quốc gia, nhưng cũng gây ra những tệ nạn và thảm cảnh do sự du nhập lực lượng lao động trên khắp thế giới. Cái đẹp bao giờ cũng đi đôi với cái xấu, ưu điểm bao giờ cũng đi đôi với khuyết điểm, hai cái đối nghịch nhau nhưng luôn luôn song hành với nhau như ngày và đêm, như ánh sáng và bóng tối. Ðó là đời sống, là bản chất của mọi hiện tượng.
Trong tình huống đó, con người phải sống như thế nào để có được hạnh phúc và sự an bình? Người ta thường mong mỏi có một nơi chốn an lành để sống, hoặc cầu cho mọi sự bao giờ cũng tốt đẹp, được nhiều an lạc. Nhưng không phải lúc nào an lạc cũng đến với chúng ta. Ðời người như một giòng sông, có lúc lên thác xuống ghềnh, có lúc êm đềm chẩy trôi, và khi ở trong giòng nước cuốn của nghịch cảnh, nhiều khi không có đủ sức mạnh để vượt qua. Nhưng chúng ta không thể nào chối bỏ được nghịch cảnh, vì đó cũng là một mặt của đời sống.
Ngay trong kiếp nhân sinh cũng tiềm ẩn sẵn những yếu tố của sự đau khổ và bất như ý, với tiến trình sinh, lão, bệnh, tử. Dù có tiền tài, danh vọng, có một hạnh phúc nhân gian lý tưởng, một ngày nào đó hạnh phúc ấy cũng sẽ không còn nữa, và khi đó không khỏi thấy sợ hãi và đau khổ. Tuy nhiên, dù thân có bệnh, có già và chết, nhưng tâm thì vô tướng, vô hình, không có bệnh, già, và chết. Cho nên hạnh phúc do duyên hợp chỉ là hư ảo, tạm thời, còn hạnh phúc trong tâm mới là miên viễn. Hạnh phúc đó là ở nơi tâm bình an. Phật Pháp có câu: “Tâm bình, thế giới bình”. Sự bất an là do những tư tưởng, cảm xúc khởi động trong tâm đối trước cảnh, nếu không trụ vào và bị lôi cuốn theo chúng thì tâm sẽ được vững chãi, yên ổn, và có thể tạo ra một thế giới an bình cho chính mình, dù hoàn cảnh có thế nào chăng nữa. Một câu chuyện ý nghĩa về hòa bình được kể lại như sau:
“Xưa có một vị vua nọ treo giải thưởng cho người nào vẽ nên bức tranh về hòa bình đẹp nhất. Nhiều họa sĩ cùng nhau thi thố tài năng. Sau khi xem qua một lượt những bức vẽ dự thi, vị vua chọn ra hai bức ưng ý nhất. Bây giờ, ông ta phải chọn một trong hai bức này để trao giải.
Bức thứ nhất là cảnh hồ yên tĩnh. Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương soi, được bao bọc xung quanh bởi những ngọn núi cao ngất. Phía trên cao là bầu trời xanh thẳm với những dải mây trắng lững lờ trôi. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều nghĩ rằng đây hẳn là bức tranh tả cảnh hòa bình tuyệt vời nhất.
Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi. Nhưng chúng trông trần trụi và khô cằn. Bên trên là bầu trời giận dữ. Mưa, sấm chớp thi nhau chui ra từ những cuộn mây đen kịt. Bên dưới, một thác nước lớn đang gào thét. Trong bức tranh này chẳng kiếm đâu ra một chút êm ả.
Thế nhưng, khi vị vua nhìn kỹ vào bức tranh thứ hai, ông ta phát hiện ở phía sau thác nước có một tổ chim nhỏ đang bám vào đá. Trong tổ, một con chim mẹ đang gắp từng cọng cây xây tổ của nó. Ơû nơi đó, giữa tiếng ầm ầm của nước, chim mẹ vẫn bình yên trú trong ngôi nhà của mình.
Bạn biết cuối cùng vị vua đã chọn bức tranh nào rồi chứ? Bức tranh thứ hai, đúng vậy! “Bởi vì”, vị vua giải thích, “hòa bình không có nghĩa là ở một nơi không có tiếng ồn ào, không có những vấn đề rắc rối hay gánh nặng công việc. Hòa bình có nghĩa là ở trong tất cả những điều đó nhưng vẫn cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn.”
Trong “Nhập đạo tứ hạnh quán” của Tổ sư Ðạt Ma, có nói về hai thái độ sống cần có để được tự tại. Ðó là “Báo oán hạnh” và “Tùy duyên hạnh” . Báo oán hạnh là chấp nhận nghịch cảnh, vì biết đó là nhân quả chúng ta đã tạo ra. Vì vậy khi quả xấu đến chấp nhận chúng với tâm rộng mở không oán than. “Tùy duyên hạnh” là biết mọi sự do duyên hợp đều vô thường, khi duyên hết phước hay họa rồi cũng sẽ qua đi, nên tâm vẫn bất động trước những xao động của cuộc đời.
Chúng ta hãy như con chim nhỏ, kiên trì xây dựng tổ ấm của mình trong bão tố. Tổ ấm ấy, nếu xây dựng trên nền tảng ý thức tâm linh, sẽ mãi mãi là nơi nương tựa vững chắc nhất cho chúng ta trong tất cả mọi biến đổi vô thường của cuộc đời.
Ngọc Bảo
Cuộc sống càng văn minh, càng sinh ra nhiều nhu cầu và ràng buộc. Thế giới càng văn minh, càng sinh ra nhiều bất an. Chiến tranh, khủng bố, tội ác bạo tàn luôn luôn đe dọa đời sống của chúng ta, không kể những thiên tai càng ngày càng khốc liệt do hiện tượng hâm nóng địa cầu, hậu quả của kỹ nghệ hóa gây ra. Văn minh kỹ thuật đem lại những tiện nghi lý tưởng, cũng như cải thiện tuổi thọ và sức khỏe của con người, nhưng cũng có mặt trái của nó. Sự lệ thuộc vào máy móc quá nhiều sẽ làm mất đi tính tự do trong đời sống. Phương tiện truyền thông hoàn hảo và nhanh chóng lan tuyền đi những cái xấu và nguy hiểm nhiều không thua gì những cái tốt. Hiện tượng hoàn cầu hóa cải thiện đời sống kinh tế cho các quốc gia, nhưng cũng gây ra những tệ nạn và thảm cảnh do sự du nhập lực lượng lao động trên khắp thế giới. Cái đẹp bao giờ cũng đi đôi với cái xấu, ưu điểm bao giờ cũng đi đôi với khuyết điểm, hai cái đối nghịch nhau nhưng luôn luôn song hành với nhau như ngày và đêm, như ánh sáng và bóng tối. Ðó là đời sống, là bản chất của mọi hiện tượng.
Trong tình huống đó, con người phải sống như thế nào để có được hạnh phúc và sự an bình? Người ta thường mong mỏi có một nơi chốn an lành để sống, hoặc cầu cho mọi sự bao giờ cũng tốt đẹp, được nhiều an lạc. Nhưng không phải lúc nào an lạc cũng đến với chúng ta. Ðời người như một giòng sông, có lúc lên thác xuống ghềnh, có lúc êm đềm chẩy trôi, và khi ở trong giòng nước cuốn của nghịch cảnh, nhiều khi không có đủ sức mạnh để vượt qua. Nhưng chúng ta không thể nào chối bỏ được nghịch cảnh, vì đó cũng là một mặt của đời sống.
Ngay trong kiếp nhân sinh cũng tiềm ẩn sẵn những yếu tố của sự đau khổ và bất như ý, với tiến trình sinh, lão, bệnh, tử. Dù có tiền tài, danh vọng, có một hạnh phúc nhân gian lý tưởng, một ngày nào đó hạnh phúc ấy cũng sẽ không còn nữa, và khi đó không khỏi thấy sợ hãi và đau khổ. Tuy nhiên, dù thân có bệnh, có già và chết, nhưng tâm thì vô tướng, vô hình, không có bệnh, già, và chết. Cho nên hạnh phúc do duyên hợp chỉ là hư ảo, tạm thời, còn hạnh phúc trong tâm mới là miên viễn. Hạnh phúc đó là ở nơi tâm bình an. Phật Pháp có câu: “Tâm bình, thế giới bình”. Sự bất an là do những tư tưởng, cảm xúc khởi động trong tâm đối trước cảnh, nếu không trụ vào và bị lôi cuốn theo chúng thì tâm sẽ được vững chãi, yên ổn, và có thể tạo ra một thế giới an bình cho chính mình, dù hoàn cảnh có thế nào chăng nữa. Một câu chuyện ý nghĩa về hòa bình được kể lại như sau:
“Xưa có một vị vua nọ treo giải thưởng cho người nào vẽ nên bức tranh về hòa bình đẹp nhất. Nhiều họa sĩ cùng nhau thi thố tài năng. Sau khi xem qua một lượt những bức vẽ dự thi, vị vua chọn ra hai bức ưng ý nhất. Bây giờ, ông ta phải chọn một trong hai bức này để trao giải.
Bức thứ nhất là cảnh hồ yên tĩnh. Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương soi, được bao bọc xung quanh bởi những ngọn núi cao ngất. Phía trên cao là bầu trời xanh thẳm với những dải mây trắng lững lờ trôi. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều nghĩ rằng đây hẳn là bức tranh tả cảnh hòa bình tuyệt vời nhất.
Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi. Nhưng chúng trông trần trụi và khô cằn. Bên trên là bầu trời giận dữ. Mưa, sấm chớp thi nhau chui ra từ những cuộn mây đen kịt. Bên dưới, một thác nước lớn đang gào thét. Trong bức tranh này chẳng kiếm đâu ra một chút êm ả.
Thế nhưng, khi vị vua nhìn kỹ vào bức tranh thứ hai, ông ta phát hiện ở phía sau thác nước có một tổ chim nhỏ đang bám vào đá. Trong tổ, một con chim mẹ đang gắp từng cọng cây xây tổ của nó. Ơû nơi đó, giữa tiếng ầm ầm của nước, chim mẹ vẫn bình yên trú trong ngôi nhà của mình.
Bạn biết cuối cùng vị vua đã chọn bức tranh nào rồi chứ? Bức tranh thứ hai, đúng vậy! “Bởi vì”, vị vua giải thích, “hòa bình không có nghĩa là ở một nơi không có tiếng ồn ào, không có những vấn đề rắc rối hay gánh nặng công việc. Hòa bình có nghĩa là ở trong tất cả những điều đó nhưng vẫn cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn.”
Trong “Nhập đạo tứ hạnh quán” của Tổ sư Ðạt Ma, có nói về hai thái độ sống cần có để được tự tại. Ðó là “Báo oán hạnh” và “Tùy duyên hạnh” . Báo oán hạnh là chấp nhận nghịch cảnh, vì biết đó là nhân quả chúng ta đã tạo ra. Vì vậy khi quả xấu đến chấp nhận chúng với tâm rộng mở không oán than. “Tùy duyên hạnh” là biết mọi sự do duyên hợp đều vô thường, khi duyên hết phước hay họa rồi cũng sẽ qua đi, nên tâm vẫn bất động trước những xao động của cuộc đời.
Chúng ta hãy như con chim nhỏ, kiên trì xây dựng tổ ấm của mình trong bão tố. Tổ ấm ấy, nếu xây dựng trên nền tảng ý thức tâm linh, sẽ mãi mãi là nơi nương tựa vững chắc nhất cho chúng ta trong tất cả mọi biến đổi vô thường của cuộc đời.
Ngọc Bảo
Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015
CÂU CHUYỆN THIỀN SƯ
Trong cuộc đời tu hành của các Tỳ Kheo cũng gặp nhiều chuyện vui buồn. Vì các Ngài còn ở thế gian sống chung với loài người, xã hội nên chuyện đời thường cũng theo đó mà đến với các Ngài trong hành trình tu tập. Mỗi vị sư lúc hành đạo hay hoá độ có một cách hóa giải khác nhau. Có Thầy dạy những điều mà người dù phạm lỗi cũng biết ăn năn hối cải (Cải tà quy chánh) trở lại con đường ngay. Cũng có Thầy chừng ấy câu chuyện nhưng không hoá giải được, đem đến bình an và hướng thiện cho kẻ lầm đường lạc lối. Qua câu chuyện Phật dưới đây ta mới thấy sự quan trọng, giá trị của hành động và lời nói, nhất là các bậc chân tu:
Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này lên mà về cho đở lạnh. Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm.Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi."
Hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm hôm qua đó, xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẽ nói: “cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Chúng ta thấy Thiền sư trong một lúc vừa làm theo LƯƠNG TÂM của một con người đứng trước một kẻ nghèo khó, bần cùng đi vào đạo tặc, cũng vừa là một nhà tu mở lòng từ bi thương chúng sanh bằng PHẬT TÂM. Hầu hết tất cả tôn giáo đưa ra giáo lý gần như giống nhau, chẳng hạn là: khuyên răn dạy dỗ, làm lành lánh dữ, cải ác tùng thiện, nhằm đạt mục tiêu, kiến tạo xã hội, an ninh trật tự, bình yên hạnh phúc. Nói chung, để đạt cứu cánh hoàn thiện, hầu hết tôn giáo, đều dạy con người, sống với "LƯƠNG TÂM" của con người. Nói đến PHẬT TÂM lại có khác , chúng ta tin Phật, thờ Phật, cúng Phật, lạy Phật, chưa hẳn là Phật Tử chân chánh, dù tại gia hay xuất gia. Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Tin tưởng Như Lai mà không hiểu Như Lai, tức là phỉ báng Như Lai".
Nếu những người chỉ biết, tin tưởng Như Lai, tức là tin Phật, như là tin tưởng, một vị Thần linh, hay là Thượng đế, quyền năng tối thượng, ban phước những ai, cầu nguyện phụng thờ, lễ lạy tin theo, sẵn sàng giáng họa, những ai không tin, không chịu thờ lạy, những người như vậy, chỉ là những người, phỉ báng đạo Phật, Đức Phật hoàn toàn bác bỏ kiểu cách tôn thờ như thế. Những người như vậy, chẳng hiểu biết gì, Chánh Pháp đạo Phật, dù họ ở chùa, hay ở tại gia cũng không mang đúng ý nghĩa giáo lý của Như Lai .
Nói đến Tâm Phật thì ai cũng cho là dễ nắm bắt, nhưng sự thật đem ra hành trì mới là điều khó. Như câu chuyện vị quan muốn hiểu thế nào là tâm Phật như sau:
Ngày xưa, có một vị quan Tể Tướng đến tham vấn đạo, muốn được biết cốt tủy của đạo Phật, làm sao có thể tóm gọn được tam tạng giáo kinh điển nhà Phật. Một vị Thiền Sư bèn chỉ dạy bài kệ, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, như sau:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Nghĩa là:
Việc ác không làm
Làm các việc thiện
Giữ tâm thanh tịnh
Đúng lời Phật dạy.
Vị quan đó nói:
-Như vậy dễ quá, con nít lên tám, cũng có thể biết.
Thiền sư từ tốn:
-Con nít lên tám, có thể biết được, ông già tám mươi, suốt đời thực hành, cũng vẫn chưa xong!
Thực vậy, biết suông nói suông, việc gì cũng dễ, nhưng thực hành được, một cách chu toàn, mới thực là khó. Hơn nữa, chúng ta nên biết rằng: Người nào thực hành được hai câu đầu của bài kệ, đó chính là người có lương tâm ở trên thế gian này. Còn người nào thực hành được đến câu thứ ba của bài kệ, đó chính là người sống được với Phật Tâm, còn được gọi là bản tâm thanh tịnh của con người. Đó mới chính thực là cứu cánh của đạo Phật.
Tại sao Vị Thiền sư thấy tên trộm vào chùa ăn cắp không hô hoán là Trộm..... mà còn kiên nhẫn chờ cho tên trộm đi ra mà tặng cho chiếc áo của Thầy đang mặc, như là san sẻ bớt sự thiếu thốn bằng tình người. Bằng hành động cởi áo và lời nói hiền từ:
“Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này lên mà về cho đở lạnh."
Dù đó chỉ là một hành động của con người đứng trước LƯƠNG TÂM khi thấy kẻ đói rách phải ăn trộm. Nhưng đó không phải là việc làm đạt được theo đúng con đường của Đức Phật dạy. Điều mà Thầy chợt nghĩ đến khi Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi." chính ý nghĩ này là Thầy ao ước thể hiện TÂM PHẬT.
Tặng áo chỉ là vật chất có giá trị bên ngoài, tất cả rồi cũng VÔ THƯỜNG và bị huỷ hoại. Chỉ có TÂM mới là hòn ngọc quý giá muôn đời không bị thoái hoá theo thời gian khi một lòng kiên cố nắm giữ hạnh lành. Điều mà Thầy ao ước, lo nghĩ, hối hận đã cảm hoá sự giác ngộ của tên trộm khi thọ cảm việc làm của Thiền sư mà thấy được con đường ngay bằng chính tấm lòng quay về chánh pháp. Đúng vậy! Hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm hôm qua đó, xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẽ nói : “cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Thiền sư đã "tặng anh ta cả vầng trăng sáng" đó chính là TÂM PHẬT có giá trị gấp cả triệu lần của chiếc áo mới chỉ là thể hiện lòng thương xót của LƯƠNG TÂM. Phật giáo đang hoá độ và hướng dẫn con người đạt đến TÂM PHẬT nhiều hơn là thể hiện vì TÂM TỪ.
PCCom Nguyen
Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này lên mà về cho đở lạnh. Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm.Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi."
Hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm hôm qua đó, xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẽ nói: “cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Chúng ta thấy Thiền sư trong một lúc vừa làm theo LƯƠNG TÂM của một con người đứng trước một kẻ nghèo khó, bần cùng đi vào đạo tặc, cũng vừa là một nhà tu mở lòng từ bi thương chúng sanh bằng PHẬT TÂM. Hầu hết tất cả tôn giáo đưa ra giáo lý gần như giống nhau, chẳng hạn là: khuyên răn dạy dỗ, làm lành lánh dữ, cải ác tùng thiện, nhằm đạt mục tiêu, kiến tạo xã hội, an ninh trật tự, bình yên hạnh phúc. Nói chung, để đạt cứu cánh hoàn thiện, hầu hết tôn giáo, đều dạy con người, sống với "LƯƠNG TÂM" của con người. Nói đến PHẬT TÂM lại có khác , chúng ta tin Phật, thờ Phật, cúng Phật, lạy Phật, chưa hẳn là Phật Tử chân chánh, dù tại gia hay xuất gia. Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Tin tưởng Như Lai mà không hiểu Như Lai, tức là phỉ báng Như Lai".
Nếu những người chỉ biết, tin tưởng Như Lai, tức là tin Phật, như là tin tưởng, một vị Thần linh, hay là Thượng đế, quyền năng tối thượng, ban phước những ai, cầu nguyện phụng thờ, lễ lạy tin theo, sẵn sàng giáng họa, những ai không tin, không chịu thờ lạy, những người như vậy, chỉ là những người, phỉ báng đạo Phật, Đức Phật hoàn toàn bác bỏ kiểu cách tôn thờ như thế. Những người như vậy, chẳng hiểu biết gì, Chánh Pháp đạo Phật, dù họ ở chùa, hay ở tại gia cũng không mang đúng ý nghĩa giáo lý của Như Lai .
Nói đến Tâm Phật thì ai cũng cho là dễ nắm bắt, nhưng sự thật đem ra hành trì mới là điều khó. Như câu chuyện vị quan muốn hiểu thế nào là tâm Phật như sau:
Ngày xưa, có một vị quan Tể Tướng đến tham vấn đạo, muốn được biết cốt tủy của đạo Phật, làm sao có thể tóm gọn được tam tạng giáo kinh điển nhà Phật. Một vị Thiền Sư bèn chỉ dạy bài kệ, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, như sau:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Nghĩa là:
Việc ác không làm
Làm các việc thiện
Giữ tâm thanh tịnh
Đúng lời Phật dạy.
Vị quan đó nói:
-Như vậy dễ quá, con nít lên tám, cũng có thể biết.
Thiền sư từ tốn:
-Con nít lên tám, có thể biết được, ông già tám mươi, suốt đời thực hành, cũng vẫn chưa xong!
Thực vậy, biết suông nói suông, việc gì cũng dễ, nhưng thực hành được, một cách chu toàn, mới thực là khó. Hơn nữa, chúng ta nên biết rằng: Người nào thực hành được hai câu đầu của bài kệ, đó chính là người có lương tâm ở trên thế gian này. Còn người nào thực hành được đến câu thứ ba của bài kệ, đó chính là người sống được với Phật Tâm, còn được gọi là bản tâm thanh tịnh của con người. Đó mới chính thực là cứu cánh của đạo Phật.
Tại sao Vị Thiền sư thấy tên trộm vào chùa ăn cắp không hô hoán là Trộm..... mà còn kiên nhẫn chờ cho tên trộm đi ra mà tặng cho chiếc áo của Thầy đang mặc, như là san sẻ bớt sự thiếu thốn bằng tình người. Bằng hành động cởi áo và lời nói hiền từ:
“Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này lên mà về cho đở lạnh."
Dù đó chỉ là một hành động của con người đứng trước LƯƠNG TÂM khi thấy kẻ đói rách phải ăn trộm. Nhưng đó không phải là việc làm đạt được theo đúng con đường của Đức Phật dạy. Điều mà Thầy chợt nghĩ đến khi Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi." chính ý nghĩ này là Thầy ao ước thể hiện TÂM PHẬT.
Tặng áo chỉ là vật chất có giá trị bên ngoài, tất cả rồi cũng VÔ THƯỜNG và bị huỷ hoại. Chỉ có TÂM mới là hòn ngọc quý giá muôn đời không bị thoái hoá theo thời gian khi một lòng kiên cố nắm giữ hạnh lành. Điều mà Thầy ao ước, lo nghĩ, hối hận đã cảm hoá sự giác ngộ của tên trộm khi thọ cảm việc làm của Thiền sư mà thấy được con đường ngay bằng chính tấm lòng quay về chánh pháp. Đúng vậy! Hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm hôm qua đó, xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẽ nói : “cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Thiền sư đã "tặng anh ta cả vầng trăng sáng" đó chính là TÂM PHẬT có giá trị gấp cả triệu lần của chiếc áo mới chỉ là thể hiện lòng thương xót của LƯƠNG TÂM. Phật giáo đang hoá độ và hướng dẫn con người đạt đến TÂM PHẬT nhiều hơn là thể hiện vì TÂM TỪ.
PCCom Nguyen
Theo Thuvienhoasen
Cảm ơn Google
Như một thiện duyên, tôi khởi sự viết tản văn khi đã lớn tuổi. Dầu cho tâm thế là nhẹ nhàng khi viết, nhưng nhiều lúc cứ tự trách mình, sao trí nhớ mình dở để đến nỗi những gì mình đọc, những gì mình nghe bị cuốn đi đâu; thế là khi viết, phải đi tìm tài liệu, rồi đi hỏi. Vì vậy, tôi rất phục những người có trí nhớ tốt, lại càng khâm phục những người nghiên cứu, vốn đã nhớ nhiều, lại có nguồn tư liệu dồi dào, biết cách sắp xếp tài liệu, sách vở khoa học, tiện dụng cho mình, để đến khi ai hỏi vấn đề gì thì nhớ đến gốc, và nếu có, thì xuất ra ngay.
Phần tôi, sách vở thì không đến nỗi nghèo nàn, nhưng tìm tài liệu trong những gì mình có thì rất mất thì giờ, chưa kể đến đông tây kim cổ nào ai biết nơi đâu.
Thế mà may mắn thay, ngoài sách và tài liệu có sẵn, tôi đã có nguồn tư liệu, mênh mông như biển cả, đó là nhờ Google. Đương nhiên tôi phải cảm ơn Google. Ngày nay, internet thì ai cũng biết, Google bây giờ đã trở thành phổ thông; tuy thế, khai thác Google thì tùy nhu cầu, tùy từng người, tùy trình độ sử dụng. Đã sử dụng công cụ Google, cho nên tôi phải trở về ngọn ngành một chút để tìm hiểu công cụ đó.
Đầu tiên, vào năm 1996, Google như là một công trình nghiên cứu về tìm kiếm thông tin trên internet của Larry Page và Sergey Brin, hai nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Stanford (Hoa Kỳ). Về mặt tổ chức, Google được thành lập ngày 7-9-1998 lấy một ga-ra xe hơi làm trụ sở. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên internet. Hiện nay, trụ sở của Google đặt tại Mountain View, California. Tên “Google” là một lối chơi chữ của từ googol, đó là số bằng 10100 (số 10… 0, gồm có số 1 tiếp theo là 100 con số 0, một số khổng lồ). Google chọn tên này để thể hiện sứ mạng của công ty phải sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Tên của trụ sở Google là Googleplex, cũng lấy tên từ số, có nghĩa là 10googol. Google có giao diện với hơn 100 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt.
Ngoài công cụ tìm kiếm, Google còn có nhiều dịch vụ khác, trong đó có các dịch vụ mà người dùng ở Việt Nam cũng khá quen thuộc như:
Gmail: dịch vụ thư điện tử.
YouTube: đăng tải video và ứng dụng xã hội với video.
Google Translate: công cụ dịch văn bản.
Google Maps: dịch vụ bản đồ, chỉ hướng, định vị trí
các nơi trên thế giới, kể cả đường sá, nhà cửa.
Google Earth: cho phép bạn bay khắp mọi nơi trên Trái đất để xem hình ảnh do vệ tinh truyền, bản đồ, địa hình, kiến trúc 3D, đại dương và thậm chí cả các thiên hà trong vũ trụ.
Ngoài ra, Google còn có sản phẩm trình duyệt web, gọi là Google Chrome, cạnh tranh với Internet Explorer và Firefox, và đã thiết lập một mạng xã hội lấy tên Google+ vào tháng 6/2011 được nhiều người tham dự (25 triệu người sau 4 tuần hoạt động).
Google cũng tiến công vào điện thoại di động bằng sản phẩm điện thoại Nexus One, cộng tác với hãng điện thoại HTC, chạy trên nền hệ điều hành Android 2.1, được cho là đối thủ cạnh tranh ngang hàng với iPhone của Apple.
Mới đây, Google đạt được một thành tựu trong lưu trữ dữ liệu và trong tương lai không xa, sẽ rất phổ biến cho người sử dụng máy tính và điện thoại di động, đó là Google Drive (tạm dịch: ổ đĩa Google). Lâu nay, bạn lưu trữ dữ liệu phổ biến là ổ cứng, sau đó là ổ đĩa CD, DVD, và các thẻ nhớ USB. Những nơi lưu trữ như thế có hình thù vật lý cụ thể. Nay, Google cung cấp một ổ đĩa ảo trên Internet – gọi là Google Drive – cho người sử dụng với 5GB miễn phí, còn nếu muốn dung lượng cao hơn (25GB, 100GB) thì phải trả phí. Với dữ liệu trên ổ đĩa này, người sử dụng có thể truy cập bất cứ ở nơi đâu mà không cần đem laptop hoặc USB, và nếu máy tính có sự cố gì, người sử dụng không sợ mất gia tài của mình. Tôi cũng thử tiện ích này và đã gửi gắm những bài văn và tư liệu của tôi cho GoogleDrive giữ giùm. Kiểu lưu trữ “trên mây” này tương tự như iCloud của Apple trên điện thoại di động. Hơn nữa, Google Drive còn giúp người dùng gửi đi tập tin dung lượng lớn (như phim) mà với cách gửi thông thường theo Gmail thì không làm được.
Phương châm của Google là “Không làm ác” (Don’t be evil) và sứ mạng của Google ngay từ đầu là “tổ chức thông tin trên thế giới và làm cho thông tin trở thành phổ cập và hữu ích rộng rãi cho mọi người”.
Gmail và YouTube là các công cụ quen thuộc nhất. Riêng công cụ Google Maps, ta dễ dàng xem những địa danh được thể hiện trên bản đồ như thế nào, và cách đây 5 năm, trong một dịp đi Mỹ, tôi ngạc nhiên đến sững sờ khi được ngồi trên xe đi qua trùng điệp núi non và bình nguyên, băng băng trên xa lộ để đi đến thăm người thân tại nơi xa mà mọi người trên xe, kể cả lái xe, chưa từng đến bao giờ. Chỉ nhờ có ông… Google chỉ đường, chỉ trên từng cây số, chỉ đến con đường và số nhà của nơi đến!
Còn chuyện thư điện tử, thật tuyệt vời! Điện thoại với nhau là phương tiện nhanh nhất, nhưng e-mail vẫn là nhanh chóng, mà viết hết ý, cẩn thận, kỹ càng, lưu giữ được, không những lời lẽ mà còn hình ảnh; không những gửi cho một người mà còn nhiều người, và trong những người muốn gửi, có người nhận chính, có người nhận để đọc cho biết, có người nhận mà người gửi không muốn những người khác biết. E-mail là nhịp cầu trao đổi tri thức và bài vở giữa những người dầu xa xôi vạn dặm. E-mail làm cho báo chí mở rộng mạng lưới cộng tác viên khắp bốn phương trời. Thật ra, không chỉ cóGoogle, mà rất nhiều công ty phần mềm khác cũng có dịch vụ thư điện tử, tuy nhiên Gmail của Google và Yahoo!Mail là công cụ được người bình thường ở Việt Nam dùng nhiều. Kinh nghiệm cho thấy Gmail chuyển tải tốc độ nhanh, dung lượng lớn, và ra tay dẹp bỏ các thư “rác”. Ngoài ra, Gmail còn cung cấp một dịch vụ tuyệt vời là chuyện trò trên mạng (Chat).
Nhưng chung quy, công cụ tìm kiếm của Googlethường được mọi người sử dụng nhiều nhất. Cũng như hầu hết những người sử dụng máy vi tính và internet, vào máy là thường hỏi “ông”Google về đủ vấn đề, từ lịch sử đến văn hóa, văn học, văn nghệ, từ khoa học đến triết học, tôn giáo, phong tục, nếp sống… từ chuyện nước mình đến chuyện năm châu bốn biển, từ chuyện ngày xưa đến chuyện ngày nay… Hỏi gì“ông”cũng trả lời, và rất nhanh, rất nhiều đáp án, và may mắn nếu có đáp án theo đúng đòi hỏi của mình. Tất nhiên, không phải bao giờ ông cũng đáp đúng vì gia tài của “ông” tuy mênh mông những trang web nhưng làm sao lường hết những câu hỏi của con người. Vậy mà nhiều lúc cũng hay, không đến đúng địa chỉ cần đến thì Google đưa đến những địa chỉ láng giềng, nhiều khi có nội dung hay hay, bất ngờ.
Nhờ Google, tôi trở về ký ức những ngày xưa bằng cách tìm về Cổ học tinh hoa, về Quốc văn giáo khoa thư, rồi truyện của Tự lực văn đoàn; tôi trở về thời trẻ khi được đọc lại trên mạng thơ của Hữu Loan, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… Những thơ văn đậm đà hương vị quá khứ vẫn không thể sánh bằng nhạc, ôi, trên mạng, mênh mông là nhạc, gợi nhớ một chiều lang thang bên dòng sông Hương, chiều một mình qua phố, tôi đưa em sang sông… tha hồ là kỷ niệm, tha hồ mà thêu dệt dĩ vãng!
Nhờ Google, tôi xem được các website Phật giáo, từ những trang gần gũi như Liễu Quán, Giác Ngộ, Phật tử Việt Nam, Đạo Phật ngày nay,… đến những trang xa xôi như Thư viện Hoa Sen, như các website đặt máy chủ bên Âu Mỹ Úc; gần gũi hay xa xôi không tính đến khoảng cách địa lý mà ở các vị chủ biên và quản trị mạng đứng chân trên địa bàn nào. Khó thống kê hết những website này vì nhiều quá. Trăm hoa đua nở. Nhiều website có bài nhiều, cập nhật liên tục. Tự nhiên mà mình có được một gia tài kiến thức Phật học quá đồ sộ. Thử đánh vào ô từ khóa “Phật pháp căn bản”, (vào ngày 2/12/2012) Google cho ra khoảng chừng 16.300.000 kết quả, sau 0,16 giây, bao gồm các trang web có hết 4 từ đó, hoặc có ít nhất một trong 4 từ đó, có dấu tiếng Việt hoặc không dấu; tất nhiên có những trang web đề cập đến chủ đề, nhưng cũng có rất nhiều kết quả chẳng có dính dáng gì đến Phật pháp căn bản. Bạn chỉ chọn lọc những gì cần tìm, và riêng chừng đó cũng rất phong phú. Cùng với sách báo Phật giáo, các trang web là nguồn kiến thức Phật học tuyệt vời giúp mình củng cố, nâng cao hiểu biết, đồng thời các trang web này giúp người xem thấm đượm văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo qua những bài văn, phóng sự, truyện ngắn, bài ca…; ngoài ra, còn biết được những thông tin, thời sự về Phật giáo trong nước và nước ngoài, những pháp môn, hình thái tu tập đa dạng; và vô cùng trân quý những viên ngọc trong xã hội, những người quên mình phụng sự đạo và đời. Tôi cũng không quên cảm ơn Google đã dẫn tôi đến những từ điển online để tra từ một cách nhanh chóng, hơn là phải lật những cuốn từ điển dày cộm tốn nhiều thời gian.
Kho tàng trên mạng như biển cả, mà tôi chỉ là dân đánh bắt ven bờ. Tôi đánh bắt theo định hướng sẵn, nhưng khi vào mạng thì tôi cũng như nhiều người khác, có nhiều lúc lang thang, có khi gặp may, nhưng phần lớn là mất thì giờ. Tôi cũng dễ nhận ra, không phải những thứ mình tìm được trên mạng đã là đúng hoàn toàn. Điều này là dễ hiểu vì tài nguyên trên mạng vẫn là sản phẩm của con người cụ thể, mà sự sai sót là khó tránh khỏi. Ngay cả những trang tự điển Wikipedia cũng đã dành chỗ cho hiệu đính. Những bài thơ, bài văn, lời nhạc… có nhiều chỗ sai, mà người đọc cần phải cẩn thận, nhất là khi sử dụng làm tư liệu cho sáng tác của mình.
Mạng Internet phản ánh sinh hoạt văn hóa, chính trị, xã hội, giải trí, tôn giáo… đa dạng của những con người đông đảo trên hành tinh, những người có học, có kiến thức, sử dụng công nghệ thông tin, trong đó có một số tinh hoa làm chủ những diễn đàn, những khuôn mặt có nhiều ảnh hưởng quần chúng; nhưng đồng thời mạng là sân khấu tự do, chấp nhận những cá nhân riêng lẻ ngoài xã hội tạo ra diễn đàn, blog, thư từ, lập nhóm… Cũng phải kể đến chợ buôn bán đủ thứ thượng vàng hạ cám, dĩ nhiên, kể cả tình dục. Ôi, đủ âm mưu, đủ tình cảm hỷ nộ ái ố. Mà ở đâu,“ông”Google cũng biết. Vậy thì cần tỉnh táo khi nhờ “ông”, chứ không thì “ma đưa lối, quỷ đưa đường”, rồi bị dính virus phá sập chương trình, “xôi hỏng, bỏng không”, máy tính bị treo. Nhưng nói chuyện tỉnh táo, nhiều khi cũng bằng thừa; ngay cả con dao bình thường, mình cũng tỉnh táo, huống hồ phương tiện hiện đại.
Trong cuộc sống, nhiều khi ta dửng dưng trước những tiện nghi hàng ngày bình thường như bật tắt điện, như đi xe, như dùng điện thoại… mà quên rằng để đạt được những tiện nghi như vậy, con người đã vượt qua biết bao tiến bộ khoa học kỳ diệu. Cho đến khi thiếu thốn một cái gì đó… Những ngày lụt bão ở Huế, xe máy vô dụng, điện không có, điện thoại cũng không, tôi mới thấy thấm thía nỗi cô đơn bất đắc dĩ với ánh đèn dầu leo lét trong đêm mưa gió dập dồn. May là cô đơn chỉ ít ngày, mọi chuyện trở lại bình thường, tôi hăm hở bật đèn, mở tivi, nạp pin điện thoại di động, mở máy tính. Thế mới thấy quý những lúc lên mạng và trở lại dùngGoogle.
Ôi, Google, người bạn đường ảo thân thiết của tôi, người giúp việc đắc lực của tôi, hầu như ngày nào tôi cũng kết với ông bạn này, nhưng si mê vì ông, thì xin không. Thế giới của tôi là những người thân xung quanh, là xã hội phức tạp ngoài kia, là nắng mưa, gió sương, là cây cỏ, sông nước muôn trùng… với nhiều niềm vui và lắm nỗi đau. Tuy thế, tôi cảm ơn trí tuệ của con người, kết tụ từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ bộ óc vĩ đại này đến tài năng xuất chúng khác, đã cho con người một công cụ tuyệt vời để san sẻ hiểu biết và kết nối mọi người một cách nhanh chóng và dễ dàng. ■
Cao Huy Hóa
Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015
BẾN THỜI GIAN
Mới cuối thu mà trời đã lạnh, lạnh cả nhân gian và cả lòng người. Cơn gió đầu đông thấm mình qua cửa sổ, đùa trên má hôn trên môi, nghe toàn thân giá buốt. Gió không hẹn mà về từng cơn buồn da diết, thu chưa đi đông đứng đợi tự bao giờ, hành trang mang theo vài vạt nắng còn đọng lại, ngõ hoa xanh giờ phủ một màu vàng. Chiếc lá lìa cành bay trong chơ vơ lạc lõng rơi xuống lòng đất lạnh, âm thầm nhắc nhở cõi vô thường lẫn khuất đâu đây. Tiễn thu đi chỉ có gió cùng mây, thêm chút lạnh điểm màu thương nhớ, dẫu không hẹn nhưng sang năm thu sẽ đến, dẫu không chờ thu vẫn ghé thăm, dẫu vô tình thu vẫn bám theo không nỡ, dẫu hững hờ thu môt dạ không buông. Ừ thu nhỉ, vẫn như ngày nào mới gặp, đầy mộng mơ, sương khói mong manh, vẫn mượt mà tha thướt, nhung lụa như mây trời ôm ấp, dịu dàng nhắn bảo không nguôi.
Người đứng đợi, có dịp còn đứng đợi, bến thời gian, bến nghiệt ngã nẽo phân ly. Vô sự hay đa đoan, ta mãi còn trốn chạy.
Ta bước đi giữa hai bờ mê ngộ, bên triền đồi bên hố thẳm cô liêu. Ta đứng giữa hai bờ lơ lững ấy, nghe trên ngàn gió trổi nhạc điệu vi vu, nhìn trước ngó sau trông xa về chốn củ, vẫn dòng đời, dòng xuôi ngược nẽo nhân gian, tâm thức miên man đêm ngày réo gọi, nước mắt, nụ cười hiu hắt trọn đêm thâu, vẫn là những bến đợi đến đi mịt mùng trong từng hoang lạnh. Đêm và đêm, rồi lại từng đêm buồn da diết, ngày lại ngày với từng nỗi ngóng trông. Đợi chút nắng sưởi cõi lòng cô quạnh, mơ màng qua lối nhỏ vụt bay, chút nắng rọi cứ thế mà đi mãi, nhìn bâng quơ, giọt đắng rụng xuống cõi nhân gian, tìm ở đâu phút giây lắng đọng tuyệt vời còn ở lại?
Hãy để cho từng đêm, từng thu trôi về nơi chốn củ, không hẹn, không chờ, không đợi, không mong. Buông xuống những nhọc nhằn trĩu nặng, an lạc thảnh thơi là ở trong từng chuyển động, mà lòng vẫn nhẹ nhàng không vương vấn sầu lo, buồn hay vui, mất hay còn cũng chỉ là kiếp nhân sinh. Thong dong tấc dạ như mây trời không lưu lại, mây vẫn bay vì mây vẫn phải bay.
Con chim nhỏ giật mình bay lối nhỏ, bóng thời gian chộp lấy mộng không gian, càn khôn đó, bỗng chốc tan vào từng huyễn mộng.
Gió mây ấy, thu ấy, tâm cảnh ấy, năm sau biết còn gặp lại? Hãy hát dùm ta điệu nhạc không lời, hoàng hôn đi không lời ước nguyện, vẫn hương xưa dáng gầy nho nhỏ, trên lối về thở nhịp nét kiêu sa. Ta đứng đợi một ngày mai ấy, nắng lên cao nắng mãi lên cao, con đường ta đi, ta bước sẽ ra sao, hành trang đem theo, đong đếm đo lường còn hay mất, mất làm sao, còn làm sao, rồi làm sao, phải làm sao? Có làm sao, có là bao. Buông.
Là mộng là mơ là thực, hái dòng tư tưởng đem nhét vào dòng chảy của thời gian. Dòng tâm thức ấy, lăn tăn như sóng vỗ, vỗ vào bờ tung những bọt đắng cay, dòng chảy ấy trôi về miền hoang lạnh, ngập trong mây chìm bởi dòng đời, vẫn miệt mài tuôn đổ, có làm sao thì chảy làm sao, chảy đến đâu ta đào đến đó, chảy đến đâu ta thấy đến đó, ôi dòng chảy, điểm không cùng bất tận. Bỏ.
Với tay chạm vào chữ nghĩa, đụng đến những ước lệ của ngôn từ, những đi hoang không đuổi kịp, suy gẫm nhập vào từng lời kinh, hoa nở rộ trên miền tịch lặng. Bỏ hết ngôn từ vướng bận, tìm lại chính mình, thấy được chính mình, đến được nơi thẩm sâu, dày công nghiêm mật, nuôi dưỡng hạt mầm trí tuệ, trông thấy được thực tánh thường tại của các pháp là cả một sự quán chiếu phi thường.
Buông xuống, thảnh thơi, khoảnh khắc lặng thinh tuyệt vời đọng mãi, bặt ngôn ý lặng, trãi dài trên vạn nẽo nhân sinh.
Một sớm đông, còn nướng mình trên giường ngủ, mở mắt, khoảng không vắng lặng im lìm. Ta đang mộng hay bước ra từ cõi mộng, em ngồi đó, mắt lim dim tĩnh lặng, từng lời kinh, từng tiếng niệm Phật, từng hạt giống an lạc, lần qua ngón tay nhỏ, len vào tận tâm thức thẩm sâu. Từ ấy, giật mình ta chợt nghĩ, nếu một mai ta đi về bên ấy, với không gian, thời gian, có được như hiện tại và bây giờ? Đẹp làm sao, tuyệt vời làm sao, em ngồi bên thì thầm khấn nguyện, ta nằm đó nhắm mắt xuôi tay, tiễn ta đi ôi phút giây đẹp não nùng. Vào giây phút đó, lúc đó, có đành lòng mà đi, lưu luyến mà đi, cam lòng mà đi, nhẹ nhàng mà đi, thong dong mà đi? Đàng nào rồi cũng phải ra đi, trước sau gì cũng phải đi, thẳng đường mà đi, cứ thế mà đi, bỏ mà đi, chỉ một lần ra đi nầy mà thôi, quyết không quay trở lại.
Quay lưng lại, hởi những rộn ràng phố thị, ngoảnh mặt làm ngơ, ôi những phiền muộn sầu đau. Nhìn thật lâu, thật sâu vào lòng mình, với chính mình, để thấy tất cả không là gì cả, ung dung cất bước, sen hồng treo gót đỉnh hư vô.
Ta vẫn vậy, sẽ vậy, làm sao vậy, có gì đâu, vẫn vậy mà thôi, vẫn như ngày mới đến, hình hài bé bỏng hoang sơ, vẫn khóc cười một mình trên từng vạn nẽo, cô liêu, cô độc ơi, vẫn đến như thuở nào. Thời gian lặng lẽ trôi, tóc xanh giờ điểm màu sương khói, giật mình tỉnh mộng, hai bờ, hai cõi mê ngộ hãy còn xa. Ừ nhỉ! Con đường đi tới cao cao vượt thoát, là khi cái ta, cái bản ngã, những gì của ta, những gì thuộc về ta, mọi thứ mọi nơi, phải được đẩy xuống tận cùng, quét sạch đốt tan tất cả, chỉ lúc đó ánh sáng giác ngộ mới bùng lên, lối về hoa thơm đong đầy ngập lối.
Một buổi sáng, chút nắng vàng thức dậy, dư âm xưa còn đọng lại bên thềm, con chim nhỏ hót trên cành trơ trọi lá, làm ta vui đời cũng thêm vui. Ở giữa hai bờ mộng thực ấy, tiếng chuông nhẹ rơi miền tịch lặng, cõi sắc không mấy độ khuyết tròn, vang vang miền tục lụy hay niềm lụy tục, hoa vẫn nở, ngàn sao xanh biếc, ánh dương quang đuổi kịp cuối trời không.
Quá khứ, hiện tại, tương lai, cái thì rũ bỏ ra đi tự lúc nào, cái thì đang tung hoành ngang dọc, cái thì hững hờ đếm bước trong mịt mùng xa vắng. Về đâu, với nhớ thương đong đầy phủ kín, về đâu bây chừ, thăm thẳm chiều trôi, về đâu với rộn ràng phố thị, dòng nhân sinh điệp khúc luân hồi. Về đâu, có nơi đâu bình yên cho ta dừng lại, còn nơi đâu để ta đếm bước khúc hoan ca. Buồn ơi ta xin giã biệt, mai kia có đến thôi đừng tìm ta nữa nhé, một lần thôi, ta tạ ơn người, ơn tất cả chúng sanh, cho và nhận, ta cuối đầu lễ tạ mười phương.
Tâm thức đong đưa, những bắt nhịp, những bặt tăm mất lối, chỉ còn lại tiếng vỗ của bàn tay, vỗ đều cùng một nhịp, dồn dập, dội mạnh, dội xối xả vào tận cùng tâm thức. Bùng dậy, bùng lên, vở ra, tỉnh dậy, tỉnh mộng, nghe nức nở cuốn tận ở trời không, bay thật cao về miền tịch lặng.
Gõ thời gian lên tâm thức trinh nguyên, đốt dòng đời, dòng chuyển lưu của tâm ý, nắng bừng dậy, sáng bừng lên, sáng mãi tận thâm sâu. Nghe nhịp thở chuyển mình qua khe lá, giọt sương khuya ướt đẩm bờ vai gầy, đêm buông xuống tựa đầu trên gối chiếc, gối vô thường lên thận phận mong manh. Mưa trên phố vắng, trên đồi hoang, trên hoa lá, cơn gió nhẹ hất tung niềm hy vọng, nhìn xa xăm cõi nhớ đầy thương. Dòng lệ nhỏ đêm nay không về lại, hơi ấm xưa nay cũng đã phai nhòa, huyễn mộng ơi, thôi ta chào mi nhé, hãy đi đi đừng trở lại làm gì. Cô quạnh, quạnh hiu đứng đợi, bến chờ bến đợi cứ buồn thiu, rồi làm sao, có làm sao, còn làm sao chi nữa, mấy nhịp sơn khê, nghìn trùng xa cách, nhưng chưa hề cách xa, còn bao xa.
Xuân đến rộn ràng, ngàn hoa khoe hương sắc, ngõ hoa xưa tô sắc màu dĩ vãng, dẫu mong manh cũng khiến ta gọi mời. Hy vọng một mai, con đường ta đi, cõi ta tới sẽ tươi đẹp hơn, xuân ơi, xin người ở lại cùng ta mãi nhé. Trong một chốc phiêu bồng nhẹ bước, lững thững ta cất lời cùng cây cỏ nhân gian, tâm nhẹ như mây trời không chốn củ, thong dong theo gió cùng bay. Nhẹ như mây, nhẹ một cõi tử sinh, trong như gió, như dòng tâm không vướng bận. Chuyện ngày qua xin để cho ngày qua, ôm mây ngũ giữa trời không một cõi. Không buồn vui, không được mất, chuyện thế nhân, bỏ xuống những lo toan, những nhọc nhằn trĩu nặng, trả tất cả về với tất cả, thênh thang trong cõi an lành.
Những đâm chồi trẩy lộc, sắc màu rực rỡ, ban tặng hào phóng, không hề đắn đo, tất cả đều được nuôi dưỡng từ mẹ đất. Ta sống trên đất, khi chết chôn trong lòng đất, nhưng ta vẫn không học hạnh của đất. Ta ra sức hủy diệt, làm cạn kiệt thiên nhiên, ta đổ mọi thứ xuống đất, đất vẫn cam chịu, vẫn san sẻ, sớt chia, vẫn bốn mùa hoa trái. Từ nhân họa đến thiên tai, đất vẫn an nhiên đón nhận, ban phát không hề than oán, hằn học. Ta học và thực hành hạnh của đất, tâm của ta nếu được như đất, bao dung mở rộng cõi lòng, đón nhận tất cả mọi đến đi, từ hạnh phúc đến khổ đau, buồn vui, được mất như đất, ta sẽ nhẹ nhàng, an lạc, thảnh thơi. Đất tâm, nếu một khi cày bừa thật kỷ,gieo hạt mầm trí tuệ, tưới nước từ bi, thì hoa giác ngộ sẽ nở thật tuyệt vời .
Trên đất và trong lòng đất, có không biết bao vấn nạn, khoắc khoải lo toan, bao lụy phiền đớn đau phủ ngập. Ở trên đất thì gọi là sống, dưới lòng đất thì gọi là chết. Trên mặt đất có khổ, có lo, có vui buồn, nhưng dưới lòng đất, nhắm mắt xuôi tay, muốn sướng, muốn vui, hết giận, hết buồn cũng không còn có dịp. Sống, có là khổ, có là đau, vậy sao ai trong chúng ta cũng muốn sống thêm, sống cho lâu, cho dài, cho thọ, khi nghe đến chết thì cuống cuồng lo sợ? Chết, có là hết nợ hết lo, vậy sao khi nghe đến chết, thấy cảnh chết, lại sợ chết, cứ muốn sống thêm, sống hoài, sống mãi. Đó là điều tự nhiên, lẽ thường, như hoa trái bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông, tuần tự luân chuyển. Sống cho thật tốt, an lành, chết cho thật nhẹ không vấn vương, bằng lòng đi theo nghiệp tác tạo.
Nếu ta biết vừa, sống đủ, biết xã ly, thuận theo, thì ta là đất, là sự sống cao đẹp. Trên đất hay dưới đất, ở đâu, nơi nào chốn nào, ta cũng có mặt hoà cùng khắp chốn mọi nơi, ban trãi cho muôn loài những ích lợi thực dụng. Một khi nhận ra được giá trị đích thực của các pháp, thì có gì để phải lo toan, sợ hãi, có gì để phải được mất sầu lo, an lạc ở hiện tại là điều hiển nhiên.
Một ngày nào đó, đất vở tung ra, đất oằn oại, đất thay da đổi thịt, là vì do ta góp phần phá hủy tiêu diệt, đất không sống được, ta cũng sẽ không thở được. Tâm của ta cũng vậy, ta đổ vào đó mọi thứ bất tịnh, ô nhiễm, nên ta mãi đau khổ. Điều gì cũng vậy, việc gì cũng thế, phải biết chừng mực, ngăn ngừa, ta vượt giới hạn, cố tình cán mức, ta làm ngược lại, tạo tác lung tung, tất nhiên ta phải tự gánh lấy. Không một ai thay ta và chẳng một ai đủ năng lực làm khác đi được, ngoài chính ta, do ta. Chúng ta, chỉ biết nhận vào chứ không cho ra, cầu xin chứ không ban tặng, níu vào chứ không buông ra, liệu chúng ta có được sự an lạc với tâm cảnh như thế?
Rồi hạ đến, những cơn nắng chói chang, đốt cháy không gian, đốt cháy lòng người. Tìm chút gió giữa trưa hè ngộp thở, một chút lạnh với tứ bề nóng dội, sự sống khô kiệt tả tơi, tức tưởi giữa hoang vu ngập nóng. Cơn gió lạ từ đâu ập đến, miên mang vô tận đuổi không gian, mấy độ im lìm cách trở, lòng người nguy biến đầy vơi. Rừng công đức chỉ một sát na nóng vội, đốt thành tro những vun đắp bấy lâu, giây phút bừng lên sân hận thêm sâu, vun rồi đốt nhọc nhằn càng tăng mãi, đốt rồi bồi lại nữa thêm sân.
Nhân tai, thiên họa, cái họa của thiên nhiên không thấm vào đâu, so với cái họa do con người gây ra. Ngày hôm nay chúng ta đang đối diện, sự hận thù chiến tranh, sự băng hoại của đời sống, tham vọng, vô minh ngự trị, tất cả do và đến từ chúng ta. Chỉ cần trong tích tắc, những quả bom nguyên tử, bom chứa vi trùng, bom hóa học, sẽ hủy diệt tất cả. Những nhà khoa học, chỉ dự báo chừng nào và bao giờ, trái đất sẽ bị những thiên thể lao xuống hủy diệt, biến đổi khí hậu sẽ gây tác hại như thế nào, động đất sẽ xảy ra ở đâu, nghĩa là đều có dự tính. Nhưng, những nhà khoa học không thể đoán được sự biến động ở trong tâm của ta, sự vô minh, tham sân si của chúng ta, to chừng nào, lớn chừng nào, lúc nào thì khởi lên, tác hại như thế nào. Sự sống vốn mong manh, lại càng mong manh hơn, chủ nghĩa cá nhân, tôn giáo, cuồng tín, vô minh, liên tục gây rối, góp phần gây khổ đau cho muôn loài. Có phải, bản chất cố hữu ở trong ta là hủy hoại và tướt đoạt, kẻ thù đích thực của chúng ta, ở bên trong hay ở bên ngoài?
Tâm không sáng suốt, cái tâm nặng nề, lo sợ, chất đầy phiền não, tham sân si, tâm không lành mạnh, không kiềm chế, chạy nhảy lăng xăng, không chịu yên tịnh. Nếu cái tâm đó làm chủ, người nào còn cái tâm đó điều khiển, thì sẽ khổ đau, bất an, tự mình thiêu hủy chính mình. Tâm thức của chúng ta bây giờ, nó mưu mô xảo quyệt, nó ranh mãnh, tinh vi, nó có muôn ngàn chiêu thức biến hoá, nó thừa năng lực lừa dối dụ dỗ ta đi vào mê lộ. Môi trường tu tập của ta bây giờ cũng phải đối diện với nhiều biến động, từ thế giới ảo thật khó phân, cám dỗ dẫy đầy, chỉ cần trong sát na lơ là, ta mất tuệ mạng như chơi, phải cẩn trọng, muôn ngàn lần cẩn trọng.
Bốn mùa luân chuyển đến đi, ta sống lặng giữa muôn ngàn trôi nỗi. Bến thời gian, bến đổ của đời người, tuần tự đổi thay, ta sống an giữa bốn bề lộng gió.
Như Hùng
Người đứng đợi, có dịp còn đứng đợi, bến thời gian, bến nghiệt ngã nẽo phân ly. Vô sự hay đa đoan, ta mãi còn trốn chạy.
Ta bước đi giữa hai bờ mê ngộ, bên triền đồi bên hố thẳm cô liêu. Ta đứng giữa hai bờ lơ lững ấy, nghe trên ngàn gió trổi nhạc điệu vi vu, nhìn trước ngó sau trông xa về chốn củ, vẫn dòng đời, dòng xuôi ngược nẽo nhân gian, tâm thức miên man đêm ngày réo gọi, nước mắt, nụ cười hiu hắt trọn đêm thâu, vẫn là những bến đợi đến đi mịt mùng trong từng hoang lạnh. Đêm và đêm, rồi lại từng đêm buồn da diết, ngày lại ngày với từng nỗi ngóng trông. Đợi chút nắng sưởi cõi lòng cô quạnh, mơ màng qua lối nhỏ vụt bay, chút nắng rọi cứ thế mà đi mãi, nhìn bâng quơ, giọt đắng rụng xuống cõi nhân gian, tìm ở đâu phút giây lắng đọng tuyệt vời còn ở lại?
Hãy để cho từng đêm, từng thu trôi về nơi chốn củ, không hẹn, không chờ, không đợi, không mong. Buông xuống những nhọc nhằn trĩu nặng, an lạc thảnh thơi là ở trong từng chuyển động, mà lòng vẫn nhẹ nhàng không vương vấn sầu lo, buồn hay vui, mất hay còn cũng chỉ là kiếp nhân sinh. Thong dong tấc dạ như mây trời không lưu lại, mây vẫn bay vì mây vẫn phải bay.
Con chim nhỏ giật mình bay lối nhỏ, bóng thời gian chộp lấy mộng không gian, càn khôn đó, bỗng chốc tan vào từng huyễn mộng.
Gió mây ấy, thu ấy, tâm cảnh ấy, năm sau biết còn gặp lại? Hãy hát dùm ta điệu nhạc không lời, hoàng hôn đi không lời ước nguyện, vẫn hương xưa dáng gầy nho nhỏ, trên lối về thở nhịp nét kiêu sa. Ta đứng đợi một ngày mai ấy, nắng lên cao nắng mãi lên cao, con đường ta đi, ta bước sẽ ra sao, hành trang đem theo, đong đếm đo lường còn hay mất, mất làm sao, còn làm sao, rồi làm sao, phải làm sao? Có làm sao, có là bao. Buông.
Là mộng là mơ là thực, hái dòng tư tưởng đem nhét vào dòng chảy của thời gian. Dòng tâm thức ấy, lăn tăn như sóng vỗ, vỗ vào bờ tung những bọt đắng cay, dòng chảy ấy trôi về miền hoang lạnh, ngập trong mây chìm bởi dòng đời, vẫn miệt mài tuôn đổ, có làm sao thì chảy làm sao, chảy đến đâu ta đào đến đó, chảy đến đâu ta thấy đến đó, ôi dòng chảy, điểm không cùng bất tận. Bỏ.
Với tay chạm vào chữ nghĩa, đụng đến những ước lệ của ngôn từ, những đi hoang không đuổi kịp, suy gẫm nhập vào từng lời kinh, hoa nở rộ trên miền tịch lặng. Bỏ hết ngôn từ vướng bận, tìm lại chính mình, thấy được chính mình, đến được nơi thẩm sâu, dày công nghiêm mật, nuôi dưỡng hạt mầm trí tuệ, trông thấy được thực tánh thường tại của các pháp là cả một sự quán chiếu phi thường.
Buông xuống, thảnh thơi, khoảnh khắc lặng thinh tuyệt vời đọng mãi, bặt ngôn ý lặng, trãi dài trên vạn nẽo nhân sinh.
Một sớm đông, còn nướng mình trên giường ngủ, mở mắt, khoảng không vắng lặng im lìm. Ta đang mộng hay bước ra từ cõi mộng, em ngồi đó, mắt lim dim tĩnh lặng, từng lời kinh, từng tiếng niệm Phật, từng hạt giống an lạc, lần qua ngón tay nhỏ, len vào tận tâm thức thẩm sâu. Từ ấy, giật mình ta chợt nghĩ, nếu một mai ta đi về bên ấy, với không gian, thời gian, có được như hiện tại và bây giờ? Đẹp làm sao, tuyệt vời làm sao, em ngồi bên thì thầm khấn nguyện, ta nằm đó nhắm mắt xuôi tay, tiễn ta đi ôi phút giây đẹp não nùng. Vào giây phút đó, lúc đó, có đành lòng mà đi, lưu luyến mà đi, cam lòng mà đi, nhẹ nhàng mà đi, thong dong mà đi? Đàng nào rồi cũng phải ra đi, trước sau gì cũng phải đi, thẳng đường mà đi, cứ thế mà đi, bỏ mà đi, chỉ một lần ra đi nầy mà thôi, quyết không quay trở lại.
Quay lưng lại, hởi những rộn ràng phố thị, ngoảnh mặt làm ngơ, ôi những phiền muộn sầu đau. Nhìn thật lâu, thật sâu vào lòng mình, với chính mình, để thấy tất cả không là gì cả, ung dung cất bước, sen hồng treo gót đỉnh hư vô.
Ta vẫn vậy, sẽ vậy, làm sao vậy, có gì đâu, vẫn vậy mà thôi, vẫn như ngày mới đến, hình hài bé bỏng hoang sơ, vẫn khóc cười một mình trên từng vạn nẽo, cô liêu, cô độc ơi, vẫn đến như thuở nào. Thời gian lặng lẽ trôi, tóc xanh giờ điểm màu sương khói, giật mình tỉnh mộng, hai bờ, hai cõi mê ngộ hãy còn xa. Ừ nhỉ! Con đường đi tới cao cao vượt thoát, là khi cái ta, cái bản ngã, những gì của ta, những gì thuộc về ta, mọi thứ mọi nơi, phải được đẩy xuống tận cùng, quét sạch đốt tan tất cả, chỉ lúc đó ánh sáng giác ngộ mới bùng lên, lối về hoa thơm đong đầy ngập lối.
Một buổi sáng, chút nắng vàng thức dậy, dư âm xưa còn đọng lại bên thềm, con chim nhỏ hót trên cành trơ trọi lá, làm ta vui đời cũng thêm vui. Ở giữa hai bờ mộng thực ấy, tiếng chuông nhẹ rơi miền tịch lặng, cõi sắc không mấy độ khuyết tròn, vang vang miền tục lụy hay niềm lụy tục, hoa vẫn nở, ngàn sao xanh biếc, ánh dương quang đuổi kịp cuối trời không.
Quá khứ, hiện tại, tương lai, cái thì rũ bỏ ra đi tự lúc nào, cái thì đang tung hoành ngang dọc, cái thì hững hờ đếm bước trong mịt mùng xa vắng. Về đâu, với nhớ thương đong đầy phủ kín, về đâu bây chừ, thăm thẳm chiều trôi, về đâu với rộn ràng phố thị, dòng nhân sinh điệp khúc luân hồi. Về đâu, có nơi đâu bình yên cho ta dừng lại, còn nơi đâu để ta đếm bước khúc hoan ca. Buồn ơi ta xin giã biệt, mai kia có đến thôi đừng tìm ta nữa nhé, một lần thôi, ta tạ ơn người, ơn tất cả chúng sanh, cho và nhận, ta cuối đầu lễ tạ mười phương.
Tâm thức đong đưa, những bắt nhịp, những bặt tăm mất lối, chỉ còn lại tiếng vỗ của bàn tay, vỗ đều cùng một nhịp, dồn dập, dội mạnh, dội xối xả vào tận cùng tâm thức. Bùng dậy, bùng lên, vở ra, tỉnh dậy, tỉnh mộng, nghe nức nở cuốn tận ở trời không, bay thật cao về miền tịch lặng.
Gõ thời gian lên tâm thức trinh nguyên, đốt dòng đời, dòng chuyển lưu của tâm ý, nắng bừng dậy, sáng bừng lên, sáng mãi tận thâm sâu. Nghe nhịp thở chuyển mình qua khe lá, giọt sương khuya ướt đẩm bờ vai gầy, đêm buông xuống tựa đầu trên gối chiếc, gối vô thường lên thận phận mong manh. Mưa trên phố vắng, trên đồi hoang, trên hoa lá, cơn gió nhẹ hất tung niềm hy vọng, nhìn xa xăm cõi nhớ đầy thương. Dòng lệ nhỏ đêm nay không về lại, hơi ấm xưa nay cũng đã phai nhòa, huyễn mộng ơi, thôi ta chào mi nhé, hãy đi đi đừng trở lại làm gì. Cô quạnh, quạnh hiu đứng đợi, bến chờ bến đợi cứ buồn thiu, rồi làm sao, có làm sao, còn làm sao chi nữa, mấy nhịp sơn khê, nghìn trùng xa cách, nhưng chưa hề cách xa, còn bao xa.
Xuân đến rộn ràng, ngàn hoa khoe hương sắc, ngõ hoa xưa tô sắc màu dĩ vãng, dẫu mong manh cũng khiến ta gọi mời. Hy vọng một mai, con đường ta đi, cõi ta tới sẽ tươi đẹp hơn, xuân ơi, xin người ở lại cùng ta mãi nhé. Trong một chốc phiêu bồng nhẹ bước, lững thững ta cất lời cùng cây cỏ nhân gian, tâm nhẹ như mây trời không chốn củ, thong dong theo gió cùng bay. Nhẹ như mây, nhẹ một cõi tử sinh, trong như gió, như dòng tâm không vướng bận. Chuyện ngày qua xin để cho ngày qua, ôm mây ngũ giữa trời không một cõi. Không buồn vui, không được mất, chuyện thế nhân, bỏ xuống những lo toan, những nhọc nhằn trĩu nặng, trả tất cả về với tất cả, thênh thang trong cõi an lành.
Những đâm chồi trẩy lộc, sắc màu rực rỡ, ban tặng hào phóng, không hề đắn đo, tất cả đều được nuôi dưỡng từ mẹ đất. Ta sống trên đất, khi chết chôn trong lòng đất, nhưng ta vẫn không học hạnh của đất. Ta ra sức hủy diệt, làm cạn kiệt thiên nhiên, ta đổ mọi thứ xuống đất, đất vẫn cam chịu, vẫn san sẻ, sớt chia, vẫn bốn mùa hoa trái. Từ nhân họa đến thiên tai, đất vẫn an nhiên đón nhận, ban phát không hề than oán, hằn học. Ta học và thực hành hạnh của đất, tâm của ta nếu được như đất, bao dung mở rộng cõi lòng, đón nhận tất cả mọi đến đi, từ hạnh phúc đến khổ đau, buồn vui, được mất như đất, ta sẽ nhẹ nhàng, an lạc, thảnh thơi. Đất tâm, nếu một khi cày bừa thật kỷ,gieo hạt mầm trí tuệ, tưới nước từ bi, thì hoa giác ngộ sẽ nở thật tuyệt vời .
Trên đất và trong lòng đất, có không biết bao vấn nạn, khoắc khoải lo toan, bao lụy phiền đớn đau phủ ngập. Ở trên đất thì gọi là sống, dưới lòng đất thì gọi là chết. Trên mặt đất có khổ, có lo, có vui buồn, nhưng dưới lòng đất, nhắm mắt xuôi tay, muốn sướng, muốn vui, hết giận, hết buồn cũng không còn có dịp. Sống, có là khổ, có là đau, vậy sao ai trong chúng ta cũng muốn sống thêm, sống cho lâu, cho dài, cho thọ, khi nghe đến chết thì cuống cuồng lo sợ? Chết, có là hết nợ hết lo, vậy sao khi nghe đến chết, thấy cảnh chết, lại sợ chết, cứ muốn sống thêm, sống hoài, sống mãi. Đó là điều tự nhiên, lẽ thường, như hoa trái bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông, tuần tự luân chuyển. Sống cho thật tốt, an lành, chết cho thật nhẹ không vấn vương, bằng lòng đi theo nghiệp tác tạo.
Nếu ta biết vừa, sống đủ, biết xã ly, thuận theo, thì ta là đất, là sự sống cao đẹp. Trên đất hay dưới đất, ở đâu, nơi nào chốn nào, ta cũng có mặt hoà cùng khắp chốn mọi nơi, ban trãi cho muôn loài những ích lợi thực dụng. Một khi nhận ra được giá trị đích thực của các pháp, thì có gì để phải lo toan, sợ hãi, có gì để phải được mất sầu lo, an lạc ở hiện tại là điều hiển nhiên.
Một ngày nào đó, đất vở tung ra, đất oằn oại, đất thay da đổi thịt, là vì do ta góp phần phá hủy tiêu diệt, đất không sống được, ta cũng sẽ không thở được. Tâm của ta cũng vậy, ta đổ vào đó mọi thứ bất tịnh, ô nhiễm, nên ta mãi đau khổ. Điều gì cũng vậy, việc gì cũng thế, phải biết chừng mực, ngăn ngừa, ta vượt giới hạn, cố tình cán mức, ta làm ngược lại, tạo tác lung tung, tất nhiên ta phải tự gánh lấy. Không một ai thay ta và chẳng một ai đủ năng lực làm khác đi được, ngoài chính ta, do ta. Chúng ta, chỉ biết nhận vào chứ không cho ra, cầu xin chứ không ban tặng, níu vào chứ không buông ra, liệu chúng ta có được sự an lạc với tâm cảnh như thế?
Rồi hạ đến, những cơn nắng chói chang, đốt cháy không gian, đốt cháy lòng người. Tìm chút gió giữa trưa hè ngộp thở, một chút lạnh với tứ bề nóng dội, sự sống khô kiệt tả tơi, tức tưởi giữa hoang vu ngập nóng. Cơn gió lạ từ đâu ập đến, miên mang vô tận đuổi không gian, mấy độ im lìm cách trở, lòng người nguy biến đầy vơi. Rừng công đức chỉ một sát na nóng vội, đốt thành tro những vun đắp bấy lâu, giây phút bừng lên sân hận thêm sâu, vun rồi đốt nhọc nhằn càng tăng mãi, đốt rồi bồi lại nữa thêm sân.
Nhân tai, thiên họa, cái họa của thiên nhiên không thấm vào đâu, so với cái họa do con người gây ra. Ngày hôm nay chúng ta đang đối diện, sự hận thù chiến tranh, sự băng hoại của đời sống, tham vọng, vô minh ngự trị, tất cả do và đến từ chúng ta. Chỉ cần trong tích tắc, những quả bom nguyên tử, bom chứa vi trùng, bom hóa học, sẽ hủy diệt tất cả. Những nhà khoa học, chỉ dự báo chừng nào và bao giờ, trái đất sẽ bị những thiên thể lao xuống hủy diệt, biến đổi khí hậu sẽ gây tác hại như thế nào, động đất sẽ xảy ra ở đâu, nghĩa là đều có dự tính. Nhưng, những nhà khoa học không thể đoán được sự biến động ở trong tâm của ta, sự vô minh, tham sân si của chúng ta, to chừng nào, lớn chừng nào, lúc nào thì khởi lên, tác hại như thế nào. Sự sống vốn mong manh, lại càng mong manh hơn, chủ nghĩa cá nhân, tôn giáo, cuồng tín, vô minh, liên tục gây rối, góp phần gây khổ đau cho muôn loài. Có phải, bản chất cố hữu ở trong ta là hủy hoại và tướt đoạt, kẻ thù đích thực của chúng ta, ở bên trong hay ở bên ngoài?
Tâm không sáng suốt, cái tâm nặng nề, lo sợ, chất đầy phiền não, tham sân si, tâm không lành mạnh, không kiềm chế, chạy nhảy lăng xăng, không chịu yên tịnh. Nếu cái tâm đó làm chủ, người nào còn cái tâm đó điều khiển, thì sẽ khổ đau, bất an, tự mình thiêu hủy chính mình. Tâm thức của chúng ta bây giờ, nó mưu mô xảo quyệt, nó ranh mãnh, tinh vi, nó có muôn ngàn chiêu thức biến hoá, nó thừa năng lực lừa dối dụ dỗ ta đi vào mê lộ. Môi trường tu tập của ta bây giờ cũng phải đối diện với nhiều biến động, từ thế giới ảo thật khó phân, cám dỗ dẫy đầy, chỉ cần trong sát na lơ là, ta mất tuệ mạng như chơi, phải cẩn trọng, muôn ngàn lần cẩn trọng.
Bốn mùa luân chuyển đến đi, ta sống lặng giữa muôn ngàn trôi nỗi. Bến thời gian, bến đổ của đời người, tuần tự đổi thay, ta sống an giữa bốn bề lộng gió.
Như Hùng
Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015
SÂN KHẤU LỊCH SỬ
Lịch sử là một vở kịch mà trong đó các diễn viên luôn thay đổi và trình diễn không ngừng.
Trên sân khấu đó, cái nhìn của người thưởng ngoạn- cũng là diễn viên- được nhận diện khác biệt giữa Tây phương và Đông phương.
Người Tây phương quan niệm trái đất là trung tâm của lịch sử, là sân khấu của vũ trụ, nơi đó, những diễn viên là con người do Thượng đế tạo thành. Mọi nhân vật và diễn biến của vở kịch trường thiên bất tận này đều do ý muốn của Thượng đế. Thượng đế là ai? Ở đâu?, không biết! nhưng đức tin của người Tây phương về một Đấng Toàn Năng nào đó, rất mạnh mẽ. Đấng toàn năng vô hình họ đặt tên là Thượng Đế đó, phải có!chắc chắn phải có mới tạo ra trái đất muôn người, muôn loài này. Khi Thượng đế tạo ra cái gì thì chẳng phải vô tình mà là có chủ ý; nên dù vai trò trên sân khấu này là hạnh phúc hay đau khổ, là cao sang hay nghèo hèn, các diễn viên thường chấp nhận như một sự tuân theo ý Thượng đế vậy!
Nhưng quan niệm của người Đông phương thì khác.
Người Đông phương không hề thấy có ai đó là Thượng đế đạo diễn; Và sân khấu lịch sử này không có lúc bắt đầu, cũng không có điểm kết thúc vì ở đó, không gian và thời gian chỉ là sản phẩm tạo tác từ TÂM.
Đó là đại cương một phần bài giảng trong một ngày quán niệm ở Xóm Mới mà Sư Ông Làng Mai đưa ra.
Những ý tưởng mới mẻ này khiến tôi phấn khởi giở lại những trang kinh mà tôi thường tụng đọc.
Kinh Kim Cương nói, mỗi hạt cát bên bờ sông Hằng lại là một sông Hằng, và kinh Hoa Nghiêm còn nói rộng hơn, là nếu đem bóp nát thế giới này thành bụi thì mỗi hạt bụi đó lại là một thế giới, và trong những thế giới đó không phải chỉ có loài người mà còn có mọi loài khác nữa.
Những lời tuyên giảng này không còn hoang tưởng, mơ hồ, khi văn minh nhân loại càng lúc càng khám phá ra những hành tinh mà trước đây không ai có thể tin là có. Với kỹ thuật tân tiến, sự tìm kiếm không ngừng đưa tới những thành quả bất ngờ. Con người trên trái đất đang chứng minh còn nhiều thế giới khác mà với cái nhìn hạn hẹp khi xưa chưa thấy được.
Sự giao lưu giữa cái thấy về con người và vũ trụ của hai nền văn hóa Đông, Tây đang tiến dần đến lời Đức Phật từng chỉ dạy cách nay ngót hai mươi sáu thế kỷ, là ngoài cõi Ta-bà còn có tam thiên đại thiên thế giới khác nữa.
Cùng trên một sân khấu lịch sử, vai trò của mỗi diễn viên Đông và Tây cũng được nhận diện khá khác nhau.
Người Đông phương, nói chung, và người Phật tử, nói riêng, được nhìn thấy những cánh cửa mở rộng, thực tế, có thể quán sát và cảm nhận trước khi vai trò này được chuyển sang vai trò khác.
Trên sân khấu lịch sử đó, người Đông phương không hề thấy có ai là Thượng đế tham dự vào, mà chỉ do nghiệp tạo ra. Nghiệp khởi từ Ý Nghiệp, tức là Tâm. Tâm như một họa sỹ tự chọn mầu sắc, tự vẽ và hoàn thành những họa phẩm theo ý mình. Ý-nghiệp đều do Tư-duy rồi hình thành Khẩu-nghiệp (lời nói) và Thân-nghiệp (hành động).
Quán chiếu sâu thêm thì Tư bắt đầu từ cái Thấy. Thấy sai đã là Nghiệp chứ không chờ tới Tư mới tạo nghiệp, vì cái Thấy này sẽ rơi vào tàng thức Alaya, được sắp xếp là thức thứ tám trong Duy Thức Học, chứ không mất đi đâu cả. Nếu ta không kịp chánh niệm mà chuyển hóa thì cái thấy sai này sẽ nằm trong kho chứa đó, phục kích, chờ cơ hội là phát khởi ngay thành ác nghiệp!
Cái thấy này lại tùy đối tượng, như cá thấy nước là nhà, người thấy nước là sông suối, chư Thiên thấy nước là thủy tinh, quỷ đói thấy nước là máu …v…v…
Chính cái thấy này của ta mà thực tại sẽ là thiên đường hay địa ngục.
Lãnh tụ Đức Quốc Xã thời xưa thấy người Do Thái là gì mà đẩy hơn sáu triệu người vào lò hơi ngạt ???!!!
Nếu lãnh tụ thời đó là một Phật tử thì chắc chắn thảm kịch kinh hoàng đó không bao giờ xảy ra. Sống để cống hiến hoa trái, hạnh phúc cho đời là ước muốn của mọi người, nhưng do cái thấy khác nhau mà nơi này thiên đàng, nơi kia địa ngục.
Cũng trên sân khấu lịch sử đó, những diễn viên Tây phương tin ở sự sắp đặt của Thượng đế, là họ chỉ có hai con đường, khi vai trò của họ chấm dứt. Đó là, thiện thì lên thiên đàng và ác thì xuống địa ngục. Khi đã về nơi nào rồi thì vĩnh viễn ở đó, không có cơ hội thay đổi nữa.
Những diễn viên phương Đông có nhiều chọn lựa hơn.
Thiện nghiệp hay ác nghiệp đều do tâm tạo chứ không Thượng đế nào chỉ đạo việc này cả, nên khi chuông điểm Ngày Về, nghiệp nào nặng hơn sẽ dẫn ta đi. Thiện nghiệp cũng sẽ về cõi trên, cõi tịnh; ác nghiệp cũng xuống địa ngục, nhưng khác là, lên cõi trên mà không tiếp tục tu tập, hưởng hết phước cũng xuống cõi dưới. Ngược lại, kẻ ở cõi dưới mà biết sám hối, chuyển hóa thì khi hội đủ phước sẽ sanh lên cõi trên.
Cái nhìn của người Đông phương đặt trách nhiệm vào mỗi chủ thể vì Đường Đi, Lối Về do chính tâm của mỗi chủ thể tạo tác ra. Lỡ tạo bất-thiện-nghiệp mà tỉnh giác kịp, chuyển hóa thành thiện-nghiệp thì từ cõi này ta lại sang được cõi kia; có nghĩa là ta có thể dong chơi khắp cõi, tùy trí tuệ hay vô minh của tâm.
Điểm cốt lõi căn bản này chính là ánh sáng Vô-Lượng-Quang giúp người Phật tử hướng thượng, có lầm đường lạc lối mà cơ may gặp thiện-tri- thức nhắc nhở thì cũng biết vội vã sám hối quay về.
Chìa khóa sẵn trong tay mỗi chủ thể.
Mở cánh cửa nào là do chính ta nhận dạng giá trị của cánh cửa đó.
Bên cạnh khả năng tự quán chiếu, người Phật tử còn may mắn được nghe lời Đức Thế Tôn xác quyết rằng:
“Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành.”
Chúng sanh mà Đức Phật nói, chẳng phải riêng loài người mà là mọi loài. Ma-Ba-Tuần ở cõi trời Lục Dục là nơi cao quý, không biết tu tâm cũng đọa địa ngục; trong khi Rồng là loài súc sanh mà lên được đạo tràng vì chí tâm cầu nghe pháp, ngộ được đạo Bồ Đề.
Bông Sen cũng là chúng sanh.
Bông Sen có là Phật sẽ thành không?
Chắc là có.
Một Bông Sen tươi mát, thảnh thơi, đang tỏa hương thanh khiết đã là một vị Phật rồi; Vì Bông Sen đó giúp ai chiêm ngưỡng phút giây toàn bích, toàn thiện của đóa hoa mãn khai, tâm kẻ ấy sẽ an lạc, thanh tịnh, ngát thơm và đẹp đẽ như Tâm Phật.
Huệ Trân
(Cốc Thảnh Thơi, một ngày chớm đông)
Trên sân khấu đó, cái nhìn của người thưởng ngoạn- cũng là diễn viên- được nhận diện khác biệt giữa Tây phương và Đông phương.
Người Tây phương quan niệm trái đất là trung tâm của lịch sử, là sân khấu của vũ trụ, nơi đó, những diễn viên là con người do Thượng đế tạo thành. Mọi nhân vật và diễn biến của vở kịch trường thiên bất tận này đều do ý muốn của Thượng đế. Thượng đế là ai? Ở đâu?, không biết! nhưng đức tin của người Tây phương về một Đấng Toàn Năng nào đó, rất mạnh mẽ. Đấng toàn năng vô hình họ đặt tên là Thượng Đế đó, phải có!chắc chắn phải có mới tạo ra trái đất muôn người, muôn loài này. Khi Thượng đế tạo ra cái gì thì chẳng phải vô tình mà là có chủ ý; nên dù vai trò trên sân khấu này là hạnh phúc hay đau khổ, là cao sang hay nghèo hèn, các diễn viên thường chấp nhận như một sự tuân theo ý Thượng đế vậy!
Nhưng quan niệm của người Đông phương thì khác.
Người Đông phương không hề thấy có ai đó là Thượng đế đạo diễn; Và sân khấu lịch sử này không có lúc bắt đầu, cũng không có điểm kết thúc vì ở đó, không gian và thời gian chỉ là sản phẩm tạo tác từ TÂM.
Đó là đại cương một phần bài giảng trong một ngày quán niệm ở Xóm Mới mà Sư Ông Làng Mai đưa ra.
Những ý tưởng mới mẻ này khiến tôi phấn khởi giở lại những trang kinh mà tôi thường tụng đọc.
Kinh Kim Cương nói, mỗi hạt cát bên bờ sông Hằng lại là một sông Hằng, và kinh Hoa Nghiêm còn nói rộng hơn, là nếu đem bóp nát thế giới này thành bụi thì mỗi hạt bụi đó lại là một thế giới, và trong những thế giới đó không phải chỉ có loài người mà còn có mọi loài khác nữa.
Những lời tuyên giảng này không còn hoang tưởng, mơ hồ, khi văn minh nhân loại càng lúc càng khám phá ra những hành tinh mà trước đây không ai có thể tin là có. Với kỹ thuật tân tiến, sự tìm kiếm không ngừng đưa tới những thành quả bất ngờ. Con người trên trái đất đang chứng minh còn nhiều thế giới khác mà với cái nhìn hạn hẹp khi xưa chưa thấy được.
Sự giao lưu giữa cái thấy về con người và vũ trụ của hai nền văn hóa Đông, Tây đang tiến dần đến lời Đức Phật từng chỉ dạy cách nay ngót hai mươi sáu thế kỷ, là ngoài cõi Ta-bà còn có tam thiên đại thiên thế giới khác nữa.
Cùng trên một sân khấu lịch sử, vai trò của mỗi diễn viên Đông và Tây cũng được nhận diện khá khác nhau.
Người Đông phương, nói chung, và người Phật tử, nói riêng, được nhìn thấy những cánh cửa mở rộng, thực tế, có thể quán sát và cảm nhận trước khi vai trò này được chuyển sang vai trò khác.
Trên sân khấu lịch sử đó, người Đông phương không hề thấy có ai là Thượng đế tham dự vào, mà chỉ do nghiệp tạo ra. Nghiệp khởi từ Ý Nghiệp, tức là Tâm. Tâm như một họa sỹ tự chọn mầu sắc, tự vẽ và hoàn thành những họa phẩm theo ý mình. Ý-nghiệp đều do Tư-duy rồi hình thành Khẩu-nghiệp (lời nói) và Thân-nghiệp (hành động).
Quán chiếu sâu thêm thì Tư bắt đầu từ cái Thấy. Thấy sai đã là Nghiệp chứ không chờ tới Tư mới tạo nghiệp, vì cái Thấy này sẽ rơi vào tàng thức Alaya, được sắp xếp là thức thứ tám trong Duy Thức Học, chứ không mất đi đâu cả. Nếu ta không kịp chánh niệm mà chuyển hóa thì cái thấy sai này sẽ nằm trong kho chứa đó, phục kích, chờ cơ hội là phát khởi ngay thành ác nghiệp!
Cái thấy này lại tùy đối tượng, như cá thấy nước là nhà, người thấy nước là sông suối, chư Thiên thấy nước là thủy tinh, quỷ đói thấy nước là máu …v…v…
Chính cái thấy này của ta mà thực tại sẽ là thiên đường hay địa ngục.
Lãnh tụ Đức Quốc Xã thời xưa thấy người Do Thái là gì mà đẩy hơn sáu triệu người vào lò hơi ngạt ???!!!
Nếu lãnh tụ thời đó là một Phật tử thì chắc chắn thảm kịch kinh hoàng đó không bao giờ xảy ra. Sống để cống hiến hoa trái, hạnh phúc cho đời là ước muốn của mọi người, nhưng do cái thấy khác nhau mà nơi này thiên đàng, nơi kia địa ngục.
Cũng trên sân khấu lịch sử đó, những diễn viên Tây phương tin ở sự sắp đặt của Thượng đế, là họ chỉ có hai con đường, khi vai trò của họ chấm dứt. Đó là, thiện thì lên thiên đàng và ác thì xuống địa ngục. Khi đã về nơi nào rồi thì vĩnh viễn ở đó, không có cơ hội thay đổi nữa.
Những diễn viên phương Đông có nhiều chọn lựa hơn.
Thiện nghiệp hay ác nghiệp đều do tâm tạo chứ không Thượng đế nào chỉ đạo việc này cả, nên khi chuông điểm Ngày Về, nghiệp nào nặng hơn sẽ dẫn ta đi. Thiện nghiệp cũng sẽ về cõi trên, cõi tịnh; ác nghiệp cũng xuống địa ngục, nhưng khác là, lên cõi trên mà không tiếp tục tu tập, hưởng hết phước cũng xuống cõi dưới. Ngược lại, kẻ ở cõi dưới mà biết sám hối, chuyển hóa thì khi hội đủ phước sẽ sanh lên cõi trên.
Cái nhìn của người Đông phương đặt trách nhiệm vào mỗi chủ thể vì Đường Đi, Lối Về do chính tâm của mỗi chủ thể tạo tác ra. Lỡ tạo bất-thiện-nghiệp mà tỉnh giác kịp, chuyển hóa thành thiện-nghiệp thì từ cõi này ta lại sang được cõi kia; có nghĩa là ta có thể dong chơi khắp cõi, tùy trí tuệ hay vô minh của tâm.
Điểm cốt lõi căn bản này chính là ánh sáng Vô-Lượng-Quang giúp người Phật tử hướng thượng, có lầm đường lạc lối mà cơ may gặp thiện-tri- thức nhắc nhở thì cũng biết vội vã sám hối quay về.
Chìa khóa sẵn trong tay mỗi chủ thể.
Mở cánh cửa nào là do chính ta nhận dạng giá trị của cánh cửa đó.
Bên cạnh khả năng tự quán chiếu, người Phật tử còn may mắn được nghe lời Đức Thế Tôn xác quyết rằng:
“Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành.”
Chúng sanh mà Đức Phật nói, chẳng phải riêng loài người mà là mọi loài. Ma-Ba-Tuần ở cõi trời Lục Dục là nơi cao quý, không biết tu tâm cũng đọa địa ngục; trong khi Rồng là loài súc sanh mà lên được đạo tràng vì chí tâm cầu nghe pháp, ngộ được đạo Bồ Đề.
Bông Sen cũng là chúng sanh.
Bông Sen có là Phật sẽ thành không?
Chắc là có.
Một Bông Sen tươi mát, thảnh thơi, đang tỏa hương thanh khiết đã là một vị Phật rồi; Vì Bông Sen đó giúp ai chiêm ngưỡng phút giây toàn bích, toàn thiện của đóa hoa mãn khai, tâm kẻ ấy sẽ an lạc, thanh tịnh, ngát thơm và đẹp đẽ như Tâm Phật.
Huệ Trân
(Cốc Thảnh Thơi, một ngày chớm đông)
http://thuvienhoasen.org/
Hãy biến 2015 là năm của bạn
Mở rộng cánh cửa trái tim với tất cả những gì cuộc sống ban tặng
Là một bác sĩ tâm lý tôi có vinh dự được cùng nhiều người trải qua những thăng trầm cuộc sống của họ. Tôi chứng kiến những niềm vui, sự sợ hãi, tức giận và buồn đau và cả cách mà chúng tôi đương đầu với những cảm xúc đó. Bệnh nhân thường nói với tôi :” Tôi nghĩ việc tôi cần làm là trở nên thật bận rộn, tôi cần phải làm chính mình trở nên bị phân tâm.”
Sự phân tâm tất nhiên cũng có vai trò nào đó. Đôi khi khiến chính bạn trở nên bận rộn với những hoạt động có ý nghĩa như tập thể dục, thời gian với bạn bè hay công việc có thể làm chúng ta dứt khỏi những suy nghĩ miên man trong đầu. Nhưng đôi khi sự phân tâm lại liên quan đến những hoạt động không ý nghĩa cho lắm như lạm dụng rượu, chất gây nghiện, mua sắm, cờ bạc hay tình dục như một cách để cắt những cảm xúc và suy nghĩ.
Nhưng nếu có một cách khác, đơn giản bạn là…chính mình, thì bạn nghĩ sao? Mối quan hệ quan trọng và lâu bền nhất là mối quan hệ giữa bạn và chính bạn. Mối quan hệ này dựa trên sự hiểu biết thân thuộc về chính cơ thể, tư duy, tinh thần và tâm hồn của chính bạn. Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm chúng ta phân tâm khỏi chính mình thì dần dần chúng ta sẽ đánh mất món quà là nuôi dưỡng mối quan hệ đầy yêu thương với người quan trọng nhất cuộc đời bạn.
Dưới đây là một số gợi ý để biến năm 2015 trở thành năm bạn làm quen và hiểu biết chính mình:
1. Sống chậm lại. Đối với một vài người điều này thật đáng sợ! Chúng ta đã quá quen với việc duy trì nhịp sống vội vàng, thường là để làm chính mình phân tâm hay vì sợ bị bỏ lỡ điều gì đó. Bạn hãy để ý kỹ khi nhịp sống của bạn đang quá nhanh hay quá bận rộn. Hãy nói “Không” với các hoạt động không cần thiết hoặc không có ý nghĩa với bạn. Hãy chủ động lựa chọn một khoảng thời gian nào đó trên lịch cá nhân của bạn để nghỉ ngơi. Hãy tạo ra những khoảng đệm giữa các hoạt động để bạn không bị gấp gáp chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác.
2. Khám phá sự tĩnh lặng. Âm thanh của thế giới quanh ta- tiếng mọi người nói chuyện, tiếng nhạc, tiếng con nít, tiếng bíp bíp của máy móc có thể rất ầm ĩ và phiền phức. Âm thanh trong đầu chúng ta- là những dòng suy nghĩ miên man- có thể rất ồn ào. Hãy vặn nhỏ nó lại, hay tốt hơn là để chúng ở chế độ im lặng để được là chính mình. Đây là lúc bạn bắt đầu ý thức được những gì đang diễn ra trong chính bản thân mình. Đây là lúc bạn có thể cảm nhận được nhịp đập của tim hay cảm giác về hơi thở.Đây là lúc bạn có thể cảm nhận những cảm xúc, khao khát hay sự thù ghét đến rồi đi như những đợt sóng thủy triều.
3. Hãy thử thiền định. Mỗi khi bạn thấy thoải mái khi được dừng kết nối với thế giới xung quanh, hãy thử xem thiền định sẽ mang lại cho bạn cảm giác thế nào. Thiền định là cách chúng ta quan sát chính mình một cách từ bi, không phán xét. Bạn có thể bắt đầu bằng bài thiền định ngắn ở tư thế ngồi để tập trung vào cảm nhận hơi thở trong một vài phút. Hãy đừng gây áp lực lên bản thân là phải thiền định theo một cách nhất định nào đó. Và bạn cũng không cần phải biến nó thành một dự định hay mục tiêu nào đó vì nó có thể khiến bạn không thực hiện được. Vì phải có lý do nào đó mà thiền định được coi là cách thực hành, hơn là một kế hoạch. Hãy tìm điểm khởi đầu của riêng bạn và bắt đầu từ điểm đó.
4. Sự từ bi. Là chính mình sẽ không có tác dụng tốt nào cả nếu bạn cứ luôn chỉ trích chính mình. Hãy lập một thỏa ước rằng bạn chỉ dùng những từ ngữ tốt đẹp, yêu thương với chính mình theo cách mà bạn làm với một đứa trẻ hoặc người bạn tốt nhất của mình. Hãy tập tự nâng niu bản thân. Từ bi với chính mình sẽ làm cho bạn hạnh phúc hơn và là nền tảng cho sự từ bi hướng đến người khác được phát triển.
5. Hãy sống một cách tỉnh táo sáng suốt. Hãy tập để bản thân được hòa vào với các trải nghiệm cuộc sống một cách đầy hiếu kỳ và không phán xét. Có một vài cách để bạn được trải nghiệm cuộc sống với sự sáng suốt. Bạn hãy dùng tất cả các giác quan của mình để kết nối với mỗi trải nghiệm cuộc sống một cách chủ động. Ví dụ, trong khi rửa chén đĩa bạn hãy thật sự lắng nghe âm thanh của nước chảy, cảm giác được sự trơn nhỡn của xà phòng rửa chén, ngửi mùi hương của nước rửa chén. Việc dùng các giác quan làm sâu sắc thêm trải nghiệm của chúng ta, nó giúp chúng ta khỏi các suy nghĩ ám ảnh về trận cãi vã với sếp hay lo lắng về lịch làm việc kín mít bận rộn ngày mai. Hay, nếu bạn đang chờ đợi điều gì đó, hãy để cho bản thân chỉ chờ đợi mà không xen vào điều gì khác. Hãy tránh xa điện thoại, hãy tập trung vào hơi thở hay tập trung vào cảm giác bạn đang ở đâu. Khoảnh khắc này là khoảnh khắc duy nhất đang thật sự tồn tại tại đây. Sự sáng suốt giúp chúng ta thật sự sống với khoảnh khắc đó thật sâu và có ý thức.
Những cách này sẽ biến năm 2015 thành năm mà bạn dành để ưu tiên CHÍNH MÌNH và tạo mối quan hệ với chính bản thân bạn. Điều đó không phải ích kỷ! Sống một cách có ý thức và tỉnh táo giúp bạn lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống của mình và luôn trong tư thế sẵn sàng. Hiểu biết bản thân giúp bạn mở cửa trái tim với tất cả những gì cuộc sống ban tặng và với những ai đi ngang qua cuộc đời bạn. Đó không phải là cuộc đua bạn phải chiến thắng hay là một ngọn núi mà bạn phải chinh phục. Đó là hành trình trải nghiệm đẹp đẽ nơi mà bạn có thể bắt đầu lại mới với mỗi thời điểm mới mà chúng ta may mắn có được.
Monisha Vasa, bác sĩ tâm lý về tâm lý và chứng nghiện nói chung tại Orange County, California. Bà tốt nghiệp trường Cum Laude Đại học Northwesten, hoàn thành Khoa Y khoa trường Đại học Illinois at Chicago College of Medicine và khoa Tâm lý và Khoa nghiên cứu về chứng nghiện tại trường Y khoa Cedars-Sinai Medical Center in Los Angeles. Bác sĩ Vasa sống tại Orange County cùng với chồng, hai con và hai chú chó giống Anh. Bà là tác giả của cuốn sách mới dành cho trẻ em, My Dearest One. Để xem thêm thông tin vui lòng vào: www.mindful-healing.com
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Là một bác sĩ tâm lý tôi có vinh dự được cùng nhiều người trải qua những thăng trầm cuộc sống của họ. Tôi chứng kiến những niềm vui, sự sợ hãi, tức giận và buồn đau và cả cách mà chúng tôi đương đầu với những cảm xúc đó. Bệnh nhân thường nói với tôi :” Tôi nghĩ việc tôi cần làm là trở nên thật bận rộn, tôi cần phải làm chính mình trở nên bị phân tâm.”
Sự phân tâm tất nhiên cũng có vai trò nào đó. Đôi khi khiến chính bạn trở nên bận rộn với những hoạt động có ý nghĩa như tập thể dục, thời gian với bạn bè hay công việc có thể làm chúng ta dứt khỏi những suy nghĩ miên man trong đầu. Nhưng đôi khi sự phân tâm lại liên quan đến những hoạt động không ý nghĩa cho lắm như lạm dụng rượu, chất gây nghiện, mua sắm, cờ bạc hay tình dục như một cách để cắt những cảm xúc và suy nghĩ.
Nhưng nếu có một cách khác, đơn giản bạn là…chính mình, thì bạn nghĩ sao? Mối quan hệ quan trọng và lâu bền nhất là mối quan hệ giữa bạn và chính bạn. Mối quan hệ này dựa trên sự hiểu biết thân thuộc về chính cơ thể, tư duy, tinh thần và tâm hồn của chính bạn. Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm chúng ta phân tâm khỏi chính mình thì dần dần chúng ta sẽ đánh mất món quà là nuôi dưỡng mối quan hệ đầy yêu thương với người quan trọng nhất cuộc đời bạn.
Dưới đây là một số gợi ý để biến năm 2015 trở thành năm bạn làm quen và hiểu biết chính mình:
1. Sống chậm lại. Đối với một vài người điều này thật đáng sợ! Chúng ta đã quá quen với việc duy trì nhịp sống vội vàng, thường là để làm chính mình phân tâm hay vì sợ bị bỏ lỡ điều gì đó. Bạn hãy để ý kỹ khi nhịp sống của bạn đang quá nhanh hay quá bận rộn. Hãy nói “Không” với các hoạt động không cần thiết hoặc không có ý nghĩa với bạn. Hãy chủ động lựa chọn một khoảng thời gian nào đó trên lịch cá nhân của bạn để nghỉ ngơi. Hãy tạo ra những khoảng đệm giữa các hoạt động để bạn không bị gấp gáp chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác.
2. Khám phá sự tĩnh lặng. Âm thanh của thế giới quanh ta- tiếng mọi người nói chuyện, tiếng nhạc, tiếng con nít, tiếng bíp bíp của máy móc có thể rất ầm ĩ và phiền phức. Âm thanh trong đầu chúng ta- là những dòng suy nghĩ miên man- có thể rất ồn ào. Hãy vặn nhỏ nó lại, hay tốt hơn là để chúng ở chế độ im lặng để được là chính mình. Đây là lúc bạn bắt đầu ý thức được những gì đang diễn ra trong chính bản thân mình. Đây là lúc bạn có thể cảm nhận được nhịp đập của tim hay cảm giác về hơi thở.Đây là lúc bạn có thể cảm nhận những cảm xúc, khao khát hay sự thù ghét đến rồi đi như những đợt sóng thủy triều.
3. Hãy thử thiền định. Mỗi khi bạn thấy thoải mái khi được dừng kết nối với thế giới xung quanh, hãy thử xem thiền định sẽ mang lại cho bạn cảm giác thế nào. Thiền định là cách chúng ta quan sát chính mình một cách từ bi, không phán xét. Bạn có thể bắt đầu bằng bài thiền định ngắn ở tư thế ngồi để tập trung vào cảm nhận hơi thở trong một vài phút. Hãy đừng gây áp lực lên bản thân là phải thiền định theo một cách nhất định nào đó. Và bạn cũng không cần phải biến nó thành một dự định hay mục tiêu nào đó vì nó có thể khiến bạn không thực hiện được. Vì phải có lý do nào đó mà thiền định được coi là cách thực hành, hơn là một kế hoạch. Hãy tìm điểm khởi đầu của riêng bạn và bắt đầu từ điểm đó.
4. Sự từ bi. Là chính mình sẽ không có tác dụng tốt nào cả nếu bạn cứ luôn chỉ trích chính mình. Hãy lập một thỏa ước rằng bạn chỉ dùng những từ ngữ tốt đẹp, yêu thương với chính mình theo cách mà bạn làm với một đứa trẻ hoặc người bạn tốt nhất của mình. Hãy tập tự nâng niu bản thân. Từ bi với chính mình sẽ làm cho bạn hạnh phúc hơn và là nền tảng cho sự từ bi hướng đến người khác được phát triển.
5. Hãy sống một cách tỉnh táo sáng suốt. Hãy tập để bản thân được hòa vào với các trải nghiệm cuộc sống một cách đầy hiếu kỳ và không phán xét. Có một vài cách để bạn được trải nghiệm cuộc sống với sự sáng suốt. Bạn hãy dùng tất cả các giác quan của mình để kết nối với mỗi trải nghiệm cuộc sống một cách chủ động. Ví dụ, trong khi rửa chén đĩa bạn hãy thật sự lắng nghe âm thanh của nước chảy, cảm giác được sự trơn nhỡn của xà phòng rửa chén, ngửi mùi hương của nước rửa chén. Việc dùng các giác quan làm sâu sắc thêm trải nghiệm của chúng ta, nó giúp chúng ta khỏi các suy nghĩ ám ảnh về trận cãi vã với sếp hay lo lắng về lịch làm việc kín mít bận rộn ngày mai. Hay, nếu bạn đang chờ đợi điều gì đó, hãy để cho bản thân chỉ chờ đợi mà không xen vào điều gì khác. Hãy tránh xa điện thoại, hãy tập trung vào hơi thở hay tập trung vào cảm giác bạn đang ở đâu. Khoảnh khắc này là khoảnh khắc duy nhất đang thật sự tồn tại tại đây. Sự sáng suốt giúp chúng ta thật sự sống với khoảnh khắc đó thật sâu và có ý thức.
Những cách này sẽ biến năm 2015 thành năm mà bạn dành để ưu tiên CHÍNH MÌNH và tạo mối quan hệ với chính bản thân bạn. Điều đó không phải ích kỷ! Sống một cách có ý thức và tỉnh táo giúp bạn lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống của mình và luôn trong tư thế sẵn sàng. Hiểu biết bản thân giúp bạn mở cửa trái tim với tất cả những gì cuộc sống ban tặng và với những ai đi ngang qua cuộc đời bạn. Đó không phải là cuộc đua bạn phải chiến thắng hay là một ngọn núi mà bạn phải chinh phục. Đó là hành trình trải nghiệm đẹp đẽ nơi mà bạn có thể bắt đầu lại mới với mỗi thời điểm mới mà chúng ta may mắn có được.
Monisha Vasa, bác sĩ tâm lý về tâm lý và chứng nghiện nói chung tại Orange County, California. Bà tốt nghiệp trường Cum Laude Đại học Northwesten, hoàn thành Khoa Y khoa trường Đại học Illinois at Chicago College of Medicine và khoa Tâm lý và Khoa nghiên cứu về chứng nghiện tại trường Y khoa Cedars-Sinai Medical Center in Los Angeles. Bác sĩ Vasa sống tại Orange County cùng với chồng, hai con và hai chú chó giống Anh. Bà là tác giả của cuốn sách mới dành cho trẻ em, My Dearest One. Để xem thêm thông tin vui lòng vào: www.mindful-healing.com
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


