Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo
khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân.Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
Lão sống trên chiếc thuyền, trôi giạt hoặc tấp ở đâu đó bất định, nhưng khi cần gặp lão thì cũng không khó. Người ta chỉ việc đứng bên sông, gọi lớn “ông già ơi, ông già ơi!” thì trước sau gì cũng sẽ thấy lão xuất hiện. Không ai biết tên lão, có hỏi lão cũng chỉ cười mà lặng thinh, nên cứ gọi lão là “ông già.” Những bệnh lặt vặt thời tiết, tai nạn cấp cứu… thì trong làng đã có các thầy thuốc bậc trung, bậc hạ, không thiếu. Chỉ các bệnh nan y mà những lang y của làng không chữa nổi, người ta mới rước lão già ấy vào làng, hoặc chịu khó đem bệnh nhân ra bờ sông, đưa lên thuyền của lão để được chữa trị. Mà đã đến tay lão thì bệnh gì cũng khỏi. Cho nên, dù lão chưa bao giờ xưng là y sĩ, bác sĩ, cũng chưa có một bảng hiệu hay giấy chứng nhận, bằng hành nghề, giấy giới thiệu, bảng tuyên dương… nào cả, thiên hạ vẫn mặc nhiên gọi lão một cách tôn kính là “thần y.” Sự xưng tụng ấy không đến tai lão, hoặc có đến nhưng lão bỏ ngoài tai. Tôn hiệu ấy là để nói với nhau khi vắng mặt lão, chứ khi trực tiếp gặp lão, người ta vẫn cứ gọi hai chữ thân mật, gần gũi: “ông già.”
Một hôm có chàng trai trẻ lặn lội từ xa, những mấy ngày đường, đến bên sông, chờ đợi thuyền của lão tấp vào bờ, liền xin được làm học trò của lão. Lão vẫn còn ngồi trên thuyền, im lặng không nói gì, chỉ tiếp tục lui hui nơi bếp lò với một món thuốc nào đó. Chàng tuổi trẻ quỳ sụp dưới đất, tỏ vẻ khẩn khoản, mong cầu. Một chặp, lão già mới nói, tay không ngưng làm việc:
“Ta chưa hề nhận học trò.”
“Con từ làng xa tìm đến thầy, mong thầy phá lệ nhận con, vì nếu thầy không truyền dạy, mai sau nghề của thầy sẽ thất truyền.”
Lão già cười nhạt:
“Con tưởng rằng tay nghề của ta chỉ ở nơi những rễ cây, lá thuốc này hay sao?”
Chàng thanh niên hơi lúng túng, rồi lại nhanh miệng nói:
“Dạ, dạ.. dĩ nhiên không phải chỉ nơi lá thuốc, mà thầy còn châm cứu, bấm huyệt, hướng dẫn thể dục, vận động… con từng nghe như vậy.”
Lão già im lặng. Một lúc, lão vừa chế một loại thuốc vào một cái lọ nhỏ, vừa hỏi:
“Vì mục đích nào mà con muốn học thuốc?”
Chàng thanh niên mừng rỡ, trả lời ngay:
“Dạ, vì lòng hiếu với mẹ, muốn học nghề thuốc để chữa trị bệnh nan y của mẹ.”
Lão già ngưng một lúc lâu, rồi nói, giọng lạnh nhạt:
“Thế à! Bệnh thế nào mà gọi là nan y?”
“Thưa, từ ngày cha của con bệnh nặng, qua đời, mẹ con không ngủ được nữa. Mà chứng bệnh ấy, cũng là chứng bệnh mà cha con mắc phải suốt nhiều năm trước khi mất. Con nghĩ nếu con không học ngành y để chữa bệnh cho mẹ, e có ngày…”
“Không sao đâu,” lão già nói. “Con muốn học gì thì cứ học, bệnh của mẹ con không liên quan gì.”
“Thưa, ý của thầy là thế nào? Dù con có học y dược cũng không chữa trị được cho mẹ hay sao? Thầy chấp nhận con làm học trò rồi, phải không thưa thầy?”
“Không. Ta đã nói ta không nhận học trò.”
“Vậy… thầy nói bệnh của mẹ con không liên quan là ý thế nào, con không hiểu. Có phải là chính thầy cũng không chữa được?”
Lão già xua tay, nói:
“Ý ta là mẹ của con không sao, sẽ còn ở đời nhiều năm nữa chờ đợi chính tay con chữa. Còn việc con học ngành Y… ta cho là không thích hợp. Dù ta có dạy, con cũng không thể là một y sĩ giỏi.”
Chàng thanh niên sửng sốt, trố mắt nhìn lão già một lúc; rồi cúi đầu nhìn đăm đăm dưới đất, sắc diện thay đổi từ đỏ ửng sang tím ngắt… Một hồi lâu, chàng im lặng đứng dậy, từ từ quay đi. Lão già nhìn theo, lắc đầu.
*
Quyết tâm học ngành thuốc cho kỳ được để chữa trị cho mẹ, và cũng để chứng minh cho lão “thần y” thấy rằng lão đã sai, chàng thanh niên tìm đến nhiều vị danh y khác để cầu học. Với trí thông minh chỉ trên trung bình nhưng nhờ chịu khó, và biết tranh thủ nhân tâm, chàng đã lần lượt chiếm được sự tin yêu của nhiều vị y sư với từng chuyên khoa khác nhau; đến nỗi hầu như các y sư đều tận lực dành thời gian và tâm huyết để truyền hết sở học và kinh nghiệm của họ cho chàng.
Mười năm sau, chàng thanh niên trở thành một danh y chữa bá bệnh, mở phòng mạch thật lớn ở thành phố. Không những chữa bệnh, danh y này còn biết cóp nhặt và pha trộn các môn thiền vận động, chú tâm nơi hơi thở và các động tác của thân như thái cực quyền, du-già (yoga), khí công, dưỡng sinh, võ thuật… để lập nên một môn phái gọi là Thiền Y, với châm ngôn “Tự trì, tự trị.” Lý thuyết và sự thực hành của Thiền Y không có gì mới lạ, vì chỉ là sự vay mượn rồi chế biến từ các môn Thiền, Võ và Y đã có sẵn từ ngàn xưa; nhưng hậu ý của Thiền Y là đánh bạt đi tất cả những thiền sư và y sư khác, bằng chủ trương mọi người đều có thể tự hành trì, tự chữa trị, mà không cần thiền sư hay y sư (tự trì, tự trị). Đã có một số môn sinh đến học môn Thiền Y này, với hy vọng tiến đến trình độ “vô sư” – nghĩa là có thể tự độ, tự trị. Nhưng mánh khoé của môn chủ Thiền Y mà đám môn sinh không thể nào biết được, đó là kéo họ ra khỏi vòng ảnh hưởng của các thiền sư và y sư khác, qui tụ về dưới sự dẫn dắt của mình để họ được “tự trì tự trị” mà kỳ thực, suốt cả đời họ vẫn không thể tự độ hay tự trị, vẫn không thể ra khỏi vòng ảnh hưởng của Thiền Y.
Ngoài khả năng chữa bệnh và môn thể dục tổng hợp Thiền – Y, môn chủ còn được các môn sinh ca tụng lòng hiếu thảo, tôn kính gọi “sư phụ” bằng một mỹ danh khác là “Hiếu Y,” tức một y sĩ nổi tiếng vì lòng hiếu, đã dành hết tâm chí và thời gian học ngành Y chỉ vì muốn chữa trị cho mẹ.
Sau mười năm cặm cụi học Y, rồi mười năm nỗ lực tạo danh tiếng, ảnh hưởng của Hiếu Y vẫn còn rất hạn chế, chưa đúng với ý nguyện. Môn sinh theo học vẫn còn lác đác, mà trong số đó cũng chẳng ai xuất sắc; phòng mạch chữa bệnh treo bảng to lớn, mà bệnh nhân cũng xấp xỉ ngang bằng với các y sĩ chung quanh; chưa có gì gọi là nổi trội. Môn sinh của Hiếu Y còn tìm cách mời những thiền sư và y sĩ khác đến nghe môn chủ thuyết giáo, diễn đạt về Thiền Y, mục đích là mượn sự có mặt của các thiền sư và y sĩ kia mà nâng cao uy tín của Hiếu Y. Nhưng rồi những lọc lừa ấy cũng không qua mặt nổi các thiền sư và y sĩ thực thụ. Đâu vẫn hoàn đó, vì thực chất kiến giải và trình độ của Hiếu Y chỉ là sự vay mượn, cóp nhặt.
Thực ra, điều mà Hiếu Y mong mỏi là danh vọng phải hết sức lẫy lừng để cho tiếng đồn có thể lan đến chiếc thuyền của lão thần y trên sông. Nỗi căm giận và lòng tự ái năm xưa, mỗi khi nhớ lại, Hiếu Y vẫn thấy trong lòng sôi lên sùng sục.
Ngày ấy, phòng mạch vắng khách, môn sinh rủ nhau đi dự tiệc vui chơi ở nhà bằng hữu, Hiếu Y cảm thấy nỗi cô đơn trống vắng như bao trùm cả cuộc đời. Khi môn sinh và bệnh nhân quây quần chung quanh, Hiếu Y có cảm giác mình là trung tâm vũ trụ, được mọi người ngước nhìn và lắng nghe với lòng ngưỡng mộ; nhưng khi họ rời khỏi, chàng là con số không, chẳng là gì cả.
Tại sao, tại sao ta chẳng là gì, chẳng thể nào là y sĩ giỏi… như lời lão thần y nói năm xưa! Không thể kềm lòng được nữa, Hiếu Y lặng lẽ lên đường, tìm đến con sông ngày ấy, nơi cách xa phòng mạch của chàng đến mấy trăm dặm.
Lúc ấy là lúc thuận tiện cho Hiếu Y gặp lão già, vì thuyền đang neo bên sông. Lão già vừa xắc những rễ lá đã phơi khô, vừa canh lửa sắc thuốc trong cái siêu nhỏ. Hiếu Y xin được lên thuyền, ngồi nơi mũi thuyền, nhìn chăm chăm vào lão già, nói giọng ngạo nghễ:
“Ông nói tôi không thể là y sĩ giỏi. Bây giờ tôi là danh y, là hiếu y, khắp thiên hạ ai cũng biết.”
Lão già ngưng một chốc, rồi tiếp tục làm thuốc. Hồi lâu, lão nói, giọng rất đỗi từ bi:
“Đã hai mươi năm qua rồi, những gì ta dạy con năm ấy, con vẫn chưa lãnh hội được sao, thật đáng tiếc!”
Hiếu Y đứng bật dậy, nổi sung nói:
“Ông chưa dạy tôi điều gì, tôi chưa học ông cái gì cả! Tất cả thành tựu của tôi là do tôi, do sức và trí của chính tôi! Tôi đến đây hôm nay là để nói ông biết điều ấy, rằng tôi đã thành công, đã là một danh y, không những thế, còn là một hiếu y!”
Nói rồi, Hiếu Y dợm quay đi, tính rời thuyền, thì lão già cười bật lên một tràng. Hiếu Y dừng chân, quay lại chờ đợi xem lão muốn nói gì. Lão thần y vừa cười, vừa nói:
“Nổi tiếng chưa hẳn là giỏi. Ta đã nói rồi, con không thể nào là một lương y, một y sĩ giỏi.”
Hiếu Y đỏ bừng sắc mặt, giận căm, nói không ra lời; nghiến hai hàm răng, hai nắm tay xiết lại, như thể muốn giết lão thần y cho bõ ghét. Nhưng rồi Hiếu Y cũng tự chế, cố gắng nuốt hận, nhảy phóc lên bờ, bỏ đi. Lão già từ thuyền con nhìn theo, lắc đầu.
Mười năm sau, Hiếu Y trở lại bờ sông. Bây giờ chàng đã là y sĩ trên năm mươi tuổi, trong khi lão thần y đã chín mươi ngoài. Thất thểu, dè dặt, bước lên thuyền, thấy lão già đang chăm chú vê những viên thuốc tễ, Hiếu Y quỳ sụp xuống lòng thuyền, khóc òa, khóc thảm thiết. Lão già ngừng làm việc, rửa tay, lau tay, im lặng một lúc, lão nói, giọng đầy thương yêu:
“Thoắt cái đã ba mươi năm qua rồi. Chuyện gì đã xảy ra cho con?”
Hiếu Y lại khóc rống lên, vô cùng thảm não. Phải một lúc lâu mới hết nức nở, Hiếu Y bắt đầu kể lể:
“Năm đó rời khỏi đây, con trở về thành phố để tiếp tục chữa bệnh thì không may đưa lầm thuốc làm chết một người; phòng mạch bị niêm phong không cho hoạt động, nhà cửa phải bán đi để đền bồi nhân mạng, phần con phải đi tù 9 năm. Ra khỏi tù, trắng tay, vợ con đi đâu mất biệt tìm không ra. Chỉ còn mẹ già sống nương nơi nhà một môn sinh thân tín. Tất cả những gì con gầy dựng nên đều mất hết, mất tất cả. Suốt nhiều ngày qua, con như kẻ khùng điên, đầu óc mơ hồ, mang mang, dường như không còn ý thức hay suy nghĩ một điều gì. Nỗi đau khổ, khốn đốn cùng tột đã đẩy con đến một trạng thái thật trống rỗng, trống rỗng… Cho đến mấy hôm trước, sau một giấc ngủ dài trong mệt mỏi, con thức dậy thì chợt nhớ đến thầy, nhớ đến những gì thầy dạy con năm xưa… Thưa thầy, xin hãy dạy con, cho con biết con phải làm sao? Tại sao con không thể là lương y, là y sĩ giỏi?”
Lão già im lặng, pha trà, đưa tay ra dấu mời Hiếu Y. Gió mơn man lùa nhẹ trên mặt sông rộng. Một đàn cá trồi lên mặt nước, chép chép miệng, gợn những vòng sóng nhỏ gần nơi chiếc thuyền có hai lão già ngồi im. Lá vàng lác đác rụng xuống bờ sông. Mặt nước yên tĩnh, in dấu từng cụm mây trắng cuồn cuộn giữa bầu trời xanh ngát.
“Thiền không thể thất niệm; Y không thể thất đức,” lão già nói.
Hiếu Y im lặng, cúi đầu, chờ đợi nghe tiếp.
“Con là người dạy Thiền, phối hợp Thiền vào Y thuật thì không thể nào có sự thất niệm đưa đến nhầm lẫn, sơ xuất trong trị liệu,” lão già nghiêm khắc nói.
“Dạ, con biết, con biết lỗi,” Hiếu Y ngoan ngoãn đáp.
“Về chuyện thất đức trong ngành Y, ta không nói con có mưu ý gì trong việc thủ lợi qua chữa trị. Ta chỉ muốn nói rằng, cái đức của y sĩ là ở lòng thương, ở niềm xót xa đối với người khổ bệnh. Thiếu cái đức này, không thể nào là lương y, là y sĩ giỏi; mà chỉ là một kẻ biết dùng y thuật.”
Lão già ngưng, châm thêm nước sôi vào bình trà nhỏ. Không gian thật yên tĩnh. Chỉ nghe gió nhẹ đưa qua đám lau sậy bên bờ, tạo nên những tiếng xào xạc nho nhỏ, êm dịu. Lão già tiếp:
“Năm ấy lần đầu gặp ta, con đã vội vàng tỏ ý muốn được kế thừa y nghiệp; ta hỏi con vì mục đích gì mà học y, con trả lời là học để chữa bệnh cho mẹ,” lão già thở dài, tiếp “cả lý tưởng lẫn mục đích đều đã chệch, đã sai ngay từ ban đầu. Lý tưởng và mục đích của kẻ học Y là tìm ra phương thuật hay diệu dược để chữa trị tất cả bệnh hoạn của thế gian; vì lòng thương đối với kẻ bệnh khổ mà dấn thân vào con đường chữa trị, cho thuốc; không vì sự nghiệp hay y nghiệp nào khác, cũng không vì cá nhân ai mà nguyện làm y sĩ. Con vì mẹ mà muốn học y dược, tốt, chí hiếu! Nhưng không đủ. Đức của y sĩ phải bao trùm cả bá tánh thiên hạ, không phải vì cha, mẹ, anh chị em, thể diện gia tộc, cũng không phải để làm rạng rỡ cái tông môn, tông đường nào hết. Cũng thế, một thiền sư, đặt chân trên đạo lộ giải thoát là để cứu mình, cứu người ra khỏi biển khổ vô tận của thế gian, không phải vì sự nghiệp của ông Phật, ông Tổ nào khác.”
Hiếu Y nghe đến đó, giật mình, bừng tỉnh, sụp lạy lão già ngay nơi lòng thuyền. Giọng chàng rưng rưng xúc động, lòng như mở ra cả một khung trời bát ngát vô biên:
“Thưa thầy, con đã hiểu, con đã hiểu.”
Lão già đưa tay nâng Hiếu Y dậy, vỗ về, khích lệ:
“Con có thể bắt đầu dấn thân từ hôm nay, như một lương y, một y sĩ giỏi. Con sẽ vượt hơn ta rất xa. Những gì ta không làm được, con sẽ làm được. Ta, một chiếc thuyền nan trôi giạt bờ này bờ kia, chỉ có thể cứu chữa cho vài người hữu duyên; nhưng con, khổ bệnh cùng khắp nhân gian đang chờ đợi thiện thủ diệu dược của con.”
Hiếu Y ôm lấy chân lão già, không nói nên lời, lòng tràn ngập hạnh phúc và niềm tri ân. Một lúc, Hiếu Y đứng dậy, dợm bước, nhưng sực nhớ ra điều gì, đứng lại, rụt rè nói:
“Thưa thầy, con còn một điều che giấu thầy, xin cho con được thổ lộ.”
“Không cần. Ta biết rồi. Mẹ con vẫn chưa hết bệnh. Con sẽ trị được cho bà ấy bằng chính cái tâm ban sơ của con. Một khi tâm con đã chuyển, tất cả mọi diệu thuật sẽ theo đó mà được vận dụng một cách thiện xảo. Ta không còn điều gì để truyền dạy cho con. Con đã có tất cả. Hãy lên đường.”
Khi Hiếu Y ra đi, lão già từ chiếc thuyền con, nhìn theo, mỉm cười. Lão lặng lẽ thu xếp mọi thứ trên thuyền, rồi ngồi xếp bằng, bắt đầu đi vào đại định.
Kể từ lúc ấy, cái tên Hiếu Y không còn nghe đến trên đời; nhưng đâu đó trên khắp các làng mạc, phố thị, ven biển, rừng sâu, sông dài và sa mạc bỏng cháy, xuất hiện một lương y tuyệt vời.
Vĩnh Hảo
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015
Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015
CỦA ÍT LÒNG NHIỀU (PHƯỚC BỐ THÍ)
Ngày xưa, có một cô gái mồ côi cha mẹ, không ai nuôi. Cô phải đi ăn xin ngoài chợ. Tối lấy chiếu quấn nằm ngủ. Một hôm nghe nói Rằm Tháng Bảy cúng dường Tam Bảo có phước lắm, cô tự nghĩ làm sao mình tạo phước để khỏi nghèo khổ nữa.
Hôm đó xin được có hai xu, cô muốn cúng cái gì mà chư Tăng trong chùa đều hưởng được hết. Nghĩ vậy cô mua hai xu muối, đem vô chùa năn nỉ vị nấu cơm: "Con xin được có hai xu để mua muối, xin được cúng hết chư Tăng trong chùa, mong người giúp cho". Vị ấy liền bỏ nắm muối của cô vào nồi canh to, thế là chư Tăng đều được hưởng đầy đủ. Bẵng đi một thời gian dài, cô cũng không còn nhớ chuyện cúng muối nữa.
Lần lần lớn khôn, cô càng xinh đẹp lạ thường. Khi đó trong triều đình nhà Vua muốn chọn người làm vợ Thái Tử nhưng thấy mỹ nhân nào Thái Tử cũng từ chối. Vua ra lệnh cho các quan tìm người nào Thái Tử vừa ý sẽ được trọng thưởng. Bấy giờ một ông quan đi ngang vùng đó, thấy trên trời có vầng mây đỏ, ông nghĩ nơi đây chắc có dị nhân phước lớn.
Giờ trưa, trên đường trở về, ông thấy cô bé 16, 17 tuổi đang trùm chiếu ngủ. Ông đến gần nhìn, bất chợt cô bé thức dậy tốc chiếu ra. Thấy người con gái đẹp đẽ phi thường lại sống đầu đường xó chợ như vậy, ông tội nghiệp đem về nuôi. Được vài năm, cho ăn mặc dạy dỗ đàng hoàng, tới năm cô 18 tuổi ông dẫn đến trình nhà Vua. Vua gọi Thái Tử lại, vừa thấy cô bé Thái Tử đẹp lòng ngay. Cô được Đông Cung Thái Tử cưới làm vợ.
Khi Vua băng hà, Thái Tử lên ngôi vua và cô bé trở thành Hoàng Hậu. Khi làm Hoàng Hậu cô cứ nghĩ, không biết mình đã làm gì mà được phước thế này. Chừng ấy mới nhớ chắc do việc cúng muối năm xưa mà ra. Một hôm, Hoàng Hậu sắm đủ thứ vật dụng sang trọng truyền chở vô ngôi chùa ngày xưa.
Nhưng lúc trước chỉ với hai xu muối của cô bé ăn xin, mà Thầy trụ trì nói bữa nay có đại thí chủ đến cúng dường, bảo chư Tăng đánh chiêng trống đón. Bây giờ Hoàng Hậu đem nhiều tài vật đến nhưng Thầy trụ trì không đánh chuông trống đón. Lấy làm lạ, Hoàng Hậu gặp Thầy trụ trì hỏi "Thưa Thầy, ngày xưa con là đứa ăn mày, chỉ cúng dường có hai xu muối mà nghe chuông trống đánh rình rang. Ngày nay, con là Hoàng Hậu cúng cả xe trân bảo mà không nghe chuông trống gì hết?.
"Ngày xưa hai đồng xu quý vì đó là mạng sống của con. Muốn cúng chùa con phải nhịn đói, nên hai xu ấy lớn vô cùng. Ngày nay con là Hoàng Hậu, của cải đầy xe nhưng đó là của dân chớ đâu phải của con. Lấy của người làm phước cho mình thì đâu có gì quan trọng."
Nghe vậy Hoàng Hậu giật mình, thức tỉnh.
Hôm đó xin được có hai xu, cô muốn cúng cái gì mà chư Tăng trong chùa đều hưởng được hết. Nghĩ vậy cô mua hai xu muối, đem vô chùa năn nỉ vị nấu cơm: "Con xin được có hai xu để mua muối, xin được cúng hết chư Tăng trong chùa, mong người giúp cho". Vị ấy liền bỏ nắm muối của cô vào nồi canh to, thế là chư Tăng đều được hưởng đầy đủ. Bẵng đi một thời gian dài, cô cũng không còn nhớ chuyện cúng muối nữa.
Lần lần lớn khôn, cô càng xinh đẹp lạ thường. Khi đó trong triều đình nhà Vua muốn chọn người làm vợ Thái Tử nhưng thấy mỹ nhân nào Thái Tử cũng từ chối. Vua ra lệnh cho các quan tìm người nào Thái Tử vừa ý sẽ được trọng thưởng. Bấy giờ một ông quan đi ngang vùng đó, thấy trên trời có vầng mây đỏ, ông nghĩ nơi đây chắc có dị nhân phước lớn.
Giờ trưa, trên đường trở về, ông thấy cô bé 16, 17 tuổi đang trùm chiếu ngủ. Ông đến gần nhìn, bất chợt cô bé thức dậy tốc chiếu ra. Thấy người con gái đẹp đẽ phi thường lại sống đầu đường xó chợ như vậy, ông tội nghiệp đem về nuôi. Được vài năm, cho ăn mặc dạy dỗ đàng hoàng, tới năm cô 18 tuổi ông dẫn đến trình nhà Vua. Vua gọi Thái Tử lại, vừa thấy cô bé Thái Tử đẹp lòng ngay. Cô được Đông Cung Thái Tử cưới làm vợ.
Khi Vua băng hà, Thái Tử lên ngôi vua và cô bé trở thành Hoàng Hậu. Khi làm Hoàng Hậu cô cứ nghĩ, không biết mình đã làm gì mà được phước thế này. Chừng ấy mới nhớ chắc do việc cúng muối năm xưa mà ra. Một hôm, Hoàng Hậu sắm đủ thứ vật dụng sang trọng truyền chở vô ngôi chùa ngày xưa.
Nhưng lúc trước chỉ với hai xu muối của cô bé ăn xin, mà Thầy trụ trì nói bữa nay có đại thí chủ đến cúng dường, bảo chư Tăng đánh chiêng trống đón. Bây giờ Hoàng Hậu đem nhiều tài vật đến nhưng Thầy trụ trì không đánh chuông trống đón. Lấy làm lạ, Hoàng Hậu gặp Thầy trụ trì hỏi "Thưa Thầy, ngày xưa con là đứa ăn mày, chỉ cúng dường có hai xu muối mà nghe chuông trống đánh rình rang. Ngày nay, con là Hoàng Hậu cúng cả xe trân bảo mà không nghe chuông trống gì hết?.
"Ngày xưa hai đồng xu quý vì đó là mạng sống của con. Muốn cúng chùa con phải nhịn đói, nên hai xu ấy lớn vô cùng. Ngày nay con là Hoàng Hậu, của cải đầy xe nhưng đó là của dân chớ đâu phải của con. Lấy của người làm phước cho mình thì đâu có gì quan trọng."
Nghe vậy Hoàng Hậu giật mình, thức tỉnh.
ST
Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015
Tưởng Rằng Đã Yên
Mọi chuyện rồi cũng êm xuôi. Và sẽ chìm vào quên lãng như định luật thời gian. Huấn nghĩ như vậy trong lúc một mình ngồi trên phiến đá nhìn dòng sông hiền hòa, phẳng lặng. Huấn nhìn mãi vào nơi chiếc xe mình đã lao xuống cách đây sáu tháng... Nơi đó, linh hồn Trinh, người vợ thông minh, xinh đẹp của Huấn, đã rời khỏi thân xác.
Huấn bây giờ là người góa vợ, cô đơn đi, về lặng lẽ như một chiếc bóng. Nhiều lúc Huấn tự hỏi: mình còn làm được gì, khi hạnh phúc đã chợt đến rồi chợt đi? Ân hận không? Hối tiếc không? Còn nữa, Huấn không biết mình có nên vui mừng hay không, khi những cuộc điều tra, thẩm vấn của cảnh sát đã thật sự chấm dứt. Bởi vì trước sau gì Huấn cũng giữ đúng một lời khai:
Huấn bây giờ là người góa vợ, cô đơn đi, về lặng lẽ như một chiếc bóng. Nhiều lúc Huấn tự hỏi: mình còn làm được gì, khi hạnh phúc đã chợt đến rồi chợt đi? Ân hận không? Hối tiếc không? Còn nữa, Huấn không biết mình có nên vui mừng hay không, khi những cuộc điều tra, thẩm vấn của cảnh sát đã thật sự chấm dứt. Bởi vì trước sau gì Huấn cũng giữ đúng một lời khai:
- Đêm đó, hai vợ chồng đưa nhau đi ăn ở nhà hàng Salmon House bên hướng Tây Bắc của thành phố. Trên đường lái xe về nhà, lúc đi ngang qua cây cầu, không hiểu vì lý do gì, Huấn bất ngờ bị chóng mặt, choáng váng nên lạc tay lái. Chiếc xe đâm vào thành cầu trước khi lao thẳng xuống sông. Khi đội cấp cứu đến thì đã muộn: Trinh bị chết ngộp trong xe với một vết thương nhẹ trên đầu. Huấn trồi được lên khỏi mặt nước nên thoát chết.
Điều tra viên tình nghi Huấn hoặc cố ý giết vợ, hoặc đã uống quá say. Nhân viên nhà hàng xác nhận, họ đã thấy hai vợ chồng vừa ăn vừa trò chuyện một cách vui vẻ, hạnh phúc và chàng chỉ uống một ly rượu khai vị thôi. Kết quả nồng độ rượu đo trong người Huấn cũng chứng minh như thế. Tuy nhiên, họ đã tìm tòi, lục soát tất cả những nơi và những gì họ cho là cần thiết. Họ thẩm vấn tới, họ điều tra lui, họ tìm gặp Huấn nhiều đến độ Huấn tưởng chừng như một mụn nhỏ trên khuôn mặt mình họ cũng sẽ tìm thấy! Cuối cùng, họ phải đi đến chỗ kết thúc. Trinh chết là do tai nạn vì họ chẳng tìm ra được dấu vết gì khả nghi để buộc tội. Họ đã thật sự buông tha cho Huấn trở về với công việc hằng ngày của chàng.
****
Tối nay, Huấn đang theo dõi trận đánh dã cầu trên TV thì điện thoại reo.
- Hello!
- Hello. Xin lỗi, anh là Huấn phải không?
- Phải, Huấn đây. Xin lỗi, ai gọi thế?
- Tôi là Hạnh.
- Hạnh...? Xin vui lòng nói rõ hơn, tôi quên mất cô là ai rồi.
Tiếng cười khúc khích:
- Anh Huấn đâu có quên Hạnh... vì Hạnh là một người xa lạ, chưa từng tiếp xúc, chưa từng gặp gỡ, làm sao anh Huấn nhớ cho được?.
- Thế hở?. Vậy Hạnh là ai?. Tại sao gọi cho tôi?.
- Khoan đã, trước khi trả lời anh Huấn, Hạnh xin được quyền.. ưu tiên.
- Ưu tiên gì?.
- Ưu tiên được hỏi trước: Anh Huấn đã lập gia đình chưa?.
- Tại sao cô hỏi tôi câu đó?.
- Tại vì... nó khá quan trọng để Hạnh quyết định sẽ tiếp tục nói chuyện với anh Huấn hay sẽ buông điện thoại xuống ngay bây giờ. Mong anh Huấn thành thật, đừng lo ngại, Hạnh không có ý đùa giỡn gì đâu.
Khá lâu Huấn chưa có dịp nói chuyện với một người con gái nào nên cũng cảm thấy hay hay:
- Được rồi, tôi lập gia đình cách đây ba năm... nhưng vợ tôi đã qua đời trong một tai nạn.
- Anh Huấn có buồn lắm không?.
- Dĩ nhiên rồi. Câu hỏi hơi lạ đó.
- Thế bây giờ anh Huấn đã có bạn gái nào chưa?.
Huấn cuời:
- Cô Hạnh tham lam quá, chỉ xin hỏi một câu, giờ đến câu thứ hai, thứ ba. Tôi sẽ không trả lời thêm, nếu cô không cho tôi biết rõ cô là ai.
- Xin lỗi anh Huấn nghen. Hạnh là người mới đến thành phố này được tháng. Không thân nhân, không bạn bè cũng chưa có việc làm. Ngày nào cũng một mình lái xe chạy lòng vòng, buồn quá. Rồi anh Huấn biết sao không? Hạnh chợt nghĩ ra một cách là tìm trong điện thoại niên giám tên người Việt để... làm quen. Anh Huấn thấy Hạnh tài chưa? Hạnh đã nhắm mắt chọn ra năm tên: Phúc, Lộc, Nam, Kinh và Huấn. Lần đầu tiên Hạnh gọi người tên Lộc, đó là một anh chàng đã có gia đình. Lần thứ nhì Hạnh gọi người tên Kinh, ông này đã gần bảy mươi tuổi. Vẫn chưa nãn chí, Hạnh gọi thử lần thứ ba với người tên Huấn. Bây giờ Hạnh đang nghĩ là Hạnh sẽ không cần phải gọi đến lần thứ tư nữa, phải vậy không anh Huấn? Trừ trường hợp anh Huấn nói rằng anh Huấn không thích làm quen với Hạnh.
- Cô Hạnh chắc thích phiêu lưu lắm?.
- Không biết có phải vậy không, nhưng khi mình muốn đạt được một việc gì, nếu không nghĩ ra cách này hoặc cách khác để thực hành thì làm sao đạt được?. Từ trước, người ta vẫn quen nhau qua mục Kết Bạn Thư Tín, bây giờ, quen nhau qua cuốn điện thoại niên giám, một phát minh mới, phải không?.
- Tình trạng gia đình tôi, cô đã biết rồi, vậy cô nghĩ sao?.
- Hạnh đang chờ nghe cảm nghĩ của anh Huấn. Hạnh có phải là một người con gái quá táo bạo không?.
- Không đâu, người khác còn làm những chuyện khủng khiếp hơn nhiều. Tôi cảm thấy vui vui bởi vì từ ngày vợ tôi chết, tôi chưa có bạn gái. Một mình đi ra đi vào, căn nhà bỗng trở nên rộng lớn và trống vắng hơn. Có lần bạn tôi ngõ ý giới thiệu cho tôi một cô, nhưng tôi chưa cảm thấy thoải mái nên đã từ chối. Hôm nay, cô Hạnh đến với tôi bằng một phương cách nghe ra cũng hay hay, tại sao tôi không chấp nhận nhỉ?.
- Vậy cả hai chúng ta đều đồng ý đấy nhé?.
- Bỏ phiếu thuận! Nghe giọng nói, tôi đoán chắc Hạnh còn trẻ lắm, có thể chưa tới ba mươi. Hạnh biết tôi bao nhiêu tuổi không?.
- A.... chắc anh Huấn cũng chưa đến nỗi là ông già bảy mươi?.
- Chưa đâu, chỉ mới sáu mươi chín thôi.
Huấn thích thú cười thật lớn. Hạnh cười theo:
- Anh Huấn đoán Hạnh còn trẻ thì đúng rồi, nhưng anh Huấn có biết dung nhan Hạnh xấu xí đến cỡ nào không?.
- Tôi nghĩ, nếu Hạnh có xấu chắc cũng chưa đến nỗi được xếp hạng nhất trong danh sách những người thiếu nhan sắc.
- Anh Huấn nói đúng đó, nhưng hình như Hạnh cũng đứng vào hạng nhì, vì mụ phù thủy đã chiếm mất hạng nhất rồi.
Cả hai cùng cười giòn giã.
***
Huấn bây giờ không còn là Huấn của ngày nào vợ mới chết. Từ một giai đoạn bất an chuyển qua một giai đoạn bình thản và rồi Huấn được sống lại trong cảm giác của một người đàn ông đang yêu đời, yêu người và yêu tất cả mọi vật chung quanh mình. Sau lần thứ nhì nói chuyện qua điện thoại, Huấn và Hạnh hẹn gặp nhau. Lúc đầu Huấn chỉ tưởng tượng ra một nhan sắc khiêm nhường ở người con gái này, nếu không như vậy cô ta đâu còn độc thân đến giờ.
Buổi đầu tiên diện kiến, Huấn đã bàng hoàng, sững sốt kêu lên:
- Hạnh đẹp quá!
Đúng vậy, Hạnh là cô gái mang hai dòng máu Mỹ-Việt. Hạnh là một kết hợp của hai nét đẹp Á Đông và Tây Phương. Nếu muốn tìm một khuyết điểm nào đó trên khuôn mặt hay vóc dáng Hạnh sẽ không phải là chuyện dễ. Ngay phút giây đầu tiên đó, Huấn đã cảm thấy hồn mình như chết đuối trên dòng suối tóc nâu đậm, óng mượt chảy hững hờ từ bờ vai xuống tới nửa lưng. Chỉ một chút trang điểm tự nhiên thôi, Hạnh đã nhìn như một bức tranh truyền thần mờ ảo trước mắt Huấn.
Ngày trước, Huấn vẫn cho rằng chỉ có Trinh, vợ mình mới là người con gái đẹp và duyên dáng như một nữ hoàng, nhưng bây giờ, nếu đem so sánh với Hạnh thì Trinh là người bị mất vương miện. Hạnh đã đến với Huấn như một cơn phong ba, bão táp cuốn hút đời chàng vào những mơ mộng cho tương lai. Một kỹ sư điện toán trong một công ty lớn nhất nhì trên thị trường, vừa mất người vợ xinh đẹp lại ôm ngay vào được một người con gái khác còn xinh đẹp hơn nữa, không trách sao Huấn đang ngất ngây với ý nghĩ: đúng là đời đẹp như mơ!
Hạnh nhí nhảnh nhưng dễ thương; thông minh nhưng tế nhị. Hạnh không kiêu căng, tự phụ về sắc đẹp của mình. Huấn đưa Hạnh thăm viếng khắp nơi trong thành phố, rồi đến những vùng thôn quê. Hạnh luôn nói những lời thán phục hoặc biết ơn đối với Huấn, chẳng hạn như:
- Em thật không ngờ mình lại có được những ngày tươi đẹp như hôm nay. Vừa được rong chơi ở những nơi sang trọng, vừa được một người đàn ông lịch sự, học thức bên cạnh, lúc nào cũng sẵn sàng chìu chuộng, em còn tìm ai hơn anh Huấn nữa đây?.
Huấn đáp lại:
- Anh mới là người may mắn đó chứ, có được một người đẹp lại dễ thương như Hạnh để đưa đi chơi chắc đâu còn diễm phúc nào hơn?.
Trong suốt ba tháng quen nhau, chưa lúc nào Hạnh để nụ cười biến mất trên môi. Cho đến một hôm, Huấn tỏ thật lòng mình về một tình yêu mãnh liệt phát xuất tự trái tim, tự nhiên nụ cười đang tươi mát của Hạnh bỗng héo úa đi. Nàng lắc đầu, buồn bã xoay nơi khác. Huấn năn nỉ mãi, nàng cũng không nói gì hơn ngoài ánh mắt đầy suy tư, xa vắng. Sau buổi đó, Hạnh lánh mặt Huấn không một lời từ giã. Căn phòng trong chung cư của Hạnh đã trả lại. Một tuần qua rồi hai, ba tuần qua, Hạnh vẫn bặt tin. Huấn đau khổ như điên cuồng. Huấn lang thang ngoài phố để nhìn người qua lại mong gặp khuôn mặt quen thuộc của nàng. Huấn lái xe khắp các nẻo đường hy vọng sẽ bắt gặp Hạnh một nơi nào đó, nhưng mọi cách đều thất bại.
Sau một tháng trời tìm kiếm, Huấn hoàn toàn thất vọng. Đêm nay, Huấn mệt mõi trở về nhà sau mấy tiếng đồng hồ lái xe lang thang. Chưa kịp thay quần áo thì chuông cửa reo vang mấy lần liên tiếp như thể gấp rút lắm. Huấn mừng rỡ đến sững sờ khi khuôn mặt hiện ra nơi khung cửa chính là Hạnh. Nàng đi vội vào trong rồi ôm chặt lấy Huấn trong lúc đôi dòng lệ tuôn tràn trên má. Huấn để yên cho Hạnh khóc trên vai mình, đến khi những thổn thức lắng dần, Huấn hỏi nhỏ:
- Tại sao em khóc?. Tại sao em tránh gặp mặt anh?.
Hạnh nghẹn ngào:
- Không phải em... tránh gặp anh, em chỉ... chạy trốn một người khác.
- Ai vậy?.
- Chồng em.
- Em có chồng?.
- Phải, nhưng anh ấy là một người vũ phu và tàn nhẫn. Em xin lỗi đã giấu anh.
Huấn ngồi yên lặng nghe hơi thở mình nặng nề hơn. Sự thật quá phũ phàng không ngờ nổi. Giọng Hạnh kể lễ:
- Trước khi lập gia đình với nhau, anh ấy là một người đàn ông hết sức hòa nhã, nhưng em đã lầm. Anh ấy không thể nào hòa nhã sau những cơn say. Anh ấy bắt đầu kiếm chuyện cả với những người bạn nào chỉ vô tình nhìn em hoặc nói với em một câu rất thông thường, chẳng hạn như "Hạnh có khỏe không?" "Khỏe hay không cũng là vợ tao, mày hỏi làm gì?". Mãi rồi những chuyện xảy ra đó khiến em xấu hổ. Em ngăn cản không cho anh ấy uống rượu nữa thì anh ấy bỏ nhà đi mất tiêu ba bốn ngày liền. Em đòi ra toà ly dị, anh ấy hăm dọa sẽ giết em. Em sợ quá nên bỏ nhà trốn đi. Nơi này em đã gặp anh và chúng ta đã có được những kỷ niệm không bao giờ quên. Nhưng bây giờ, em phải bỏ trốn đi nơi khác nữa, vì chồng em vừa tìm ra em ở đây. Anh ấy hăm dọa thêm rằng nếu bắt gặp người đàn ông nào đi với em, anh ấy sẽ giết chết cả hai rồi tự sát hoặc đi tù.
Hạnh ôm Huấn chặt hơn:
- Anh Huấn ơi, em không thể nào ở lại đây, em không muốn anh bị mang họa vì em. Cuộc đời em đã sóng gió quen rồi, thà em bỏ đi chứ không thể nào trở lại với con người tàn nhẫn đó.
Hạnh lại khóc nức nở hơn. Huấn không biết làm gì hơn là vuốt mãi suối tóc mềm mại của nàng. Thời gian vẫn trôi. Hạnh ngưng khóc, nhưng nàng cứ ngồi thẫn thờ. Huấn chợt nhớ ra:
- Em đã ăn gì chưa?. Em đói bụng không, để anh đi mua gì về cho em ăn nghen?.
- Thôi anh ạ, đừng đi ra ngoài bây giờ, em chưa ăn gì, nhưng không cảm thấy đói. Anh có sữa tươi cho em một ly là được rồi.
Huấn đi lấy ly sữa đến, nàng uống một hơi hết phân nữa rồi dợm đứng lên. Huấn vội hỏi:
- Em định đi đâu vậy?.
- Về khách sạn.
-Thôi... em hãy ở lại đây với anh.
- Không nên đâu anh. Nguy hiểm cho anh lắm.
- Anh không sợ, chỉ sợ nguy hiểm cho em. Biết đâu chồng em đang rình rập đâu đó ngoài đường. Anh không thể để em đi như vậy.
- Anh không sợ chồng em sẽ giết luôn cả anh với em sao?.
- Không, vì anh yêu em. Nếu em cũng yêu anh thì...
Huấn ngập ngừng không dám nói thêm.
- Thì sao hả anh?. Anh sẽ bằng lòng chết chung với em phải không?.
- Cũng có thể lắm chứ!.
Hạnh mừng rỡ ôm chầm lấy Huấn và cả hai hôn nhau đắm đuối. Lâu lắm họ vẫn chưa rời nhau ra. Rồi Huấn dang tay nhấc bổng người Hạnh lên để đi thẳng vào phòng ngủ. Chàng đặt nàng nằm xuống chiếc giường nệm êm ái, cả hai tiếp tục ôm xiết lấy nhau.
Một lúc sau, Huấn ngồi nhổm dậy, vói tay qua chiếc bàn nhỏ ở cạnh đầu giường để lấy điếu thuốc đốt hút. Hạnh vẫn nằm im với chiếc mền kéo ngang nửa ngực. Huấn phà khói thuốc vào không khí rồi xoay lại nhìn nửa vùng ngực đang phô bày, cảm thấy vẫn còn thèm úp mặt lên đó. Đầu óc Huấn làm việc thật nhanh, quyết định cũng thật nhanh:
- Em tưởng rằng anh sẽ bằng lòng chết chung với em dưới bàn tay của chồng em à?. Anh đâu có dại dột như vậy.
Hạnh mở to mắt:
- Nghĩa là sao?. Anh nói nếu em cũng yêu anh... Em bây giờ đâu còn ai thân thích ngoài anh ra, nếu không yêu anh thì yêu ai?. Hơn nữa, nếu không yêu anh, em đâu dễ gì nằm với anh như vầy. Vậy thôi, để em ra đi.
Huấn vội vàng ôm lấy đầu Hạnh:
- Đừng hiểu lầm anh, cưng. Ý anh muốn nói là cả hai chúng ta không nên dại dột để hắn ra tay trước. Mình phải hành động trước khi hắn hành động.
- Em chưa hiểu.
- Hắn có thể giết mình được thì mình cũng có thể giết hắn được vậy.
Hạnh chớp chớp mắt nhìn Huấn:
- Ừ nhỉ?. nhưng... mình sẽ đi tù chung thân?.
Huấn cười nhẹ:
- Mình phải khôn chứ em. Mình đâu có công khai giết đâu mà đi tù?.
- Mướn người à?.
- Mướn người cũng thua. Anh muốn nói là mình phải xếp đặt chương trình hành động. Em nghe anh hỏi đây, em có dám ra tay không?. Chỉ có một mình em mới làm được chuyện này, nếu em bằng lòng anh mới nói ra.
- Để em suy nghĩ.
Hạnh nằm im trong giây lát rồi chồm người lên lấy chiếc ví tay của nàng trên đầu giường mở ra. Hạnh soi lại mặt mình trong chiếc gương nhỏ và chải lại những sợi tóc lòa xòa trước trán bằng chiếc lược nhỏ màu đen. Huấn yên lặng nhìn và chờ đợi. Sau khi để mọi thứ vào chỗ cũ, Hạnh nói:
- Được rồi, em sẽ làm. Nếu em không giết hắn thì hắn sẽ giết em. Em giết người để tự tồn và được tự do chung sống với anh. Anh nói đi.
Huấn nghiêm nét mặt:
- Này nhé, em hãy giả vờ như thể em bằng lòng trở về với hắn. Rồi em sắp đặt một ngày cho hai người đi ăn tối ở một nhà hàng nào đó bên hướng Tây Bắc. Em cố ép cho hắn uống rượu càng nhiều càng tốt, nhưng em đừng uống vì em sẽ là người lái xe về. Rồi khi xe chạy ngang qua cây cầu, em giả vờ như bị lạc tay lái, để chiếc xe bay qua thành cầu, bay thẳng xuống sông. Trước đó, em phải nhớ chuẩn bị hai điều: thứ nhất là khóa cánh cửa bên hắn; thứ hai là nhanh tay mở cánh cửa bên em khi chiếc xe vừa bay xuống nước. Như vậy em sẽ có thể thoát ra ngoài dễ dàng và nước sẽ tràn vào xe nhanh hơn. Hắn đã say ngất ngư thì không thể nào phản ứng kịp thời. Chỉ cần năm phút kẹt trong xe, linh hồn hắn sẽ vĩnh viễn rời khỏi xác. Còn em sẽ trồi lên mặt nước chờ đội cứu cấp tới.
Hạnh chăm chú nghe, nhưng chưa nói gì. Huấn bồi thêm:
- Cách này vừa dễ, vừa an toàn, em không phải trực tiếp cầm một thứ vũ khí nào để giết người. Không có bằng chứng nào để kết tội em, tất cả chỉ là do tai nạn.
- Anh nói đúng, cách này dễ quá, nhưng sao anh biết chắc là cảnh sát sẽ để yên cho em mà không điều tra?.
- Họ sẽ điều tra chứ em, nhưng em cứ bình tĩnh giữ đúng một lời khai như sau: đêm đó chồng em uống rượu quá nhiều nên em phải lái xe về. Khi xe chạy ngang trên cầu, chồng em đã bất ngờ giành giựt tay lái nên chiếc xe mất thăng bằng, lao xuống sông. Chồng em không thoát ra được nên chết ngộp trong nước, thế thôi. Đâu có ai làm nhân chứng.
Hạnh vuốt lưng Huấn:
- Có chứ anh.
- Ai?.
- Anh đây nè! Nhưng thôi, em chỉ nói chơi thôi. Anh có chắc là em sẽ không bị đi tù?.
- Em sẽ hoàn toàn vô tội, anh bảo đảm.
- Nhưng anh ơi, cảnh sát có trăm phương ngàn kế để tìm ra sự thật.
- Đâu phải vụ giết người nào họ cũng tìm ra hết đâu. Em còn nhớ anh đã nói rằng vợ anh chết do một tai nạn không?. Tai nạn hắn sắp chết cũng giống như tai nạn vợ anh đã chết vậy.
Hạnh mở mắt thật to:
- Nghĩa là anh đã giết vợ bằng cách đó và cảnh sát đã không kết tội được anh?.
- Đúng vậy.
- Tại sao anh giết chị ấy?.
- Trinh đã ngoại tình trong lúc anh vẫn yêu nàng hết lòng.
- Anh tàn nhẫn quá...
- Trinh đã tàn nhẫn với anh trước. Trinh đã giới thiệu với anh rằng gã đó là anh họ của Trinh và hắn vẫn thường ghé nhà chơi, kể cả những lúc không có anh ở nhà. Sau đó, anh khám phá ra, hắn chính là gã nhân tình cũ của nàng. Như vậy, mỗi lần hắn đến không có anh ở nhà thì hắn và Trinh đã làm gì?. Anh phải có thừa thông minh để hiểu rằng họ đã làm chuyện tồi bại chứ.
- Sao anh không chọn giải pháp ly dị?.
- Ly dị thì anh cũng là người thua cuộc, Trinh sẽ thuộc về hắn và hắn sẽ hưởng phân nửa tài sản mà anh phải chia cho Trinh.
- Anh có bắt quả tang lần nào chưa?
- Dĩ nhiên họ cũng phải thông minh để không bị bắt quả tang chứ em.
- Anh đã kết tội tử hình một người mà không có bằng chứng.
- Thôi em ơi, đừng nói chuyện đó nữa, hãy nói chuyện mình đi. Em có đồng ý giết hắn bằng cách đó không?.
- Đồng ý. Bây giờ em cần ngủ để mai còn tỉnh táo hành động. Anh cũng phải đi làm nữa. Ngủ đi anh.
- Mình ngủ.
***
Huấn đang ngồi trong văn phòng. Đột nhiên cánh cửa bị xô mạnh. Hai người đàn ông ập vào thật nhanh:
- Ông Nguyễn Minh Huấn, chúng tôi được lịnh bắt giữ ông vì tình nghi giết nguời.
Trong lúc mắt Huấn mở lớn, chiếc còng sắt lạnh lùng tra vào cổ tay Huấn kéo về phía sau lưng.
- Tôi không hiểu gì hết?.
- Ông có quyền giữ im lặng. Những gì ông nói, có thể được dùng để kết tội ông trước tòa án.
***
Trong phòng điều tra, Huấn được nghe lại một đoạn băng ghi âm, bắt đầu là tiếng nói của Hạnh:
“- Được rồi, em sẽ làm. Nếu em không giết hắn thì hắn sẽ giết em.” “Em giết người để tự tồn và được tự do chung sống với anh. Anh nói đi.”
“-Này nhé, em hãy giả vờ như thể em bằng lòng trở về với hắn…”
Cả người Huấn bắt đầu toát mồ hôi. Sắc mặt Huấn từ từ đỏ rần lên trong lúc tiếng nói của Huấn và Hạnh vẫn tiếp tục phát ra từ cuộn băng cho tới đoạn cuối cùng không sót một chữ nào của cuộc đối thoại đêm đó.
“- Đồng ý. Bây giờ em cần ngủ để mai còn tỉnh táo hành động. Anh cũng phải đi làm nữa. Ngủ đi anh.”
"- Mình ngủ."
Cuộn băng chấm dứt bằng một tiếng động khô khan, sắt lạnh. Huấn bàng hoàng cất tiếng:
- Thì ra... các ông đã... đặt máy ghi âm... trong phòng tôi?.
- Không. Hồ sơ của anh, chúng tôi đã xếp lại. Chúng tôi đã tin rằng anh là kẻ vô tội, nhưng một người khác đã căn cứ vào lá thư này mà nhất định rằng vợ ông chết không phải do tai nạn. Người đó đã bằng lòng bỏ tiền ra mướn thám tử tư tiếp tục cuộc điều tra. Ông có muốn đọc lá thư không?.
- Có.
Huấn bắt đầu lướt mắt qua những dòng chữ rất quen thuộc của Trinh.
" Em van anh đừng đến gặp em nữa. Anh nên cố gắng quên em. Em đã có chồng tức là em đã chọn cho mình một hướng đi rõ ràng. Tại sao anh không chịu hiểu như vậy?. Ly nước đã đỗ xuống đất, anh không thể nào hốt lại được. Huấn là một người chồng rất tốt, xứng đáng để cho em kính trọng. Em vô cùng hối hận vì đã giới thiệu anh là anh họ em, nhưng ngoài cách đó ra, em đâu thể nào nói anh là người tình cũ?. Em đâu ngờ là anh dám ngang nhiên đến gõ cửa tìm em trong lúc Huấn đang ở nhà. Tưởng đâu chỉ lần đó thôi, ai ngờ anh cứ tiếp tục đến, nhưng mà gặp nhau để làm gì nữa?. Anh vịn vào lý do là anh họ thì có quyền đến thăm, sai bét rồi anh ơi! Lương tâm em đang cắn rứt vì đã nói láo chồng em.
Gần đây, Huấn có thái độ khó hiểu lắm. Huấn không nói gì hết, nhưng em đoán là Huấn đã tìm ra việc em gian dối, lỡ rồi, em không biết phải làm gì. Đôi lúc, em có thể nhìn thấy trong mắt Huấn tia sáng của một kẻ sắp làm một việc gì đó khủng khiếp lắm, như giết người chẳng hạn. Huấn sẽ giết ai, anh hay em?. Từ giác quan thứ sáu, em linh cảm một điều nguy hiểm sẽ xãy ra cho em, không sớm thì muộn.
Anh hãy bỏ thành phố này, đừng bao giờ trở lại gặp em. Em van anh, trăm ngàn lần, hãy tìm quên ở một người con gái khác. Tình đã xa, anh đừng mong gì ở em nữa, coi như đây là lời cuối cho nhau. Vĩnh biệt".
Huấn buông thỏng cánh tay, lá thư rơi xuống đất. Nhân viên điều tra đi đến, cúi lượm lá thư lên và nói:
- Bây giờ tôi xin trả lời cho xong câu hỏi của ông lúc nãy: Văn phòng thám tử tư đã dựng lên một vỡ kịch. Trong đó, nam diễn viên là ông và nữ diễn viên chính là nữ thám tử mỹ miều, duyên dáng tên Hạnh. Cô ta đã thi hành công tác này quá tuyệt vời. Những gì ông nói đều được ghi âm, nhưng chỉ có đoạn băng ông vừa nghe là đáng giá thôi.
Huấn nhớ lại, Hạnh đã lấy ví tay trên đầu giường để soi gương và chải tóc khi chàng bắt đầu nói.
Điều tra viên tình nghi Huấn hoặc cố ý giết vợ, hoặc đã uống quá say. Nhân viên nhà hàng xác nhận, họ đã thấy hai vợ chồng vừa ăn vừa trò chuyện một cách vui vẻ, hạnh phúc và chàng chỉ uống một ly rượu khai vị thôi. Kết quả nồng độ rượu đo trong người Huấn cũng chứng minh như thế. Tuy nhiên, họ đã tìm tòi, lục soát tất cả những nơi và những gì họ cho là cần thiết. Họ thẩm vấn tới, họ điều tra lui, họ tìm gặp Huấn nhiều đến độ Huấn tưởng chừng như một mụn nhỏ trên khuôn mặt mình họ cũng sẽ tìm thấy! Cuối cùng, họ phải đi đến chỗ kết thúc. Trinh chết là do tai nạn vì họ chẳng tìm ra được dấu vết gì khả nghi để buộc tội. Họ đã thật sự buông tha cho Huấn trở về với công việc hằng ngày của chàng.
****
Tối nay, Huấn đang theo dõi trận đánh dã cầu trên TV thì điện thoại reo.
- Hello!
- Hello. Xin lỗi, anh là Huấn phải không?
- Phải, Huấn đây. Xin lỗi, ai gọi thế?
- Tôi là Hạnh.
- Hạnh...? Xin vui lòng nói rõ hơn, tôi quên mất cô là ai rồi.
Tiếng cười khúc khích:
- Anh Huấn đâu có quên Hạnh... vì Hạnh là một người xa lạ, chưa từng tiếp xúc, chưa từng gặp gỡ, làm sao anh Huấn nhớ cho được?.
- Thế hở?. Vậy Hạnh là ai?. Tại sao gọi cho tôi?.
- Khoan đã, trước khi trả lời anh Huấn, Hạnh xin được quyền.. ưu tiên.
- Ưu tiên gì?.
- Ưu tiên được hỏi trước: Anh Huấn đã lập gia đình chưa?.
- Tại sao cô hỏi tôi câu đó?.
- Tại vì... nó khá quan trọng để Hạnh quyết định sẽ tiếp tục nói chuyện với anh Huấn hay sẽ buông điện thoại xuống ngay bây giờ. Mong anh Huấn thành thật, đừng lo ngại, Hạnh không có ý đùa giỡn gì đâu.
Khá lâu Huấn chưa có dịp nói chuyện với một người con gái nào nên cũng cảm thấy hay hay:
- Được rồi, tôi lập gia đình cách đây ba năm... nhưng vợ tôi đã qua đời trong một tai nạn.
- Anh Huấn có buồn lắm không?.
- Dĩ nhiên rồi. Câu hỏi hơi lạ đó.
- Thế bây giờ anh Huấn đã có bạn gái nào chưa?.
Huấn cuời:
- Cô Hạnh tham lam quá, chỉ xin hỏi một câu, giờ đến câu thứ hai, thứ ba. Tôi sẽ không trả lời thêm, nếu cô không cho tôi biết rõ cô là ai.
- Xin lỗi anh Huấn nghen. Hạnh là người mới đến thành phố này được tháng. Không thân nhân, không bạn bè cũng chưa có việc làm. Ngày nào cũng một mình lái xe chạy lòng vòng, buồn quá. Rồi anh Huấn biết sao không? Hạnh chợt nghĩ ra một cách là tìm trong điện thoại niên giám tên người Việt để... làm quen. Anh Huấn thấy Hạnh tài chưa? Hạnh đã nhắm mắt chọn ra năm tên: Phúc, Lộc, Nam, Kinh và Huấn. Lần đầu tiên Hạnh gọi người tên Lộc, đó là một anh chàng đã có gia đình. Lần thứ nhì Hạnh gọi người tên Kinh, ông này đã gần bảy mươi tuổi. Vẫn chưa nãn chí, Hạnh gọi thử lần thứ ba với người tên Huấn. Bây giờ Hạnh đang nghĩ là Hạnh sẽ không cần phải gọi đến lần thứ tư nữa, phải vậy không anh Huấn? Trừ trường hợp anh Huấn nói rằng anh Huấn không thích làm quen với Hạnh.
- Cô Hạnh chắc thích phiêu lưu lắm?.
- Không biết có phải vậy không, nhưng khi mình muốn đạt được một việc gì, nếu không nghĩ ra cách này hoặc cách khác để thực hành thì làm sao đạt được?. Từ trước, người ta vẫn quen nhau qua mục Kết Bạn Thư Tín, bây giờ, quen nhau qua cuốn điện thoại niên giám, một phát minh mới, phải không?.
- Tình trạng gia đình tôi, cô đã biết rồi, vậy cô nghĩ sao?.
- Hạnh đang chờ nghe cảm nghĩ của anh Huấn. Hạnh có phải là một người con gái quá táo bạo không?.
- Không đâu, người khác còn làm những chuyện khủng khiếp hơn nhiều. Tôi cảm thấy vui vui bởi vì từ ngày vợ tôi chết, tôi chưa có bạn gái. Một mình đi ra đi vào, căn nhà bỗng trở nên rộng lớn và trống vắng hơn. Có lần bạn tôi ngõ ý giới thiệu cho tôi một cô, nhưng tôi chưa cảm thấy thoải mái nên đã từ chối. Hôm nay, cô Hạnh đến với tôi bằng một phương cách nghe ra cũng hay hay, tại sao tôi không chấp nhận nhỉ?.
- Vậy cả hai chúng ta đều đồng ý đấy nhé?.
- Bỏ phiếu thuận! Nghe giọng nói, tôi đoán chắc Hạnh còn trẻ lắm, có thể chưa tới ba mươi. Hạnh biết tôi bao nhiêu tuổi không?.
- A.... chắc anh Huấn cũng chưa đến nỗi là ông già bảy mươi?.
- Chưa đâu, chỉ mới sáu mươi chín thôi.
Huấn thích thú cười thật lớn. Hạnh cười theo:
- Anh Huấn đoán Hạnh còn trẻ thì đúng rồi, nhưng anh Huấn có biết dung nhan Hạnh xấu xí đến cỡ nào không?.
- Tôi nghĩ, nếu Hạnh có xấu chắc cũng chưa đến nỗi được xếp hạng nhất trong danh sách những người thiếu nhan sắc.
- Anh Huấn nói đúng đó, nhưng hình như Hạnh cũng đứng vào hạng nhì, vì mụ phù thủy đã chiếm mất hạng nhất rồi.
Cả hai cùng cười giòn giã.
***
Huấn bây giờ không còn là Huấn của ngày nào vợ mới chết. Từ một giai đoạn bất an chuyển qua một giai đoạn bình thản và rồi Huấn được sống lại trong cảm giác của một người đàn ông đang yêu đời, yêu người và yêu tất cả mọi vật chung quanh mình. Sau lần thứ nhì nói chuyện qua điện thoại, Huấn và Hạnh hẹn gặp nhau. Lúc đầu Huấn chỉ tưởng tượng ra một nhan sắc khiêm nhường ở người con gái này, nếu không như vậy cô ta đâu còn độc thân đến giờ.
Buổi đầu tiên diện kiến, Huấn đã bàng hoàng, sững sốt kêu lên:
- Hạnh đẹp quá!
Đúng vậy, Hạnh là cô gái mang hai dòng máu Mỹ-Việt. Hạnh là một kết hợp của hai nét đẹp Á Đông và Tây Phương. Nếu muốn tìm một khuyết điểm nào đó trên khuôn mặt hay vóc dáng Hạnh sẽ không phải là chuyện dễ. Ngay phút giây đầu tiên đó, Huấn đã cảm thấy hồn mình như chết đuối trên dòng suối tóc nâu đậm, óng mượt chảy hững hờ từ bờ vai xuống tới nửa lưng. Chỉ một chút trang điểm tự nhiên thôi, Hạnh đã nhìn như một bức tranh truyền thần mờ ảo trước mắt Huấn.
Ngày trước, Huấn vẫn cho rằng chỉ có Trinh, vợ mình mới là người con gái đẹp và duyên dáng như một nữ hoàng, nhưng bây giờ, nếu đem so sánh với Hạnh thì Trinh là người bị mất vương miện. Hạnh đã đến với Huấn như một cơn phong ba, bão táp cuốn hút đời chàng vào những mơ mộng cho tương lai. Một kỹ sư điện toán trong một công ty lớn nhất nhì trên thị trường, vừa mất người vợ xinh đẹp lại ôm ngay vào được một người con gái khác còn xinh đẹp hơn nữa, không trách sao Huấn đang ngất ngây với ý nghĩ: đúng là đời đẹp như mơ!
Hạnh nhí nhảnh nhưng dễ thương; thông minh nhưng tế nhị. Hạnh không kiêu căng, tự phụ về sắc đẹp của mình. Huấn đưa Hạnh thăm viếng khắp nơi trong thành phố, rồi đến những vùng thôn quê. Hạnh luôn nói những lời thán phục hoặc biết ơn đối với Huấn, chẳng hạn như:
- Em thật không ngờ mình lại có được những ngày tươi đẹp như hôm nay. Vừa được rong chơi ở những nơi sang trọng, vừa được một người đàn ông lịch sự, học thức bên cạnh, lúc nào cũng sẵn sàng chìu chuộng, em còn tìm ai hơn anh Huấn nữa đây?.
Huấn đáp lại:
- Anh mới là người may mắn đó chứ, có được một người đẹp lại dễ thương như Hạnh để đưa đi chơi chắc đâu còn diễm phúc nào hơn?.
Trong suốt ba tháng quen nhau, chưa lúc nào Hạnh để nụ cười biến mất trên môi. Cho đến một hôm, Huấn tỏ thật lòng mình về một tình yêu mãnh liệt phát xuất tự trái tim, tự nhiên nụ cười đang tươi mát của Hạnh bỗng héo úa đi. Nàng lắc đầu, buồn bã xoay nơi khác. Huấn năn nỉ mãi, nàng cũng không nói gì hơn ngoài ánh mắt đầy suy tư, xa vắng. Sau buổi đó, Hạnh lánh mặt Huấn không một lời từ giã. Căn phòng trong chung cư của Hạnh đã trả lại. Một tuần qua rồi hai, ba tuần qua, Hạnh vẫn bặt tin. Huấn đau khổ như điên cuồng. Huấn lang thang ngoài phố để nhìn người qua lại mong gặp khuôn mặt quen thuộc của nàng. Huấn lái xe khắp các nẻo đường hy vọng sẽ bắt gặp Hạnh một nơi nào đó, nhưng mọi cách đều thất bại.
Sau một tháng trời tìm kiếm, Huấn hoàn toàn thất vọng. Đêm nay, Huấn mệt mõi trở về nhà sau mấy tiếng đồng hồ lái xe lang thang. Chưa kịp thay quần áo thì chuông cửa reo vang mấy lần liên tiếp như thể gấp rút lắm. Huấn mừng rỡ đến sững sờ khi khuôn mặt hiện ra nơi khung cửa chính là Hạnh. Nàng đi vội vào trong rồi ôm chặt lấy Huấn trong lúc đôi dòng lệ tuôn tràn trên má. Huấn để yên cho Hạnh khóc trên vai mình, đến khi những thổn thức lắng dần, Huấn hỏi nhỏ:
- Tại sao em khóc?. Tại sao em tránh gặp mặt anh?.
Hạnh nghẹn ngào:
- Không phải em... tránh gặp anh, em chỉ... chạy trốn một người khác.
- Ai vậy?.
- Chồng em.
- Em có chồng?.
- Phải, nhưng anh ấy là một người vũ phu và tàn nhẫn. Em xin lỗi đã giấu anh.
Huấn ngồi yên lặng nghe hơi thở mình nặng nề hơn. Sự thật quá phũ phàng không ngờ nổi. Giọng Hạnh kể lễ:
- Trước khi lập gia đình với nhau, anh ấy là một người đàn ông hết sức hòa nhã, nhưng em đã lầm. Anh ấy không thể nào hòa nhã sau những cơn say. Anh ấy bắt đầu kiếm chuyện cả với những người bạn nào chỉ vô tình nhìn em hoặc nói với em một câu rất thông thường, chẳng hạn như "Hạnh có khỏe không?" "Khỏe hay không cũng là vợ tao, mày hỏi làm gì?". Mãi rồi những chuyện xảy ra đó khiến em xấu hổ. Em ngăn cản không cho anh ấy uống rượu nữa thì anh ấy bỏ nhà đi mất tiêu ba bốn ngày liền. Em đòi ra toà ly dị, anh ấy hăm dọa sẽ giết em. Em sợ quá nên bỏ nhà trốn đi. Nơi này em đã gặp anh và chúng ta đã có được những kỷ niệm không bao giờ quên. Nhưng bây giờ, em phải bỏ trốn đi nơi khác nữa, vì chồng em vừa tìm ra em ở đây. Anh ấy hăm dọa thêm rằng nếu bắt gặp người đàn ông nào đi với em, anh ấy sẽ giết chết cả hai rồi tự sát hoặc đi tù.
Hạnh ôm Huấn chặt hơn:
- Anh Huấn ơi, em không thể nào ở lại đây, em không muốn anh bị mang họa vì em. Cuộc đời em đã sóng gió quen rồi, thà em bỏ đi chứ không thể nào trở lại với con người tàn nhẫn đó.
Hạnh lại khóc nức nở hơn. Huấn không biết làm gì hơn là vuốt mãi suối tóc mềm mại của nàng. Thời gian vẫn trôi. Hạnh ngưng khóc, nhưng nàng cứ ngồi thẫn thờ. Huấn chợt nhớ ra:
- Em đã ăn gì chưa?. Em đói bụng không, để anh đi mua gì về cho em ăn nghen?.
- Thôi anh ạ, đừng đi ra ngoài bây giờ, em chưa ăn gì, nhưng không cảm thấy đói. Anh có sữa tươi cho em một ly là được rồi.
Huấn đi lấy ly sữa đến, nàng uống một hơi hết phân nữa rồi dợm đứng lên. Huấn vội hỏi:
- Em định đi đâu vậy?.
- Về khách sạn.
-Thôi... em hãy ở lại đây với anh.
- Không nên đâu anh. Nguy hiểm cho anh lắm.
- Anh không sợ, chỉ sợ nguy hiểm cho em. Biết đâu chồng em đang rình rập đâu đó ngoài đường. Anh không thể để em đi như vậy.
- Anh không sợ chồng em sẽ giết luôn cả anh với em sao?.
- Không, vì anh yêu em. Nếu em cũng yêu anh thì...
Huấn ngập ngừng không dám nói thêm.
- Thì sao hả anh?. Anh sẽ bằng lòng chết chung với em phải không?.
- Cũng có thể lắm chứ!.
Hạnh mừng rỡ ôm chầm lấy Huấn và cả hai hôn nhau đắm đuối. Lâu lắm họ vẫn chưa rời nhau ra. Rồi Huấn dang tay nhấc bổng người Hạnh lên để đi thẳng vào phòng ngủ. Chàng đặt nàng nằm xuống chiếc giường nệm êm ái, cả hai tiếp tục ôm xiết lấy nhau.
Một lúc sau, Huấn ngồi nhổm dậy, vói tay qua chiếc bàn nhỏ ở cạnh đầu giường để lấy điếu thuốc đốt hút. Hạnh vẫn nằm im với chiếc mền kéo ngang nửa ngực. Huấn phà khói thuốc vào không khí rồi xoay lại nhìn nửa vùng ngực đang phô bày, cảm thấy vẫn còn thèm úp mặt lên đó. Đầu óc Huấn làm việc thật nhanh, quyết định cũng thật nhanh:
- Em tưởng rằng anh sẽ bằng lòng chết chung với em dưới bàn tay của chồng em à?. Anh đâu có dại dột như vậy.
Hạnh mở to mắt:
- Nghĩa là sao?. Anh nói nếu em cũng yêu anh... Em bây giờ đâu còn ai thân thích ngoài anh ra, nếu không yêu anh thì yêu ai?. Hơn nữa, nếu không yêu anh, em đâu dễ gì nằm với anh như vầy. Vậy thôi, để em ra đi.
Huấn vội vàng ôm lấy đầu Hạnh:
- Đừng hiểu lầm anh, cưng. Ý anh muốn nói là cả hai chúng ta không nên dại dột để hắn ra tay trước. Mình phải hành động trước khi hắn hành động.
- Em chưa hiểu.
- Hắn có thể giết mình được thì mình cũng có thể giết hắn được vậy.
Hạnh chớp chớp mắt nhìn Huấn:
- Ừ nhỉ?. nhưng... mình sẽ đi tù chung thân?.
Huấn cười nhẹ:
- Mình phải khôn chứ em. Mình đâu có công khai giết đâu mà đi tù?.
- Mướn người à?.
- Mướn người cũng thua. Anh muốn nói là mình phải xếp đặt chương trình hành động. Em nghe anh hỏi đây, em có dám ra tay không?. Chỉ có một mình em mới làm được chuyện này, nếu em bằng lòng anh mới nói ra.
- Để em suy nghĩ.
Hạnh nằm im trong giây lát rồi chồm người lên lấy chiếc ví tay của nàng trên đầu giường mở ra. Hạnh soi lại mặt mình trong chiếc gương nhỏ và chải lại những sợi tóc lòa xòa trước trán bằng chiếc lược nhỏ màu đen. Huấn yên lặng nhìn và chờ đợi. Sau khi để mọi thứ vào chỗ cũ, Hạnh nói:
- Được rồi, em sẽ làm. Nếu em không giết hắn thì hắn sẽ giết em. Em giết người để tự tồn và được tự do chung sống với anh. Anh nói đi.
Huấn nghiêm nét mặt:
- Này nhé, em hãy giả vờ như thể em bằng lòng trở về với hắn. Rồi em sắp đặt một ngày cho hai người đi ăn tối ở một nhà hàng nào đó bên hướng Tây Bắc. Em cố ép cho hắn uống rượu càng nhiều càng tốt, nhưng em đừng uống vì em sẽ là người lái xe về. Rồi khi xe chạy ngang qua cây cầu, em giả vờ như bị lạc tay lái, để chiếc xe bay qua thành cầu, bay thẳng xuống sông. Trước đó, em phải nhớ chuẩn bị hai điều: thứ nhất là khóa cánh cửa bên hắn; thứ hai là nhanh tay mở cánh cửa bên em khi chiếc xe vừa bay xuống nước. Như vậy em sẽ có thể thoát ra ngoài dễ dàng và nước sẽ tràn vào xe nhanh hơn. Hắn đã say ngất ngư thì không thể nào phản ứng kịp thời. Chỉ cần năm phút kẹt trong xe, linh hồn hắn sẽ vĩnh viễn rời khỏi xác. Còn em sẽ trồi lên mặt nước chờ đội cứu cấp tới.
Hạnh chăm chú nghe, nhưng chưa nói gì. Huấn bồi thêm:
- Cách này vừa dễ, vừa an toàn, em không phải trực tiếp cầm một thứ vũ khí nào để giết người. Không có bằng chứng nào để kết tội em, tất cả chỉ là do tai nạn.
- Anh nói đúng, cách này dễ quá, nhưng sao anh biết chắc là cảnh sát sẽ để yên cho em mà không điều tra?.
- Họ sẽ điều tra chứ em, nhưng em cứ bình tĩnh giữ đúng một lời khai như sau: đêm đó chồng em uống rượu quá nhiều nên em phải lái xe về. Khi xe chạy ngang trên cầu, chồng em đã bất ngờ giành giựt tay lái nên chiếc xe mất thăng bằng, lao xuống sông. Chồng em không thoát ra được nên chết ngộp trong nước, thế thôi. Đâu có ai làm nhân chứng.
Hạnh vuốt lưng Huấn:
- Có chứ anh.
- Ai?.
- Anh đây nè! Nhưng thôi, em chỉ nói chơi thôi. Anh có chắc là em sẽ không bị đi tù?.
- Em sẽ hoàn toàn vô tội, anh bảo đảm.
- Nhưng anh ơi, cảnh sát có trăm phương ngàn kế để tìm ra sự thật.
- Đâu phải vụ giết người nào họ cũng tìm ra hết đâu. Em còn nhớ anh đã nói rằng vợ anh chết do một tai nạn không?. Tai nạn hắn sắp chết cũng giống như tai nạn vợ anh đã chết vậy.
Hạnh mở mắt thật to:
- Nghĩa là anh đã giết vợ bằng cách đó và cảnh sát đã không kết tội được anh?.
- Đúng vậy.
- Tại sao anh giết chị ấy?.
- Trinh đã ngoại tình trong lúc anh vẫn yêu nàng hết lòng.
- Anh tàn nhẫn quá...
- Trinh đã tàn nhẫn với anh trước. Trinh đã giới thiệu với anh rằng gã đó là anh họ của Trinh và hắn vẫn thường ghé nhà chơi, kể cả những lúc không có anh ở nhà. Sau đó, anh khám phá ra, hắn chính là gã nhân tình cũ của nàng. Như vậy, mỗi lần hắn đến không có anh ở nhà thì hắn và Trinh đã làm gì?. Anh phải có thừa thông minh để hiểu rằng họ đã làm chuyện tồi bại chứ.
- Sao anh không chọn giải pháp ly dị?.
- Ly dị thì anh cũng là người thua cuộc, Trinh sẽ thuộc về hắn và hắn sẽ hưởng phân nửa tài sản mà anh phải chia cho Trinh.
- Anh có bắt quả tang lần nào chưa?
- Dĩ nhiên họ cũng phải thông minh để không bị bắt quả tang chứ em.
- Anh đã kết tội tử hình một người mà không có bằng chứng.
- Thôi em ơi, đừng nói chuyện đó nữa, hãy nói chuyện mình đi. Em có đồng ý giết hắn bằng cách đó không?.
- Đồng ý. Bây giờ em cần ngủ để mai còn tỉnh táo hành động. Anh cũng phải đi làm nữa. Ngủ đi anh.
- Mình ngủ.
***
Huấn đang ngồi trong văn phòng. Đột nhiên cánh cửa bị xô mạnh. Hai người đàn ông ập vào thật nhanh:
- Ông Nguyễn Minh Huấn, chúng tôi được lịnh bắt giữ ông vì tình nghi giết nguời.
Trong lúc mắt Huấn mở lớn, chiếc còng sắt lạnh lùng tra vào cổ tay Huấn kéo về phía sau lưng.
- Tôi không hiểu gì hết?.
- Ông có quyền giữ im lặng. Những gì ông nói, có thể được dùng để kết tội ông trước tòa án.
***
Trong phòng điều tra, Huấn được nghe lại một đoạn băng ghi âm, bắt đầu là tiếng nói của Hạnh:
“- Được rồi, em sẽ làm. Nếu em không giết hắn thì hắn sẽ giết em.” “Em giết người để tự tồn và được tự do chung sống với anh. Anh nói đi.”
“-Này nhé, em hãy giả vờ như thể em bằng lòng trở về với hắn…”
Cả người Huấn bắt đầu toát mồ hôi. Sắc mặt Huấn từ từ đỏ rần lên trong lúc tiếng nói của Huấn và Hạnh vẫn tiếp tục phát ra từ cuộn băng cho tới đoạn cuối cùng không sót một chữ nào của cuộc đối thoại đêm đó.
“- Đồng ý. Bây giờ em cần ngủ để mai còn tỉnh táo hành động. Anh cũng phải đi làm nữa. Ngủ đi anh.”
"- Mình ngủ."
Cuộn băng chấm dứt bằng một tiếng động khô khan, sắt lạnh. Huấn bàng hoàng cất tiếng:
- Thì ra... các ông đã... đặt máy ghi âm... trong phòng tôi?.
- Không. Hồ sơ của anh, chúng tôi đã xếp lại. Chúng tôi đã tin rằng anh là kẻ vô tội, nhưng một người khác đã căn cứ vào lá thư này mà nhất định rằng vợ ông chết không phải do tai nạn. Người đó đã bằng lòng bỏ tiền ra mướn thám tử tư tiếp tục cuộc điều tra. Ông có muốn đọc lá thư không?.
- Có.
Huấn bắt đầu lướt mắt qua những dòng chữ rất quen thuộc của Trinh.
" Em van anh đừng đến gặp em nữa. Anh nên cố gắng quên em. Em đã có chồng tức là em đã chọn cho mình một hướng đi rõ ràng. Tại sao anh không chịu hiểu như vậy?. Ly nước đã đỗ xuống đất, anh không thể nào hốt lại được. Huấn là một người chồng rất tốt, xứng đáng để cho em kính trọng. Em vô cùng hối hận vì đã giới thiệu anh là anh họ em, nhưng ngoài cách đó ra, em đâu thể nào nói anh là người tình cũ?. Em đâu ngờ là anh dám ngang nhiên đến gõ cửa tìm em trong lúc Huấn đang ở nhà. Tưởng đâu chỉ lần đó thôi, ai ngờ anh cứ tiếp tục đến, nhưng mà gặp nhau để làm gì nữa?. Anh vịn vào lý do là anh họ thì có quyền đến thăm, sai bét rồi anh ơi! Lương tâm em đang cắn rứt vì đã nói láo chồng em.
Gần đây, Huấn có thái độ khó hiểu lắm. Huấn không nói gì hết, nhưng em đoán là Huấn đã tìm ra việc em gian dối, lỡ rồi, em không biết phải làm gì. Đôi lúc, em có thể nhìn thấy trong mắt Huấn tia sáng của một kẻ sắp làm một việc gì đó khủng khiếp lắm, như giết người chẳng hạn. Huấn sẽ giết ai, anh hay em?. Từ giác quan thứ sáu, em linh cảm một điều nguy hiểm sẽ xãy ra cho em, không sớm thì muộn.
Anh hãy bỏ thành phố này, đừng bao giờ trở lại gặp em. Em van anh, trăm ngàn lần, hãy tìm quên ở một người con gái khác. Tình đã xa, anh đừng mong gì ở em nữa, coi như đây là lời cuối cho nhau. Vĩnh biệt".
Huấn buông thỏng cánh tay, lá thư rơi xuống đất. Nhân viên điều tra đi đến, cúi lượm lá thư lên và nói:
- Bây giờ tôi xin trả lời cho xong câu hỏi của ông lúc nãy: Văn phòng thám tử tư đã dựng lên một vỡ kịch. Trong đó, nam diễn viên là ông và nữ diễn viên chính là nữ thám tử mỹ miều, duyên dáng tên Hạnh. Cô ta đã thi hành công tác này quá tuyệt vời. Những gì ông nói đều được ghi âm, nhưng chỉ có đoạn băng ông vừa nghe là đáng giá thôi.
Huấn nhớ lại, Hạnh đã lấy ví tay trên đầu giường để soi gương và chải tóc khi chàng bắt đầu nói.
Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014
Cha mẹ ở nhà con.
Tôi đến Mỹ rất trễ, đến từ một quốc gia thứ ba, nên ba mươi năm sau ngày mất nước tôi mới đặt chân lên xứ cờ hoa. Văn hóa và hệ thống xã hội nơi đây có những khác biệt so với nơi tôi đã sống, và điều dễ thấy nhất là nếp sống của xã hội Mỹ như vội vàng, cạnh tranh, và tấp nập hơn, so vơi nơi tôi đã sống, êm đềm và lặng lẽ.
Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào.
Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn.
Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng.
Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? "
Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết .
Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi.
Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
*Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ,* rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồng cứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm.
Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi.
*Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một.* Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
*Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh.
Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.*
Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc,
Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào.
Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn.
Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng.
Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? "
Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết .
Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi.
Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
*Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ,* rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồng cứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm.
Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi.
*Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một.* Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
*Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh.
Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.*
Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc,
Cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục*, chính là chổ này.
Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
"Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi".
Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.
Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi.
Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già.
Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ?
Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu?
Trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm.
Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT (Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác.
Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay.
Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy.
Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác.
Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
- Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
- Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi,một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học.
Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì không cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gia cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy.
Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
- Chú xin hay chú này xin?
- Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
- Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
- Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
- Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm.
Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
- Sao bác lại buồn?
- Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, .
Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
Du Tử
Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
"Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi".
Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.
Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi.
Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già.
Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ?
Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu?
Trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm.
Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT (Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác.
Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay.
Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy.
Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác.
Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
- Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
- Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi,một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học.
Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì không cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gia cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy.
Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
- Chú xin hay chú này xin?
- Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
- Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
- Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
- Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm.
Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
- Sao bác lại buồn?
- Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, .
Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
Du Tử
__._,_.___
Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014
Nếu có một ngày
Nhìn cô cháu gái đều tay thoa bóp, đôi chân đang sưng như thấy hết đau, bà thấy trong lòng dào dạt thương yêu, tận trong lòng bà thấy biết ơn, nên tỏ bày cùng cô cháu gái: "Cám ơn con, đã cho cô những ngày vui vẻ, bỏ hết bên kia cô về đây sống, muốn gần mồ mả ông bà, cũng muốn được gần con."
Cô cháu cười tươi, khoe hàm răng trắng: "Có gì đâu, cô như người mẹ, mà con lo cho mẹ là chuyện phải làm. Cô đừng bận tâm chỉ nên lo cho sức khỏe. Lần trước cô xuống lầu, không kêu con nên trợt té, cái chân đau tới bây giờ còn chưa hết, sau lần nầy cô phải cẩn thận hơn, đi tới đi lui phải có cây gậy cho an toàn. Con không có việc làm, chỉ quanh quẩn trong nhà nấu cơm rồi rửa chén, nếu cô cần sai bảo điều chi, thì cứ lớn tiếng kêu, con sẽ chạy lên ngay lập tức."
Nghe những lời chân tình từ cô cháu gái, bà cười hiền, nheo nheo đôi mắt ướt:
- Cô muốn khóc khi nghe con nói. Tuổi trẻ bây giờ có mấy đứa được như con? Gia đình ta bao nhiêu đời nhân nghĩa, nên sanh ra được cây lành giống tốt là con. Cái chân đau cô ngồi hoài một chỗ, cứ lẩn quẩn trong phòng, thấy cuống cả chân tay. Sau lần nầy con nên thu xếp lại, để cho cô ở dưới lầu đi đứng được dễ hơn.
Cô cháu gái nhìn bà mỉm cười phân giải:
- Cô ở bên kia sạch sẽ quen rồi, nên con dành phòng trên lầu cho cô yên tịnh, vừa ngăn nắp, lại vừa có không gian riêng cho cô thoải mái, chứ ở dưới kia tụi con bày bừa bộn, nấu nướng cả ngày, cô khó nghỉ ngơi.
Nghe cô cháu giải thích bà thấy ấm lòng, vì trong từng lời nói, từng cử chỉ săn sóc nó làm bà hài lòng hơn cả ước mong. Cứ thế sáng chiều ba bữa nó nấu ăn, chăm chút từng món ngon cho bà vừa miệng. Biết bà thích cá lóc, nó lựa ngay con thật bự, để dành riêng đùm trứng rất ngon, còn cho thêm nhiều hành, tiêu để bà ăn vào cho ấm bụng. Ăn uống xong bao giờ nó cũng nhắc, cô phải uống thuốc ngay, đừng chần chờ, vì nếu lỡ quên, chân hành đau sẽ làm cô nhức nhối. Hay có bữa nó bưng mâm cơm lên mà tiếng nói reo vui:
- Con nấu canh chua cá bông lau mà cô ưa thích, cô ăn nhanh còn nóng mới ngon.
Nhìn mâm cơm canh tươm tất, bà thấy rất thương, vì cảm được cái tình của cháu dành cho mình rất đậm. Bà dịu dàng căn dặn:
- Con nấu món gì cô cũng thích ăn, nhưng nhớ đừng nấu món riêng đặc biệt, cô già rồi ăn không còn nhiều được nữa, tụi con muốn ăn món nào, cô cũng thích ăn theo. Cô về đây ở luôn chứ phải đâu là khách, cứ nấu nướng bình thường đừng để cực cho con.
- Dạ, con biết rồi, cô đừng có ngại, chăm sóc người già, là phải lo cho kỹ, ăn uống sao cho bổ dưỡng mới kiện thân, tụi con còn trẻ ăn gì cũng được, chỉ cần ăn sơ sơ cũng qua xong một bữa.
Vừa ăn bà vừa thầm nghĩ: già như mình thì cũng nên... già, ở với cháu mà được nó thương, lo cho từng chút, thấy sao ấm lòng. Đã mấy mươi năm làm thân viễn xứ, nặng gánh đôi vai thay chồng đã khuất, ông đã làm tròn bổn phận với quê hương, còn tôi cũng lo xong một đời làm mẹ, dang rộng đôi tay bao bọc đàn con, nay các con đã khôn lớn nên người, thì cũng là lúc tôi muốn quay về sống lại với làng xưa, để sau nầy khi tới lúc phải ra đi, thân xác tôi sẽ được nằm kề bên ông.
Nay tôi đã được thỏa lòng, ôm mơ ước về quê dù ngơ ngác, cũng nơi đây chiếc cầu ngày xưa tôi và ông hò hẹn, nhưng bây giờ là cầu gạch bắc qua sông. Cũng không sao, đời vật đổi sao dời, huống chi chỉ có cây cầu năm xưa. Cầu có đổi thay nhưng lòng tôi không thay đổi, cũng vẫn như ngày nào thích nằm nghe tiếng gà gáy, thích nghe tiếng rao hàng thanh thoát trong sớm mai, thích nghe tiếng người cười nói lao xao bắt đầu cho một ngày mới. Chỉ ngần ấy đó thôi, những thứ rất bình thường nhưng sao thấy đậm đà sao tha thiết tình quê.
Nghĩ thế nên bà mới chọn con đường về Việt Nam sống luôn với cô cháu gái, tụi nó không có việc làm chỉ săn sóc bà thôi, thì như thế cũng rất công bằng cho cả đôi bên, bà có tiền, cô cháu có công, nên cũng vẹn toàn cho cả cô lẫn cháu. Quà cho cô cháu là xây lại căn nhà, trên nền nhà cũ của hai vợ chồng ngày họ mới cưới được vài năm. Chi phí việc chăm lo cho bà là 300 đô mỗi tháng, do các con ở bên Mỹ gởi về.
Quyết định về Việt Nam sống luôn làm mấy đứa con bà lo lắng không yên, nhưng chúng vẫn phải để mẹ đi theo con đường mẹ chọn. Riêng bản thân bà lại thấy mình... sáng suốt, tuy có nhớ con nhớ cháu, nhưng lòng thấy nhẹ nhàng vì mình không làm gánh nặng cho các con, mà lại được sống những năm cuối đời như mình mơ ước.
Ngày tiễn bà về Việt Nam ở luôn không qua nữa, đứa nào cũng bịn rịn khóc thương không muốn rời. Giấu nước mắt bà dặn dò: đừng về thăm mẹ vì đường xa con nhỏ, hãy coi như mẹ đi chơi xa một chuyến, nếu còn khỏe thì cứ vài năm mẹ sẽ về thăm...
Chỉ có cô em Út, lúc đầu là ồn ào phản đối không vui, rồi còn khuyên giải chị đừng về nơi chốn cũ, nơi mà chị em mình từng đánh đổi mạng sống để ra đi. Và đến khi thấy không còn lay chuyển được bà chị già bướng bỉnh, nó làm mặt giận hờn rồi không thèm nói nữa. Tưởng là con em Út giận luôn, ai dè giờ chót nó cũng ra tiễn bà. Nhét gói thuốc bổ cho bà, nó dặn dò đủ thứ rồi còn thì thầm: “lần nào đi đâu cũng có chị có em, chỉ có lần nầy chị muốn một mình ra đi không định ngày trở lại, chị có thể quên tất cả, nhưng phải nhớ đừng quên lời em dặn”. Nghe nói bà gật đầu cho nó được yên tâm, chứ thật ra thì bà đang nghĩ: con Út nầy lúc nào cũng lo xa, nhưng đôi khi cũng... không cần thiết lắm. Từ ngày đó đến nay con Út cũng an tâm khi nghe chị mình sống vui là có thật, nên đã bớt lo, còn hẹn năm sau nó sẽ về thăm.
Như thường lệ, sáng nay cô cháu bưng cho bà mâm cơm nóng. Hăm hở ăn bà xuýt xoa khen, rồi cao hứng vừa ăn vừa kể chuyện, cô cháu ngồi nghe cũng góp lời cho bà thêm hứng khởi, được một lúc, bà chợt thấy câu chuyện mình đang kể, cô cháu nghe hưởng ứng chỉ cầm chừng chứ không còn sôi động nữa, nên ngừng đũa bà dò hỏi:
- Có gì không con? Sao mà ngồi thừ ra đó?
Cô cháu nhìn bà, rồi nhìn xuống bàn tay, săm soi mấy cái móng, nó ngập ngừng: "Cô à, con cần... 5 ngàn."
Hơi ngạc nhiên bà hỏi lại cho rõ: "5 ngàn Việt hay 5 ngàn đô?"
Cô cháu cười phì: "5 ngàn đô, chứ 5 ngàn Việt thì con có rồi."
Bà nhìn cô cháu gái, ngần ngừ một chút rồi nói:
- Con có nhớ, cô đưa con 3 ngàn đô lần trước, là số tiền cuối cùng cô giữ để hộ thân, đưa hết cho con, vì con cần khẩn cấp, nên bây giờ cô chỉ còn có mấy trăm.
Cô cháu gái có vẻ không vui, ngồi yên không nói, một lúc sau nó ngập ngừng đề nghị:
- Hay là cô phone về bên đó, kêu gởi tiền qua để... cô xài. Con kẹt tiền nên mới nhờ cô lần nữa, chứ hỏi tiền hoài con thấy quá ngại ngùng. Cô cũng biết vật giá leo thang, cái gì cũng mắc, nếu đủ tiền rồi thì con đâu dám hỏi cô.
Thấy nó đổi giọng buồn buồn thì bà cũng thương, nhưng nó xúi xin thêm tiền thì bà thấy không vui, nhưng vẫn ôn tồn:
- Từ đầu con nói với cô, 25 ngàn đô là quá dư để cất một căn nhà, nên cô bằng lòng vì số tiền đó cô lo được, nhưng từ đó đến nay, tiền đã tăng lên gấp đôi, mà nhà cất vẫn chưa xong làm cô lo lắng, vì thật sự cô không còn tiền nữa.
Nghe tới đây, nó xụ mặt, lầm bầm trong miệng:
- Mỗi lần kêu cô đưa tiền, là mỗi lần cô nhắc chuyện... đời xưa. Cất một tầng, với cất ba tầng lầu thì giá tiền phải khác chứ!
Thấy đứa cháu mới mấy phút trước còn ngọt ngào vui vẻ, mấy phút sau đã trở giọng khi nghe không có tiền, bà thấy bực mình, nhưng vẫn giảng giải:
- Cô đã nói với con, phải “liệu cơm gắp mắm”, phải gói gọn trong số tiền mình có. Cô về đây là để dưỡng già, cốt chỉ gần mồ mả ông cha, chứ không cần nhà cao cửa rộng. Nhà cũ của con tuy đơn sơ nhưng ấm cúng gọn gàng. Cô thay nhà tranh, thành nhà tường như con mơ ước, vì muốn nhân đây làm quà tặng cho con. Dự định ban đầu là cất nhà tường, nay đã trở thành nhà lầu ba tầng, có cổng rào riêng biệt, cô cũng vui nếu con biết ngừng ở đó, còn nếu như con tiếp tục dài dài, hết đập bỏ nhà bếp xi măng vừa mới làm xong, thay vào đó là đá hoa cương cho giống nhà hàng xóm, rồi nhà tắm, giường nằm, bộ bàn ăn, con cũng muốn thay... Cô thật sự cạn kiệt không còn tiền cho con nữa.
Biết lần nầy khó lấy được tiền, nó hạ giọng, nhưng chầm dầm cái mặt:
- Thì cũng muốn cô ở cho sang, mang tiếng Việt kiều mà cất nhà tường lèo tèo dưới... nách nhà bên cạnh, nên con cũng... ráng cất cao thêm một chút, để cho thiên hạ khỏi chê cười.
Nghe con cháu có cái tánh đua đòi, bà thấy ngán ngẩm nên nói:
- Con đừng so sánh với người ta. Nhà ai nấy ở, mình nhìn người ta làm gì!?
Nghe bà nói cái kiểu... an phận đó, nó phát bực:
- Con... khổ với cô hết biết! Nói cách nào thì cô cũng không... thèm hiểu. Người ta Việt kiều, mình cũng Việt kiều, Việt kiều mình... bèo quá sẽ bị người ta khinh! Cái cổng nhà bên nó xây chồm ra phía trước, làm cho cái nhà mình coi lép vế kề bên, nên dễ gì con để nó... chơi ngông, nên tiền đợt trước con đã xây liền cái cổng. Con chỉ cần thêm 5 ngàn nầy nữa, là coi như xong hoàn tất được căn nhà.
Bà buông đũa, ngồi thừ ra, một lúc sau bà nói:
- Nói thật, cô không dám phone về xin tiền thêm lần nữa, anh chị bên kia còn nợ nhà, còn con nhỏ phải lo. Cũng đã nhiều lần cô kêu tụi nó gởi thêm tiền lần cuối, để cất cho xong căn nhà còn dang dở, nhưng bây giờ nhà đã xây xong, thì mỗi tháng con chỉ nên nhận 300 đô là đủ.
Vẻ cương quyết không đưa tiền thêm nữa lần nầy của bà làm cô cháu bất mãn. Nó thẳng thừng:
- Nhà đẹp thì cô cũng... nở mày nở mặt, chứ phải đâu chỉ một mình con? Nếu lòng cô không muốn giúp, thì thôi cứ để mặc con!
Nói xong cô cháu vùng vằng đứng dậy, tiện tay bưng luôn cái mâm, dù thấy rõ bà chưa ăn hết phần cơm trong chén. Bước ra khỏi phòng, tiện tay nó đóng ầm cánh cửa lại. Thái độ của nó làm bà chới với, bà lắc đầu ngao ngán rồi nghĩ thầm: con nhỏ nầy bình thường ngọt ngào hiếu thảo, hôm nay hỏi tiền không có, thì nó lộ ra là đứa chẳng ra gì! Bực mình quá bà cũng hết muốn ăn, nhưng thái độ đòi tiền của cô cháu gái, làm bà như nghẹt thở.
Sáng nay thức dậy sau giấc ngủ mệt nhoài. Bà ngồi yên nhìn cánh cửa, mà hôm qua cô cháu đã mạnh tay đóng ầm, bà thấy cuộc sống yên vui từ nay chắc không còn nữa... Suy nghĩ miên man cho tới khi thấy đói, bà mở cửa phòng nhìn quanh, rồi cất tiếng kêu to. Nhà không có tiếng động, im lặng như tờ. Ngồi chờ cho tới quá trưa, tay chân bắt đầu run vì đói, bà kéo mấy cái hộc tủ ở ngay đầu giường, kiếm xem có bánh kẹo gì để ăn, nhưng rồi lại nhớ ra ngày thường vì sợ kiến bu, nên đồ ăn vặt không để trong phòng bà.
Muốn từng bước xuống mấy bậc cầu thang tới nhà bếp để kiếm gì ăn, nhưng loay hoay một lúc, bà lại sợ sẽ nhào đầu xuống thang, nên đứng dựa lưng vào tường mà thở. Bụng đói cồn cào buồn nôn muốn ói... bà chợt nhớ ra trong hộp thuốc bổ có mấy cây kẹo ho, mà con em út đã nhét vội cho bà lúc tiễn đưa. Mừng quá, bà lần bước trở về phòng tìm cây kẹo. Chất kẹo the ngọt làm cho bà không còn muốn ói nữa.
Quá 3 giờ chiều, cô cháu về đem cho bà ổ bánh mì thịt, nó hấp tấp nói: "Con đi... chạy tiền, nên về không kịp, cô ăn đỡ bánh mì, khi nào trả được nợ con mới có... sức nấu nướng cho cô." Nói xong, nó bước nhanh ra cửa. Bà kêu vói theo, nó đi luôn không quay lại. Nhìn theo nó, bà muốn quăng trả lại ổ bánh mì cho đỡ tức, nhưng cùng lúc cũng dằn được cơn nóng giận. Nhìn ổ bánh mì rồi nhớ lời nó nói trước khi đi, bà thấy bất an. Bà thầm nghĩ: chẳng lẽ từ đây mỗi lần nó cần tiền là mỗi lần nó chơi cái trò bỏ đói mình?
Lần đầu tiên sau 6 tháng về đây, bà mới biết thế nào là lo lắng, vì cảm thấy cô cháu mà bà hết dạ tin yêu đã bắt đầu... trở mặt. Mà quả đúng như bà lo sợ, đêm đó nó đi đâu mất biệt không về. Nhà cửa tối đen, mình bà ngồi im trông ngóng... Đêm đó bà tiếp tục ngậm kẹo ho cho đở đói, rồi ngủ thiếp đi cho tới khi bà giựt mình thức dậy, trời chưa sáng lắm, bà chống gậy bước ra khỏi cửa phòng rồi cất tiếng kêu vang, không có tiếng trả lời, chỉ có âm thanh dội lại trong cái không khí thanh vắng của buổi sáng không người...
Ngoài kia có tiếng người qua lại, có tiếng rao hàng của chị bán xôi, bà mở tung cửa sổ định thẩy tiền xuống mua, nhưng bà chợt nghĩ: tiền thì xuống được chứ xôi thì... Nghĩ đến đây bà hốt hoảng kêu trời, vì chợt nhớ ra, khi đi thì chắc chắn nó đã khóa cửa trước, cửa sau, khóa luôn cổng rào. Đêm qua bà ở một mình, nếu nhà bị cháy, thì coi như đã xong đời bà. Ý nghĩ nầy làm bà hoảng hốt... Nước mắt tuôn dài, lần đâu tiên bà biết sợ, và biết thế nào là thế cô một mình. Bà bắt đầu hối hận. Cả đời bà không biết tận hưởng những giây phút an vui với con cháu bên kia, mà luôn hoài niệm về quá khứ, rồi tưởng tượng ra cái tương lai mơ hồ không có thật để mong an dưỡng tuổi già, nên bà đã hân hoan ôm tiền về đây xây nhà... tù nhốt mình.
Càng nghĩ bà càng thấy sợ, tự dưng người phát lạnh, tay chân run rẩy, bà choáng váng muốn té nhào, nhưng cố gượng lại, ráng quay về giường. Muốn phone cho con Út để khóc than với nó, nhưng ngày thường con cháu của bà nó chỉ xài điện thoại di động mà thôi, cho nên nếu như nó bỏ đi luôn cả tháng không về, thì cũng sẽ không ai biết có một bà già đang... chết khô. Tới trưa cô cháu về mang cho bà gói xôi, nó nói:
- Hôm qua con biết cô ở nhà một mình, con muốn về sớm hơn nhưng kẹt đò, đành phải ngủ lại đó qua đêm.
Thấy mặt nó, bà bừng bừng nổi giận, bà nhìn nó trân trân, muốn chửi cho nó một trận mới hả lòng, nhưng bà ở trong cái thế phải ráng dằn lòng, nên nhè nhẹ hít vào rồi lại thở ra trước khi trách nhẹ nhàng:
- Con làm gì, thì cũng phải nghĩ tới cô ở nhà một mình đói khát, cách đối xử của con mấy ngày nay rất tệ. Nên dành ra một chút thời gian suy nghĩ lại đi con!
Nghe cái giọng trách hờn đó, cô cháu bực mình trả đũa ngay:
- Con chạy đôn chạy đáo kiếm tiền làm gì mà có thời gian suy nghĩ. Tại cô không muốn giúp, thì con phải tự lo thôi!
Tưởng là nó còn... nể mặt nên bà mới lên tiếng trách, nào ngờ vừa mới dứt lời thì nó... đốp lại ngay, bà không sao nín được, nên lên giọng:
- Con nói vậy mà nghe được sao? Tiền đưa cho con bao nhiêu cũng hết, lần nào cần tiền, con cũng nói là đưa thêm lần cuối, nhưng con đã lấy bao nhiêu lần cuối rồi con có nhớ không?
Cô cháu cũng không vừa: "Tiền cô đưa ra, cũng đổ vô cái nhà cho cô ở, chứ mất đi đâu mà cô kể lể!" Nói xong nó dùng dằng bỏ đi. Bà lớn tiếng kêu to, nó vẫn không thèm nhìn lại. Còn lại một mình, bà ôm đầu nhìn lên trần nhà, bà nghĩ: thương nó như con, có bao nhiêu tiền thủ thân bà đã lần hồi... nhét hết cho nó, vậy mà khi hỏi tiền không có, nó dám bỏ bà đói để bà... lòi tiền ra. Nhìn gói xôi tự dưng bà... khóc ngất. Bà chợt nhớ con, nhớ cháu, nhớ những lời con em Út dặn dò trước khi đi... Đêm đó, nó cũng khóa cửa nhà, rồi đi đâu mất biệt. Bà biết muốn lấy tiền thì nó phải làm vậy thôi, nên lần nầy bà nằm im, ngậm kẹo ho chịu trận!
Sáng hôm sau, chưa tới 9 giờ, cô cháu mở cửa phòng bước vào, nó tươi vui như không có chuyện gì. Nhìn thấy mặt nó, bà giận dữ, muốn thét lên cho hả giận, nhưng kịp ngừng. Bà nín thinh dây mặt ra hướng khác. Cô cháu vừa cười vừa đưa cái điện thoại cho bà, nó nói:
- Cô phone về bển, nói mấy anh chị cho con mượn 5 ngàn đô, rồi từ từ con trả lại. Con đang nấu cháo gà. Nói chuyện xong là có cháo nóng ăn liền.
Nghe nó trắng trợn lấy tô cháo gà đổi lấy 5 ngàn đô, bà tức ứa gan, mặt bà đanh lại, ánh mắt long lên tia giận dữ. Cô cháu nhìn bà, thấy hết những căm hờn từ trong ánh mắt ấy, nó cũng đã chuẩn bị tinh thần để đối phó nếu cần, và tô cháo gà chỉ là phương tiện để điều khiển bà cô... cứng đầu nầy. Nó nghĩ: cháo gà thì có thể cô không ăn, nhưng 5 ngàn đô thì nhứt định nó phải lấy. Nghĩ thế, nó nghiêm sắc mặt tiến tới ấn cái điện thoại trong tay bà mà nói:
- Cô nên phone liền bây giờ, 9 giờ sáng bên nầy, khoảng 9 giờ tối bên kia, đừng để trễ quá 10 giờ, mấy anh chị bên kia còn phải ngủ. Cô nhớ: chỉ nói những chuyện cần nói, và chỉ trả lời trong phạm vi sức khỏe mà thôi.
Nhìn cái cách nó sấn tới ấn cái điện thoại vào tay bà, và nó đứng ở thế sẵn sàng đối phó nếu bà la lên cầu cứu bên kia. Thì bà biết con nhỏ nầy đã táng tận lắm rồi. Suy nghĩ thật nhanh, thay vì giận dữ, bà chuyển qua vẻ mặt chịu đựng, cho nó có cái cảm giác đã khuất phục được bà, để bà được an thân. Cầm cái điện thoại trên tay, trái tim bà đập mạnh, vì biết sau lần nầy, sẽ ít khi nào bà có dịp cầm tới. Bà bắt đầu bấm số. Phía bên kia đầu dây cô Út reo vui khi nhận ra tiếng bà, chỉ hỏi thăm sơ vài câu ngắn ngủi bà vô đề ngay, vì thấy con cháu nó đang nghiêm mặt nhìn bà không nháy mắt:
- Út à, em gởi ngay cho chị 5 ngàn.
- Ủa, sao cần nhiều tiền vậy chị?
Nghe hỏi như thế, bà bực mình nên hơi lên giọng: "A Di Đà Phật, kêu gởi thì gởi liền đi, gởi càng sớm càng tốt. A Di Đà Phật!"
Bên kia đầu dây, một thoáng yên lặng, rồi tiếng cô Út trả lời: "Hiểu rồi, chị yên tâm, em sẽ gởi ngay cho chị trong tuần nầy. Thôi chị nghỉ ngơi đi. Bye chị!"
Lấy lại cái phone, nó hỏi: "Ủa! Cô Hai vô đạo Phật hồi nào mà nói A Di Đà Phật liền miệng vậy?"
Bà nhếch môi nói: "Ừ, thì bên đó, nghe mấy người bạn nói hoài nên cũng quen miệng nói theo."
Nghe bà nói thế nó nín thinh, bỏ đi ra ngoài. Lát sau nó bưng lên cho bà tô cháo trắng với dĩa củ cải kho. Nhìn thấy tô cháo trắng thay vì tô cháo gà như lời nó nói, bà lặng im ăn không nói gì. Nhìn bà khoan thai ăn, thần sắc thư thái, nó nghĩ: Vậy cũng tốt! Mới bỏ đói có hai ngày mà đã biết... sợ rồi, ngoan ngoãn nghe lời như vậy thấy... dễ thương hơn! Sau đó, mọi thứ trở lại bình thường, ngày ba bữa nó bưng lên đầy đủ, chỉ là hai bên không có gì để nói với nhau.
Cuối tuần đó, bỗng dưng nhà có khách. Cô Út về thăm bất ngờ nầy làm cho con cháu ngỡ ngàng lo sợ, vì lát nữa đây cô Út sẽ gặp cô Hai trên lầu. Lần nầy cô Út về quê không báo trước. Bấm chuông, cửa mở, cô xông thẳng vào nhà như cơn gió lốc, mặt tươi vui cô nói cười luôn miệng, còn lăng xăng khen nhà đẹp, nhà sang, khen qua con cháu gái có nước da quá mịn, khen luôn thằng cháu rể có phước tướng, thế nào cũng phát tài, phát lộc, phát giàu sang... làm cho không khí xôn xao vui nhộn. Và khi mọi người còn chưa dứt tiếng cười vang, thì cô Út chủ động nắm tay con cháu, kéo nó cùng đi ngay lên lầu, miệng kêu ơi ới: "Chị hai ơi! Chị hai. Ra coi ai về thăm chị nè!"
Nhận ra tiếng cô Út, bà dằn lòng không khóc. Thấy hai cô cháu cùng bước vào, bà tươi cười hỏi: "Ủa, Út về mà sao không cho hay trước, để chị kêu em mua thêm vài thứ thuốc."
Cô Út cười lớn tiếng nói: "Em phải chạy về gấp, vì có người hỏi mua căn nhà của chị, em cần thêm giấy tờ để bán cho xong."
Trong lúc bà còn đang gật gù như hiểu chuyện, thì cô Út dây qua nói với cô cháu gái: "Con đi lấy toàn bộ giấy tờ của cô Hai ra đây, để cô Út coi cái nào cần xài."
Nghe thế, cô cháu thoáng liếc bà, tần ngần một chút, rồi dây qua nhìn anh chồng đang đứng xớ rớ ngoài cửa phòng, thấy thế cô Út cười lớn nói: "Bán xong căn nhà, thì có tiền cho tụi bây."
Khi cầm được cái passport trong tay, cô Út bỏ ngay vào bóp, rồi dây qua ân cần nói với bà chị: "Ngồi đây chi một mình, để em kè chị xuống nhà có đông người cho vui." Nói xong cô Út tự động ôm cánh tay chị mình, từng bước dìu xuống mấy bậc cầu thang. Khi xuống được tới dưới nhà thì cô Út dây qua nói với hai vợ chồng cô cháu gái:
- Hôm nay vui quá! Mình ra ngoài ăn mừng ngày đoàn tựu. Tài xế cô bao vẫn còn chờ ngoài kia.
Cô cháu gái nghe thế nên lên tiếng: "Cô về sao không cho hay, để tụi con đi đón đông người cho vui."
Cô Út nhìn nó cười giòn:
- Tánh cô tự lập quen rồi. Khi muốn đi thì mua vé, bay cái vèo qua đây. Bước ra một bước, thì có cả đoàn xe sắp hàng chờ, nên cô đâu muốn kêu con, để cho bất ngờ con sẽ thấy vui hơn...
Và khi xe ngừng lại trước cửa nhà hàng. Vỗ nhẹ vai chị, cô Út dịu dàng: "Cái chân đau, chị đi đứng khó khăn không thoải mái, cứ ngồi yên chờ, em sẽ mua đồ đem ra." Nói xong, cô Út dây qua nắm tay cô cháu gái kéo nhau cùng xuống xe. Chọn đại một cái bàn, vừa kéo ghế ngồi xuống, cô Út bật đứng lên, móc bóp lấy ra tờ 100 đô đưa cho cô cháu gái. "Nè, con cầm tiền nầy, hai đứa muốn ăn gì tùy thích, cô nhớ ra là có chuyện cần làm, cô đi trước, sẽ gặp tụi con sau."
Từ lúc gặp cô Út cho đến giờ, cô nói cười luôn miệng, phản ứng nhanh nhẹn, biến đổi không ngừng, làm cho hai vợ chồng cô cháu gái bị động theo từng chuyển biến của cô. Giờ cầm tờ 100 đô trên tay hai vợ chồng nó bối rối chưa biết phản ứng sao, thì cô Út đã đi nhanh ra xe, nói tài xế vọt thẳng về hướng Sài Gòn.
Nắm chặt tay cô Út, bà khóc ngất, cô Út nhẹ nhàng giải thích: "Sợ nó làm khó không trả lại giấy tờ cho chị, nên em làm bộ nói chuyện bán nhà cho nó ham mà đưa passport ra cho lẹ, rồi cũng phải tìm cách đưa chị ra khỏi chỗ đó cho nhanh. Sợ ở qua đêm, hai chị em mình sẽ bị nó... làm càng vì mưu đồ đã lộ. Nên rủ tụi nó đi ăn, để tiện bề kéo chị thoát thân."
- Chị sợ em không hiểu.
- Làm sao mà không hiểu! Cũng may là chị còn nhớ lời em căn dặn trước khi đi.
- Không nhờ câu... mật khẩu của em, thì chị sẽ chết mòn trong tay nó, và sẽ là món mồi ngon để tụi nó câu tiền... Em cũng khôn khi chọn câu: A Di Đà Phật, vì khi nói lên câu nầy, nghe như mình đang niệm Phật, tụi nó tinh ranh cỡ nào thì cũng khó mà đoán ra.
- Khi thấy chị quyết định về Việt Nam an dưỡng tuổi già, lòng em không yên, nên mới nghĩ ra câu mật khẩu nầy, để nếu có một ngày nhận được... tín hiệu nầy, em sẽ bay về... cứu chị.
Em à, chuyện như thế nầy chị có nghe nhiều người kể, nhưng không tin lắm và luôn nghĩ người bất hạnh đó sẽ không phải là mình. Bây giờ lâm cảnh nầy chị mới hiểu vì tiền thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra, gặp những đứa bất tài mà có lòng tham thì sẽ dùng mọi thủ đoạn để kiếm tiền, mà đi lường gạt người ngoài thì không đủ sức còn lo tù tội, chi bằng kiếm tiền vừa dễ vừa nhanh mà lại an toàn đó là lợi dụng vào cốt nhục tình thâm. Người lường gạt, sang đoạt được, thì nhởn nhơ vui hưởng vì không phải lo bị truy tố, còn người mất của thì lặng im trong nỗi đau không dứt vì vừa mất tiền vừa mất cả lòng tin.
Nguyễn Sỹ Thùy Ngân
Cô cháu cười tươi, khoe hàm răng trắng: "Có gì đâu, cô như người mẹ, mà con lo cho mẹ là chuyện phải làm. Cô đừng bận tâm chỉ nên lo cho sức khỏe. Lần trước cô xuống lầu, không kêu con nên trợt té, cái chân đau tới bây giờ còn chưa hết, sau lần nầy cô phải cẩn thận hơn, đi tới đi lui phải có cây gậy cho an toàn. Con không có việc làm, chỉ quanh quẩn trong nhà nấu cơm rồi rửa chén, nếu cô cần sai bảo điều chi, thì cứ lớn tiếng kêu, con sẽ chạy lên ngay lập tức."
Nghe những lời chân tình từ cô cháu gái, bà cười hiền, nheo nheo đôi mắt ướt:
- Cô muốn khóc khi nghe con nói. Tuổi trẻ bây giờ có mấy đứa được như con? Gia đình ta bao nhiêu đời nhân nghĩa, nên sanh ra được cây lành giống tốt là con. Cái chân đau cô ngồi hoài một chỗ, cứ lẩn quẩn trong phòng, thấy cuống cả chân tay. Sau lần nầy con nên thu xếp lại, để cho cô ở dưới lầu đi đứng được dễ hơn.
Cô cháu gái nhìn bà mỉm cười phân giải:
- Cô ở bên kia sạch sẽ quen rồi, nên con dành phòng trên lầu cho cô yên tịnh, vừa ngăn nắp, lại vừa có không gian riêng cho cô thoải mái, chứ ở dưới kia tụi con bày bừa bộn, nấu nướng cả ngày, cô khó nghỉ ngơi.
Nghe cô cháu giải thích bà thấy ấm lòng, vì trong từng lời nói, từng cử chỉ săn sóc nó làm bà hài lòng hơn cả ước mong. Cứ thế sáng chiều ba bữa nó nấu ăn, chăm chút từng món ngon cho bà vừa miệng. Biết bà thích cá lóc, nó lựa ngay con thật bự, để dành riêng đùm trứng rất ngon, còn cho thêm nhiều hành, tiêu để bà ăn vào cho ấm bụng. Ăn uống xong bao giờ nó cũng nhắc, cô phải uống thuốc ngay, đừng chần chờ, vì nếu lỡ quên, chân hành đau sẽ làm cô nhức nhối. Hay có bữa nó bưng mâm cơm lên mà tiếng nói reo vui:
- Con nấu canh chua cá bông lau mà cô ưa thích, cô ăn nhanh còn nóng mới ngon.
Nhìn mâm cơm canh tươm tất, bà thấy rất thương, vì cảm được cái tình của cháu dành cho mình rất đậm. Bà dịu dàng căn dặn:
- Con nấu món gì cô cũng thích ăn, nhưng nhớ đừng nấu món riêng đặc biệt, cô già rồi ăn không còn nhiều được nữa, tụi con muốn ăn món nào, cô cũng thích ăn theo. Cô về đây ở luôn chứ phải đâu là khách, cứ nấu nướng bình thường đừng để cực cho con.
- Dạ, con biết rồi, cô đừng có ngại, chăm sóc người già, là phải lo cho kỹ, ăn uống sao cho bổ dưỡng mới kiện thân, tụi con còn trẻ ăn gì cũng được, chỉ cần ăn sơ sơ cũng qua xong một bữa.
Vừa ăn bà vừa thầm nghĩ: già như mình thì cũng nên... già, ở với cháu mà được nó thương, lo cho từng chút, thấy sao ấm lòng. Đã mấy mươi năm làm thân viễn xứ, nặng gánh đôi vai thay chồng đã khuất, ông đã làm tròn bổn phận với quê hương, còn tôi cũng lo xong một đời làm mẹ, dang rộng đôi tay bao bọc đàn con, nay các con đã khôn lớn nên người, thì cũng là lúc tôi muốn quay về sống lại với làng xưa, để sau nầy khi tới lúc phải ra đi, thân xác tôi sẽ được nằm kề bên ông.
Nay tôi đã được thỏa lòng, ôm mơ ước về quê dù ngơ ngác, cũng nơi đây chiếc cầu ngày xưa tôi và ông hò hẹn, nhưng bây giờ là cầu gạch bắc qua sông. Cũng không sao, đời vật đổi sao dời, huống chi chỉ có cây cầu năm xưa. Cầu có đổi thay nhưng lòng tôi không thay đổi, cũng vẫn như ngày nào thích nằm nghe tiếng gà gáy, thích nghe tiếng rao hàng thanh thoát trong sớm mai, thích nghe tiếng người cười nói lao xao bắt đầu cho một ngày mới. Chỉ ngần ấy đó thôi, những thứ rất bình thường nhưng sao thấy đậm đà sao tha thiết tình quê.
Nghĩ thế nên bà mới chọn con đường về Việt Nam sống luôn với cô cháu gái, tụi nó không có việc làm chỉ săn sóc bà thôi, thì như thế cũng rất công bằng cho cả đôi bên, bà có tiền, cô cháu có công, nên cũng vẹn toàn cho cả cô lẫn cháu. Quà cho cô cháu là xây lại căn nhà, trên nền nhà cũ của hai vợ chồng ngày họ mới cưới được vài năm. Chi phí việc chăm lo cho bà là 300 đô mỗi tháng, do các con ở bên Mỹ gởi về.
Quyết định về Việt Nam sống luôn làm mấy đứa con bà lo lắng không yên, nhưng chúng vẫn phải để mẹ đi theo con đường mẹ chọn. Riêng bản thân bà lại thấy mình... sáng suốt, tuy có nhớ con nhớ cháu, nhưng lòng thấy nhẹ nhàng vì mình không làm gánh nặng cho các con, mà lại được sống những năm cuối đời như mình mơ ước.
Ngày tiễn bà về Việt Nam ở luôn không qua nữa, đứa nào cũng bịn rịn khóc thương không muốn rời. Giấu nước mắt bà dặn dò: đừng về thăm mẹ vì đường xa con nhỏ, hãy coi như mẹ đi chơi xa một chuyến, nếu còn khỏe thì cứ vài năm mẹ sẽ về thăm...
Chỉ có cô em Út, lúc đầu là ồn ào phản đối không vui, rồi còn khuyên giải chị đừng về nơi chốn cũ, nơi mà chị em mình từng đánh đổi mạng sống để ra đi. Và đến khi thấy không còn lay chuyển được bà chị già bướng bỉnh, nó làm mặt giận hờn rồi không thèm nói nữa. Tưởng là con em Út giận luôn, ai dè giờ chót nó cũng ra tiễn bà. Nhét gói thuốc bổ cho bà, nó dặn dò đủ thứ rồi còn thì thầm: “lần nào đi đâu cũng có chị có em, chỉ có lần nầy chị muốn một mình ra đi không định ngày trở lại, chị có thể quên tất cả, nhưng phải nhớ đừng quên lời em dặn”. Nghe nói bà gật đầu cho nó được yên tâm, chứ thật ra thì bà đang nghĩ: con Út nầy lúc nào cũng lo xa, nhưng đôi khi cũng... không cần thiết lắm. Từ ngày đó đến nay con Út cũng an tâm khi nghe chị mình sống vui là có thật, nên đã bớt lo, còn hẹn năm sau nó sẽ về thăm.
Như thường lệ, sáng nay cô cháu bưng cho bà mâm cơm nóng. Hăm hở ăn bà xuýt xoa khen, rồi cao hứng vừa ăn vừa kể chuyện, cô cháu ngồi nghe cũng góp lời cho bà thêm hứng khởi, được một lúc, bà chợt thấy câu chuyện mình đang kể, cô cháu nghe hưởng ứng chỉ cầm chừng chứ không còn sôi động nữa, nên ngừng đũa bà dò hỏi:
- Có gì không con? Sao mà ngồi thừ ra đó?
Cô cháu nhìn bà, rồi nhìn xuống bàn tay, săm soi mấy cái móng, nó ngập ngừng: "Cô à, con cần... 5 ngàn."
Hơi ngạc nhiên bà hỏi lại cho rõ: "5 ngàn Việt hay 5 ngàn đô?"
Cô cháu cười phì: "5 ngàn đô, chứ 5 ngàn Việt thì con có rồi."
Bà nhìn cô cháu gái, ngần ngừ một chút rồi nói:
- Con có nhớ, cô đưa con 3 ngàn đô lần trước, là số tiền cuối cùng cô giữ để hộ thân, đưa hết cho con, vì con cần khẩn cấp, nên bây giờ cô chỉ còn có mấy trăm.
Cô cháu gái có vẻ không vui, ngồi yên không nói, một lúc sau nó ngập ngừng đề nghị:
- Hay là cô phone về bên đó, kêu gởi tiền qua để... cô xài. Con kẹt tiền nên mới nhờ cô lần nữa, chứ hỏi tiền hoài con thấy quá ngại ngùng. Cô cũng biết vật giá leo thang, cái gì cũng mắc, nếu đủ tiền rồi thì con đâu dám hỏi cô.
Thấy nó đổi giọng buồn buồn thì bà cũng thương, nhưng nó xúi xin thêm tiền thì bà thấy không vui, nhưng vẫn ôn tồn:
- Từ đầu con nói với cô, 25 ngàn đô là quá dư để cất một căn nhà, nên cô bằng lòng vì số tiền đó cô lo được, nhưng từ đó đến nay, tiền đã tăng lên gấp đôi, mà nhà cất vẫn chưa xong làm cô lo lắng, vì thật sự cô không còn tiền nữa.
Nghe tới đây, nó xụ mặt, lầm bầm trong miệng:
- Mỗi lần kêu cô đưa tiền, là mỗi lần cô nhắc chuyện... đời xưa. Cất một tầng, với cất ba tầng lầu thì giá tiền phải khác chứ!
Thấy đứa cháu mới mấy phút trước còn ngọt ngào vui vẻ, mấy phút sau đã trở giọng khi nghe không có tiền, bà thấy bực mình, nhưng vẫn giảng giải:
- Cô đã nói với con, phải “liệu cơm gắp mắm”, phải gói gọn trong số tiền mình có. Cô về đây là để dưỡng già, cốt chỉ gần mồ mả ông cha, chứ không cần nhà cao cửa rộng. Nhà cũ của con tuy đơn sơ nhưng ấm cúng gọn gàng. Cô thay nhà tranh, thành nhà tường như con mơ ước, vì muốn nhân đây làm quà tặng cho con. Dự định ban đầu là cất nhà tường, nay đã trở thành nhà lầu ba tầng, có cổng rào riêng biệt, cô cũng vui nếu con biết ngừng ở đó, còn nếu như con tiếp tục dài dài, hết đập bỏ nhà bếp xi măng vừa mới làm xong, thay vào đó là đá hoa cương cho giống nhà hàng xóm, rồi nhà tắm, giường nằm, bộ bàn ăn, con cũng muốn thay... Cô thật sự cạn kiệt không còn tiền cho con nữa.
Biết lần nầy khó lấy được tiền, nó hạ giọng, nhưng chầm dầm cái mặt:
- Thì cũng muốn cô ở cho sang, mang tiếng Việt kiều mà cất nhà tường lèo tèo dưới... nách nhà bên cạnh, nên con cũng... ráng cất cao thêm một chút, để cho thiên hạ khỏi chê cười.
Nghe con cháu có cái tánh đua đòi, bà thấy ngán ngẩm nên nói:
- Con đừng so sánh với người ta. Nhà ai nấy ở, mình nhìn người ta làm gì!?
Nghe bà nói cái kiểu... an phận đó, nó phát bực:
- Con... khổ với cô hết biết! Nói cách nào thì cô cũng không... thèm hiểu. Người ta Việt kiều, mình cũng Việt kiều, Việt kiều mình... bèo quá sẽ bị người ta khinh! Cái cổng nhà bên nó xây chồm ra phía trước, làm cho cái nhà mình coi lép vế kề bên, nên dễ gì con để nó... chơi ngông, nên tiền đợt trước con đã xây liền cái cổng. Con chỉ cần thêm 5 ngàn nầy nữa, là coi như xong hoàn tất được căn nhà.
Bà buông đũa, ngồi thừ ra, một lúc sau bà nói:
- Nói thật, cô không dám phone về xin tiền thêm lần nữa, anh chị bên kia còn nợ nhà, còn con nhỏ phải lo. Cũng đã nhiều lần cô kêu tụi nó gởi thêm tiền lần cuối, để cất cho xong căn nhà còn dang dở, nhưng bây giờ nhà đã xây xong, thì mỗi tháng con chỉ nên nhận 300 đô là đủ.
Vẻ cương quyết không đưa tiền thêm nữa lần nầy của bà làm cô cháu bất mãn. Nó thẳng thừng:
- Nhà đẹp thì cô cũng... nở mày nở mặt, chứ phải đâu chỉ một mình con? Nếu lòng cô không muốn giúp, thì thôi cứ để mặc con!
Nói xong cô cháu vùng vằng đứng dậy, tiện tay bưng luôn cái mâm, dù thấy rõ bà chưa ăn hết phần cơm trong chén. Bước ra khỏi phòng, tiện tay nó đóng ầm cánh cửa lại. Thái độ của nó làm bà chới với, bà lắc đầu ngao ngán rồi nghĩ thầm: con nhỏ nầy bình thường ngọt ngào hiếu thảo, hôm nay hỏi tiền không có, thì nó lộ ra là đứa chẳng ra gì! Bực mình quá bà cũng hết muốn ăn, nhưng thái độ đòi tiền của cô cháu gái, làm bà như nghẹt thở.
Sáng nay thức dậy sau giấc ngủ mệt nhoài. Bà ngồi yên nhìn cánh cửa, mà hôm qua cô cháu đã mạnh tay đóng ầm, bà thấy cuộc sống yên vui từ nay chắc không còn nữa... Suy nghĩ miên man cho tới khi thấy đói, bà mở cửa phòng nhìn quanh, rồi cất tiếng kêu to. Nhà không có tiếng động, im lặng như tờ. Ngồi chờ cho tới quá trưa, tay chân bắt đầu run vì đói, bà kéo mấy cái hộc tủ ở ngay đầu giường, kiếm xem có bánh kẹo gì để ăn, nhưng rồi lại nhớ ra ngày thường vì sợ kiến bu, nên đồ ăn vặt không để trong phòng bà.
Muốn từng bước xuống mấy bậc cầu thang tới nhà bếp để kiếm gì ăn, nhưng loay hoay một lúc, bà lại sợ sẽ nhào đầu xuống thang, nên đứng dựa lưng vào tường mà thở. Bụng đói cồn cào buồn nôn muốn ói... bà chợt nhớ ra trong hộp thuốc bổ có mấy cây kẹo ho, mà con em út đã nhét vội cho bà lúc tiễn đưa. Mừng quá, bà lần bước trở về phòng tìm cây kẹo. Chất kẹo the ngọt làm cho bà không còn muốn ói nữa.
Quá 3 giờ chiều, cô cháu về đem cho bà ổ bánh mì thịt, nó hấp tấp nói: "Con đi... chạy tiền, nên về không kịp, cô ăn đỡ bánh mì, khi nào trả được nợ con mới có... sức nấu nướng cho cô." Nói xong, nó bước nhanh ra cửa. Bà kêu vói theo, nó đi luôn không quay lại. Nhìn theo nó, bà muốn quăng trả lại ổ bánh mì cho đỡ tức, nhưng cùng lúc cũng dằn được cơn nóng giận. Nhìn ổ bánh mì rồi nhớ lời nó nói trước khi đi, bà thấy bất an. Bà thầm nghĩ: chẳng lẽ từ đây mỗi lần nó cần tiền là mỗi lần nó chơi cái trò bỏ đói mình?
Lần đầu tiên sau 6 tháng về đây, bà mới biết thế nào là lo lắng, vì cảm thấy cô cháu mà bà hết dạ tin yêu đã bắt đầu... trở mặt. Mà quả đúng như bà lo sợ, đêm đó nó đi đâu mất biệt không về. Nhà cửa tối đen, mình bà ngồi im trông ngóng... Đêm đó bà tiếp tục ngậm kẹo ho cho đở đói, rồi ngủ thiếp đi cho tới khi bà giựt mình thức dậy, trời chưa sáng lắm, bà chống gậy bước ra khỏi cửa phòng rồi cất tiếng kêu vang, không có tiếng trả lời, chỉ có âm thanh dội lại trong cái không khí thanh vắng của buổi sáng không người...
Ngoài kia có tiếng người qua lại, có tiếng rao hàng của chị bán xôi, bà mở tung cửa sổ định thẩy tiền xuống mua, nhưng bà chợt nghĩ: tiền thì xuống được chứ xôi thì... Nghĩ đến đây bà hốt hoảng kêu trời, vì chợt nhớ ra, khi đi thì chắc chắn nó đã khóa cửa trước, cửa sau, khóa luôn cổng rào. Đêm qua bà ở một mình, nếu nhà bị cháy, thì coi như đã xong đời bà. Ý nghĩ nầy làm bà hoảng hốt... Nước mắt tuôn dài, lần đâu tiên bà biết sợ, và biết thế nào là thế cô một mình. Bà bắt đầu hối hận. Cả đời bà không biết tận hưởng những giây phút an vui với con cháu bên kia, mà luôn hoài niệm về quá khứ, rồi tưởng tượng ra cái tương lai mơ hồ không có thật để mong an dưỡng tuổi già, nên bà đã hân hoan ôm tiền về đây xây nhà... tù nhốt mình.
Càng nghĩ bà càng thấy sợ, tự dưng người phát lạnh, tay chân run rẩy, bà choáng váng muốn té nhào, nhưng cố gượng lại, ráng quay về giường. Muốn phone cho con Út để khóc than với nó, nhưng ngày thường con cháu của bà nó chỉ xài điện thoại di động mà thôi, cho nên nếu như nó bỏ đi luôn cả tháng không về, thì cũng sẽ không ai biết có một bà già đang... chết khô. Tới trưa cô cháu về mang cho bà gói xôi, nó nói:
- Hôm qua con biết cô ở nhà một mình, con muốn về sớm hơn nhưng kẹt đò, đành phải ngủ lại đó qua đêm.
Thấy mặt nó, bà bừng bừng nổi giận, bà nhìn nó trân trân, muốn chửi cho nó một trận mới hả lòng, nhưng bà ở trong cái thế phải ráng dằn lòng, nên nhè nhẹ hít vào rồi lại thở ra trước khi trách nhẹ nhàng:
- Con làm gì, thì cũng phải nghĩ tới cô ở nhà một mình đói khát, cách đối xử của con mấy ngày nay rất tệ. Nên dành ra một chút thời gian suy nghĩ lại đi con!
Nghe cái giọng trách hờn đó, cô cháu bực mình trả đũa ngay:
- Con chạy đôn chạy đáo kiếm tiền làm gì mà có thời gian suy nghĩ. Tại cô không muốn giúp, thì con phải tự lo thôi!
Tưởng là nó còn... nể mặt nên bà mới lên tiếng trách, nào ngờ vừa mới dứt lời thì nó... đốp lại ngay, bà không sao nín được, nên lên giọng:
- Con nói vậy mà nghe được sao? Tiền đưa cho con bao nhiêu cũng hết, lần nào cần tiền, con cũng nói là đưa thêm lần cuối, nhưng con đã lấy bao nhiêu lần cuối rồi con có nhớ không?
Cô cháu cũng không vừa: "Tiền cô đưa ra, cũng đổ vô cái nhà cho cô ở, chứ mất đi đâu mà cô kể lể!" Nói xong nó dùng dằng bỏ đi. Bà lớn tiếng kêu to, nó vẫn không thèm nhìn lại. Còn lại một mình, bà ôm đầu nhìn lên trần nhà, bà nghĩ: thương nó như con, có bao nhiêu tiền thủ thân bà đã lần hồi... nhét hết cho nó, vậy mà khi hỏi tiền không có, nó dám bỏ bà đói để bà... lòi tiền ra. Nhìn gói xôi tự dưng bà... khóc ngất. Bà chợt nhớ con, nhớ cháu, nhớ những lời con em Út dặn dò trước khi đi... Đêm đó, nó cũng khóa cửa nhà, rồi đi đâu mất biệt. Bà biết muốn lấy tiền thì nó phải làm vậy thôi, nên lần nầy bà nằm im, ngậm kẹo ho chịu trận!
Sáng hôm sau, chưa tới 9 giờ, cô cháu mở cửa phòng bước vào, nó tươi vui như không có chuyện gì. Nhìn thấy mặt nó, bà giận dữ, muốn thét lên cho hả giận, nhưng kịp ngừng. Bà nín thinh dây mặt ra hướng khác. Cô cháu vừa cười vừa đưa cái điện thoại cho bà, nó nói:
- Cô phone về bển, nói mấy anh chị cho con mượn 5 ngàn đô, rồi từ từ con trả lại. Con đang nấu cháo gà. Nói chuyện xong là có cháo nóng ăn liền.
Nghe nó trắng trợn lấy tô cháo gà đổi lấy 5 ngàn đô, bà tức ứa gan, mặt bà đanh lại, ánh mắt long lên tia giận dữ. Cô cháu nhìn bà, thấy hết những căm hờn từ trong ánh mắt ấy, nó cũng đã chuẩn bị tinh thần để đối phó nếu cần, và tô cháo gà chỉ là phương tiện để điều khiển bà cô... cứng đầu nầy. Nó nghĩ: cháo gà thì có thể cô không ăn, nhưng 5 ngàn đô thì nhứt định nó phải lấy. Nghĩ thế, nó nghiêm sắc mặt tiến tới ấn cái điện thoại trong tay bà mà nói:
- Cô nên phone liền bây giờ, 9 giờ sáng bên nầy, khoảng 9 giờ tối bên kia, đừng để trễ quá 10 giờ, mấy anh chị bên kia còn phải ngủ. Cô nhớ: chỉ nói những chuyện cần nói, và chỉ trả lời trong phạm vi sức khỏe mà thôi.
Nhìn cái cách nó sấn tới ấn cái điện thoại vào tay bà, và nó đứng ở thế sẵn sàng đối phó nếu bà la lên cầu cứu bên kia. Thì bà biết con nhỏ nầy đã táng tận lắm rồi. Suy nghĩ thật nhanh, thay vì giận dữ, bà chuyển qua vẻ mặt chịu đựng, cho nó có cái cảm giác đã khuất phục được bà, để bà được an thân. Cầm cái điện thoại trên tay, trái tim bà đập mạnh, vì biết sau lần nầy, sẽ ít khi nào bà có dịp cầm tới. Bà bắt đầu bấm số. Phía bên kia đầu dây cô Út reo vui khi nhận ra tiếng bà, chỉ hỏi thăm sơ vài câu ngắn ngủi bà vô đề ngay, vì thấy con cháu nó đang nghiêm mặt nhìn bà không nháy mắt:
- Út à, em gởi ngay cho chị 5 ngàn.
- Ủa, sao cần nhiều tiền vậy chị?
Nghe hỏi như thế, bà bực mình nên hơi lên giọng: "A Di Đà Phật, kêu gởi thì gởi liền đi, gởi càng sớm càng tốt. A Di Đà Phật!"
Bên kia đầu dây, một thoáng yên lặng, rồi tiếng cô Út trả lời: "Hiểu rồi, chị yên tâm, em sẽ gởi ngay cho chị trong tuần nầy. Thôi chị nghỉ ngơi đi. Bye chị!"
Lấy lại cái phone, nó hỏi: "Ủa! Cô Hai vô đạo Phật hồi nào mà nói A Di Đà Phật liền miệng vậy?"
Bà nhếch môi nói: "Ừ, thì bên đó, nghe mấy người bạn nói hoài nên cũng quen miệng nói theo."
Nghe bà nói thế nó nín thinh, bỏ đi ra ngoài. Lát sau nó bưng lên cho bà tô cháo trắng với dĩa củ cải kho. Nhìn thấy tô cháo trắng thay vì tô cháo gà như lời nó nói, bà lặng im ăn không nói gì. Nhìn bà khoan thai ăn, thần sắc thư thái, nó nghĩ: Vậy cũng tốt! Mới bỏ đói có hai ngày mà đã biết... sợ rồi, ngoan ngoãn nghe lời như vậy thấy... dễ thương hơn! Sau đó, mọi thứ trở lại bình thường, ngày ba bữa nó bưng lên đầy đủ, chỉ là hai bên không có gì để nói với nhau.
Cuối tuần đó, bỗng dưng nhà có khách. Cô Út về thăm bất ngờ nầy làm cho con cháu ngỡ ngàng lo sợ, vì lát nữa đây cô Út sẽ gặp cô Hai trên lầu. Lần nầy cô Út về quê không báo trước. Bấm chuông, cửa mở, cô xông thẳng vào nhà như cơn gió lốc, mặt tươi vui cô nói cười luôn miệng, còn lăng xăng khen nhà đẹp, nhà sang, khen qua con cháu gái có nước da quá mịn, khen luôn thằng cháu rể có phước tướng, thế nào cũng phát tài, phát lộc, phát giàu sang... làm cho không khí xôn xao vui nhộn. Và khi mọi người còn chưa dứt tiếng cười vang, thì cô Út chủ động nắm tay con cháu, kéo nó cùng đi ngay lên lầu, miệng kêu ơi ới: "Chị hai ơi! Chị hai. Ra coi ai về thăm chị nè!"
Nhận ra tiếng cô Út, bà dằn lòng không khóc. Thấy hai cô cháu cùng bước vào, bà tươi cười hỏi: "Ủa, Út về mà sao không cho hay trước, để chị kêu em mua thêm vài thứ thuốc."
Cô Út cười lớn tiếng nói: "Em phải chạy về gấp, vì có người hỏi mua căn nhà của chị, em cần thêm giấy tờ để bán cho xong."
Trong lúc bà còn đang gật gù như hiểu chuyện, thì cô Út dây qua nói với cô cháu gái: "Con đi lấy toàn bộ giấy tờ của cô Hai ra đây, để cô Út coi cái nào cần xài."
Nghe thế, cô cháu thoáng liếc bà, tần ngần một chút, rồi dây qua nhìn anh chồng đang đứng xớ rớ ngoài cửa phòng, thấy thế cô Út cười lớn nói: "Bán xong căn nhà, thì có tiền cho tụi bây."
Khi cầm được cái passport trong tay, cô Út bỏ ngay vào bóp, rồi dây qua ân cần nói với bà chị: "Ngồi đây chi một mình, để em kè chị xuống nhà có đông người cho vui." Nói xong cô Út tự động ôm cánh tay chị mình, từng bước dìu xuống mấy bậc cầu thang. Khi xuống được tới dưới nhà thì cô Út dây qua nói với hai vợ chồng cô cháu gái:
- Hôm nay vui quá! Mình ra ngoài ăn mừng ngày đoàn tựu. Tài xế cô bao vẫn còn chờ ngoài kia.
Cô cháu gái nghe thế nên lên tiếng: "Cô về sao không cho hay, để tụi con đi đón đông người cho vui."
Cô Út nhìn nó cười giòn:
- Tánh cô tự lập quen rồi. Khi muốn đi thì mua vé, bay cái vèo qua đây. Bước ra một bước, thì có cả đoàn xe sắp hàng chờ, nên cô đâu muốn kêu con, để cho bất ngờ con sẽ thấy vui hơn...
Và khi xe ngừng lại trước cửa nhà hàng. Vỗ nhẹ vai chị, cô Út dịu dàng: "Cái chân đau, chị đi đứng khó khăn không thoải mái, cứ ngồi yên chờ, em sẽ mua đồ đem ra." Nói xong, cô Út dây qua nắm tay cô cháu gái kéo nhau cùng xuống xe. Chọn đại một cái bàn, vừa kéo ghế ngồi xuống, cô Út bật đứng lên, móc bóp lấy ra tờ 100 đô đưa cho cô cháu gái. "Nè, con cầm tiền nầy, hai đứa muốn ăn gì tùy thích, cô nhớ ra là có chuyện cần làm, cô đi trước, sẽ gặp tụi con sau."
Từ lúc gặp cô Út cho đến giờ, cô nói cười luôn miệng, phản ứng nhanh nhẹn, biến đổi không ngừng, làm cho hai vợ chồng cô cháu gái bị động theo từng chuyển biến của cô. Giờ cầm tờ 100 đô trên tay hai vợ chồng nó bối rối chưa biết phản ứng sao, thì cô Út đã đi nhanh ra xe, nói tài xế vọt thẳng về hướng Sài Gòn.
Nắm chặt tay cô Út, bà khóc ngất, cô Út nhẹ nhàng giải thích: "Sợ nó làm khó không trả lại giấy tờ cho chị, nên em làm bộ nói chuyện bán nhà cho nó ham mà đưa passport ra cho lẹ, rồi cũng phải tìm cách đưa chị ra khỏi chỗ đó cho nhanh. Sợ ở qua đêm, hai chị em mình sẽ bị nó... làm càng vì mưu đồ đã lộ. Nên rủ tụi nó đi ăn, để tiện bề kéo chị thoát thân."
- Chị sợ em không hiểu.
- Làm sao mà không hiểu! Cũng may là chị còn nhớ lời em căn dặn trước khi đi.
- Không nhờ câu... mật khẩu của em, thì chị sẽ chết mòn trong tay nó, và sẽ là món mồi ngon để tụi nó câu tiền... Em cũng khôn khi chọn câu: A Di Đà Phật, vì khi nói lên câu nầy, nghe như mình đang niệm Phật, tụi nó tinh ranh cỡ nào thì cũng khó mà đoán ra.
- Khi thấy chị quyết định về Việt Nam an dưỡng tuổi già, lòng em không yên, nên mới nghĩ ra câu mật khẩu nầy, để nếu có một ngày nhận được... tín hiệu nầy, em sẽ bay về... cứu chị.
Em à, chuyện như thế nầy chị có nghe nhiều người kể, nhưng không tin lắm và luôn nghĩ người bất hạnh đó sẽ không phải là mình. Bây giờ lâm cảnh nầy chị mới hiểu vì tiền thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra, gặp những đứa bất tài mà có lòng tham thì sẽ dùng mọi thủ đoạn để kiếm tiền, mà đi lường gạt người ngoài thì không đủ sức còn lo tù tội, chi bằng kiếm tiền vừa dễ vừa nhanh mà lại an toàn đó là lợi dụng vào cốt nhục tình thâm. Người lường gạt, sang đoạt được, thì nhởn nhơ vui hưởng vì không phải lo bị truy tố, còn người mất của thì lặng im trong nỗi đau không dứt vì vừa mất tiền vừa mất cả lòng tin.
Nguyễn Sỹ Thùy Ngân
Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014
TIỀN GIÀ & TÌNH GIÀ
Với 12 bài viết trong năm, cho thấy một sức viết mạnh mẽ, tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersy, bà vui vẻ tự sơ lược tiểu sử "22 năm dạy học trong nước, 22 năm làm culi job trên đất Mỹ". Bài mới được tác giả coi là một tạp ghi, tạm gọi là món quà cỏn con gởi đến quý bạn với lớp tuổi không còn trẻ nữa.
* * *
* * *
I-
Trong bữa cơm tối, Chúc Minh nhìn lên tờ lịch trên tường, nói lớn:
- Ô, tuần sau là sinh nhật của tui đó nha, quý vị chuẩn bị quà cáp đi là vừa...
Hiển, chồng nàng từ trong bếp nói vọng ra:
Trời đất, gần ăn tiền già rồi còn đòi quà sinh nhật.
Cả nhà cười vang vì sự chế giễu của Hiển. Chúc Minh xịu mặt. Hai đứa này chỉ hơn 40, không còn trẻ nữa, nhưng chưa phải là già. Mọi người biết rằng Hiển chọc ghẹo Chúc Minh cho vui thôi chứ anh chàng này nổi tiếng là nịnh vợ: Năm nào sinh nhật cô nàng anh cũng bày tiệc linh đình vì anh ta là chef cook của một nhà hàng Mỹ danh tiếng ở vùng San Diego này.
Tôi thoáng nghĩ ngợi về chuyện "ăn tiền già" qua câu nói của Hiển, thằng cháu rể rất dễ thương của vợ chồng tôi. Tiếng Việt thật lạ lùng, cái gì biểu hiện phúc lợi lập tức có chữ "ăn" đi kèm. Từ "ăn đám cưới, ăn đám giỗ, ăn tiệc, ăn chơi..." bây giờ ở Mỹ có thêm cụm từ "ăn tiền già, ăn tiền bệnh, ăn tiền thất nghiệp, ăn tiền SSI..."
Những người đi làm như chúng tôi khi về hưu sẽ không dùng từ "ăn tiền già" hay "ăn tiền trợ cấp" mà được gọi bằng "hưởng tiền hưu bổng", tức là tiền mình đóng thuế trong thời gian làm việc, tùy theo mức lương cao hay thấp và thời gian làm việc ngắn hay dài.
Tự nhiên tôi cảm thấy cụm từ "ăn tiền già" mang ý nghĩa ngồ ngộ, đặc biệt cho thấy sự đãi ngộ người già, dĩ nhiên, chỉ có ở những quốc gia văn minh, giàu có. Điều này cho thấy rõ nhất sự quý trọng con người, đặc biệt sự quan tâm của xã hội khi biết rằng cuộc sống của họ đã đi gần đến chỗ "the end". Bản thân tôi cũng đang nghĩ ngợi đến ngày nghỉ hưu, lúc đó hai đứa tôi sẽ trở thành hai con khỉ già ngồi chong ngóc thu lu trong nhà nhìn lá rụng.
Tự nhiên tôi lại có chút buồn khi nghĩ đến lúc về hưu, nghĩa là đoạn cuối của cuộc đời mình trước khi xuôi tay yên nghĩ. Tiền già tức là số tiền trợ cấp nhỏ cho người già trên 65 tuổi mà trước đó không cần có làm việc hay không, với điều kiện phải có quốc tịch Mỹ. Được biết số tiền này sẽ chênh lệch ít nhiều tùy theo tiểu bang mình cư ngụ và sẽ được đi kèm theo bảo hiểm y tế gọi là Medicare hay Medicaid. Một cặp vợ chồng già mỗi tháng sẽ có $1,440 ($720/người) và vài trăm tiền foodstamp để mua thức ăn.
Trước đây foodstamp in trên giấy đóng từng tập nhỏ cỡ tờ vé số, bây giờ chính phủ bỏ vô thẻ, người sử dụng sẽ "quẹt" như quẹt credit card. Số tiền này sẽ giúp cặp vợ chồng già sống ung dung đầy đủ, có thể đi chơi đây đó đôi lần trong năm nếu không phải trả tiền nhà và sức khỏe tốt không đau bệnh chi nặng nề.
Trường hợp thứ nhất tôi được biết về khoản tiền già này đối với vợ chồng người bạn ở San Jose là họ chỉ giữ lại $300 cho mỗi người, số còn lại phải phụ với con trả tiền mortgage. Nếu không ở chung với con mướn nhà ở thì hơi vất vả vì mướn apartment một phòng ngủ phải trên dưới $1,000/tháng. Nếu cặp vợ chồng già bạn tôi xin được housing của chính phủ thì tuyệt vì chỉ trả tiền nhà vài ba trăm một tháng.
Trong một bài viết về nước Mỹ tôi đọc đã lâu rồi, câu chuyện viết về bà mẹ già ở một mình nhưng quanh năm con cháu chia phiên nhau nghỉ phép về ở với bà, cho nên tuổi già của bà quá đỗi yên vui, vô vàn hạnh phúc! Cụ bà ấy phải được gọi là người hạnh phúc nhất trên đời này. Nếu người ta gọi tuổi trẻ là tuổi hồng, tuổi ngọc, thì bà cụ này phải được gọi là "tuổi hột xoàn" vì được con cháu trân quý, săn sóc chu đáo quá.
Trong tháng Tám, viết về nước Mỹ liên tiếp đăng tải hai bài nói về người Mẹ làm tôi xúc động bồi hồi. Đó là bài "Bà mẹ quê" của Philato và "Người Mẹ cô đơn" của Phan.
Bài trước là tình cảm của tác giả khi nói về mẹ mình một đời vất vả vì con, đến lúc "ra đi" con không gặp được Mẹ vì còn đang bôn ba "cải tạo". Tác giả nghĩ đến kỷ niệm ấu thơ của mình khi sáu tuổi, nửa đêm thức giấc vì đói được mẹ mình cho củ khoai vùi bếp lửa thơm lừng mà theo ông không có bữa ăn nào trong đời ông ngon bằng. Thú thật khi đọc đến đoạn văn đó, tôi cũng cảm thấy trái tim mình thổn thức trước tình yêu mẹ con mà bóng của họ in hẳn lên phên vách nứa bếp lửa bập bùng. Đó là hình ảnh của bà mẹ trong nước không có tiền già.
Hình ảnh "Người Mẹ cô đơn" của Phan phải nhờ người dưng (là tác giả Phan) chở dùm đến chỗ trọ mới trong khi các con của bà bỏ lơ bỏ mặc. Bà mẹ này ở Mỹ có tiền già trợ cấp của chính phủ nhưng không có tình cảm mẹ con. Tự nhiên tôi lại nghĩa đến thân phận mình khi về hưu, khi bóng xế đầu non, khi vạt nắng cuối cùng của một ngày vội tắt.
Trường hợp thứ nhì tôi được biết về mảng đời thực của một người già ở Little Saigon lần thăm Cali hè vừa qua, làm tim tôi thêm một lần trật nhịp.
Buổi sáng hôm ấy, dậy sớm hơn mọi người tôi ra sân quơ vài động tác thể dục. Bỗng tôi thoáng thấy chiếc nón lá trồi lên hụp xuống ở khu vực chứa rác của khu nhà townhouse. Ở miền Đông Bắc mấy chục năm tôi có bao giờ thấy được chiếc nón lá? Tò mò, tôi bước lại gần. Một bà cụ già, già lắm, chắc phải gần tám mươi, bước ra khỏi khu vực thùng rác. Tôi chào. Bà cụ chào lại tôi. Cả hai không nói thêm lời nào. Tôi chợt hiểu khi nhận thấy dưới chỗ chân bà vừa bước ra, lổn nhổn vỏ chai coca, chai bia, nước suối... trong túi nhựa nylon. Bà cụ giở nón ra quạt cho mát. Mái tóc trắng bù xù và nụ cười dúm dó. Bà cho biết bà đang hưởng tiền già, nhặt thêm vỏ chai kiếm thêm chút đỉnh gởi về bên nhà cho đám cháu con nghèo khổ. Tôi choáng váng vì xúc động, thương cảm cho bà mẹ già, chân tôi như bị ai đóng đinh không bước đi được và nghe tim mình như bị ai trói chặt. Trời ơi, người mẹ Việt Nam nơi xứ người khổ sở đến thế hay sao?
Có lẽ cũng vài phút trôi qua, bà khách hỏi tôi:
- Cô à, cô có sao không vậy?
Tôi vùng thoát khỏi cơn mê, gượng gạo trả lời:
- Không sao, thưa bà, tôi từ xa đến chưa quen giờ giấc, thiếu ngủ nên thấy chóng mặt...
Người mẹ già băng qua đường với bao nylon đựng đầy vỏ chai trên tay. Tôi vẫn đứng yên, nhìn bóng bà xa dần, tay chân lóng ngóng.
Trong bữa cơm tối, Chúc Minh nhìn lên tờ lịch trên tường, nói lớn:
- Ô, tuần sau là sinh nhật của tui đó nha, quý vị chuẩn bị quà cáp đi là vừa...
Hiển, chồng nàng từ trong bếp nói vọng ra:
Trời đất, gần ăn tiền già rồi còn đòi quà sinh nhật.
Cả nhà cười vang vì sự chế giễu của Hiển. Chúc Minh xịu mặt. Hai đứa này chỉ hơn 40, không còn trẻ nữa, nhưng chưa phải là già. Mọi người biết rằng Hiển chọc ghẹo Chúc Minh cho vui thôi chứ anh chàng này nổi tiếng là nịnh vợ: Năm nào sinh nhật cô nàng anh cũng bày tiệc linh đình vì anh ta là chef cook của một nhà hàng Mỹ danh tiếng ở vùng San Diego này.
Tôi thoáng nghĩ ngợi về chuyện "ăn tiền già" qua câu nói của Hiển, thằng cháu rể rất dễ thương của vợ chồng tôi. Tiếng Việt thật lạ lùng, cái gì biểu hiện phúc lợi lập tức có chữ "ăn" đi kèm. Từ "ăn đám cưới, ăn đám giỗ, ăn tiệc, ăn chơi..." bây giờ ở Mỹ có thêm cụm từ "ăn tiền già, ăn tiền bệnh, ăn tiền thất nghiệp, ăn tiền SSI..."
Những người đi làm như chúng tôi khi về hưu sẽ không dùng từ "ăn tiền già" hay "ăn tiền trợ cấp" mà được gọi bằng "hưởng tiền hưu bổng", tức là tiền mình đóng thuế trong thời gian làm việc, tùy theo mức lương cao hay thấp và thời gian làm việc ngắn hay dài.
Tự nhiên tôi cảm thấy cụm từ "ăn tiền già" mang ý nghĩa ngồ ngộ, đặc biệt cho thấy sự đãi ngộ người già, dĩ nhiên, chỉ có ở những quốc gia văn minh, giàu có. Điều này cho thấy rõ nhất sự quý trọng con người, đặc biệt sự quan tâm của xã hội khi biết rằng cuộc sống của họ đã đi gần đến chỗ "the end". Bản thân tôi cũng đang nghĩ ngợi đến ngày nghỉ hưu, lúc đó hai đứa tôi sẽ trở thành hai con khỉ già ngồi chong ngóc thu lu trong nhà nhìn lá rụng.
Tự nhiên tôi lại có chút buồn khi nghĩ đến lúc về hưu, nghĩa là đoạn cuối của cuộc đời mình trước khi xuôi tay yên nghĩ. Tiền già tức là số tiền trợ cấp nhỏ cho người già trên 65 tuổi mà trước đó không cần có làm việc hay không, với điều kiện phải có quốc tịch Mỹ. Được biết số tiền này sẽ chênh lệch ít nhiều tùy theo tiểu bang mình cư ngụ và sẽ được đi kèm theo bảo hiểm y tế gọi là Medicare hay Medicaid. Một cặp vợ chồng già mỗi tháng sẽ có $1,440 ($720/người) và vài trăm tiền foodstamp để mua thức ăn.
Trước đây foodstamp in trên giấy đóng từng tập nhỏ cỡ tờ vé số, bây giờ chính phủ bỏ vô thẻ, người sử dụng sẽ "quẹt" như quẹt credit card. Số tiền này sẽ giúp cặp vợ chồng già sống ung dung đầy đủ, có thể đi chơi đây đó đôi lần trong năm nếu không phải trả tiền nhà và sức khỏe tốt không đau bệnh chi nặng nề.
Trường hợp thứ nhất tôi được biết về khoản tiền già này đối với vợ chồng người bạn ở San Jose là họ chỉ giữ lại $300 cho mỗi người, số còn lại phải phụ với con trả tiền mortgage. Nếu không ở chung với con mướn nhà ở thì hơi vất vả vì mướn apartment một phòng ngủ phải trên dưới $1,000/tháng. Nếu cặp vợ chồng già bạn tôi xin được housing của chính phủ thì tuyệt vì chỉ trả tiền nhà vài ba trăm một tháng.
Trong một bài viết về nước Mỹ tôi đọc đã lâu rồi, câu chuyện viết về bà mẹ già ở một mình nhưng quanh năm con cháu chia phiên nhau nghỉ phép về ở với bà, cho nên tuổi già của bà quá đỗi yên vui, vô vàn hạnh phúc! Cụ bà ấy phải được gọi là người hạnh phúc nhất trên đời này. Nếu người ta gọi tuổi trẻ là tuổi hồng, tuổi ngọc, thì bà cụ này phải được gọi là "tuổi hột xoàn" vì được con cháu trân quý, săn sóc chu đáo quá.
Trong tháng Tám, viết về nước Mỹ liên tiếp đăng tải hai bài nói về người Mẹ làm tôi xúc động bồi hồi. Đó là bài "Bà mẹ quê" của Philato và "Người Mẹ cô đơn" của Phan.
Bài trước là tình cảm của tác giả khi nói về mẹ mình một đời vất vả vì con, đến lúc "ra đi" con không gặp được Mẹ vì còn đang bôn ba "cải tạo". Tác giả nghĩ đến kỷ niệm ấu thơ của mình khi sáu tuổi, nửa đêm thức giấc vì đói được mẹ mình cho củ khoai vùi bếp lửa thơm lừng mà theo ông không có bữa ăn nào trong đời ông ngon bằng. Thú thật khi đọc đến đoạn văn đó, tôi cũng cảm thấy trái tim mình thổn thức trước tình yêu mẹ con mà bóng của họ in hẳn lên phên vách nứa bếp lửa bập bùng. Đó là hình ảnh của bà mẹ trong nước không có tiền già.
Hình ảnh "Người Mẹ cô đơn" của Phan phải nhờ người dưng (là tác giả Phan) chở dùm đến chỗ trọ mới trong khi các con của bà bỏ lơ bỏ mặc. Bà mẹ này ở Mỹ có tiền già trợ cấp của chính phủ nhưng không có tình cảm mẹ con. Tự nhiên tôi lại nghĩa đến thân phận mình khi về hưu, khi bóng xế đầu non, khi vạt nắng cuối cùng của một ngày vội tắt.
Trường hợp thứ nhì tôi được biết về mảng đời thực của một người già ở Little Saigon lần thăm Cali hè vừa qua, làm tim tôi thêm một lần trật nhịp.
Buổi sáng hôm ấy, dậy sớm hơn mọi người tôi ra sân quơ vài động tác thể dục. Bỗng tôi thoáng thấy chiếc nón lá trồi lên hụp xuống ở khu vực chứa rác của khu nhà townhouse. Ở miền Đông Bắc mấy chục năm tôi có bao giờ thấy được chiếc nón lá? Tò mò, tôi bước lại gần. Một bà cụ già, già lắm, chắc phải gần tám mươi, bước ra khỏi khu vực thùng rác. Tôi chào. Bà cụ chào lại tôi. Cả hai không nói thêm lời nào. Tôi chợt hiểu khi nhận thấy dưới chỗ chân bà vừa bước ra, lổn nhổn vỏ chai coca, chai bia, nước suối... trong túi nhựa nylon. Bà cụ giở nón ra quạt cho mát. Mái tóc trắng bù xù và nụ cười dúm dó. Bà cho biết bà đang hưởng tiền già, nhặt thêm vỏ chai kiếm thêm chút đỉnh gởi về bên nhà cho đám cháu con nghèo khổ. Tôi choáng váng vì xúc động, thương cảm cho bà mẹ già, chân tôi như bị ai đóng đinh không bước đi được và nghe tim mình như bị ai trói chặt. Trời ơi, người mẹ Việt Nam nơi xứ người khổ sở đến thế hay sao?
Có lẽ cũng vài phút trôi qua, bà khách hỏi tôi:
- Cô à, cô có sao không vậy?
Tôi vùng thoát khỏi cơn mê, gượng gạo trả lời:
- Không sao, thưa bà, tôi từ xa đến chưa quen giờ giấc, thiếu ngủ nên thấy chóng mặt...
Người mẹ già băng qua đường với bao nylon đựng đầy vỏ chai trên tay. Tôi vẫn đứng yên, nhìn bóng bà xa dần, tay chân lóng ngóng.
II-
Chúng tôi không thể ở lại San Diego để mừng sinh nhật Chúc Minh tuần tới vì đã hết ngày phép. Con nhỏ có vẻ không vui. Tôi nói với nó mai mốt về hưu có thể chúng tôi về Cali ở với chúng nó. Nó mừng rơn, gặng hỏi tôi: Thiệt hông dì? Thế rồi nó nói dì dượng xuống đây, con chừa cái Master bedroom cho hai ông bà, bao ăn ở chỉ charge $500 thôi. Tôi nói ô kê với điều kiện là sáng ăn tôm hùm chiều cháo bào ngư tối đi coi văn nghệ, vợ chồng nó cười ha hả.
Đến phi trường L.A. chân tôi tê cứng không bước xuống xe được, ông xã mới vịn tay tôi đỡ xuống xe. Vợ chồng Chúc Minh được dịp la bài hãi:
- Trời ơi hai ông bà già tình tứ quá!
Tôi cười:
- Già thì có tình già chứ, gừng càng già càng cay, mấy đứa bay không nghe người đời nói vậy sao?
Suốt 6 giờ đồng hồ từ L.A về đến N.J tôi cứ nghĩ ngợi về chữ "tình già", tựa đề bài thơ mới đầu tiên của Phan Khôi xuất hiện trên báo năm 1932:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa...
.. Ôi tình nghĩa đôi ta thì rất nặng
Mà lấy nhau ắt là không đặng...
Lời thơ ngây ngô như lời nói, đầy đủ "thì, là, mà" nhưng gây sóng gió không nhỏ trong buổi đầu hình thành thơ mới. Người đời thường cho rằng vợ chồng về già chữ tình không còn, sống với nhau về nghĩa. Tôi không biết đúng sai, có điều tôi nhận thấy vợ chồng già tình cảm không còn sôi nổi, bộp chộp như hồi trẻ mà thấm đẫm hơn, sâu lắng hơn. Chắc vì lý do đó ca dao có câu:
Con cá làm ra con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi
Người xưa không sai chút nào khi dùng chữ "thương lắm". Ủa, vậy người trẻ không "thương lắm" hay sao? Không hẳn là vậy, vợ chồng trẻ yêu nhau đắm đuối say mê nữa là đằng khác, nửa bước không rời. Nhưng chữ "thương lắm" dùng cho vợ chồng già mang một ý nghĩa dài lâu hơn, nghĩa là họ đã trải qua mấy chục năm dài lận đận với nhau, xẻ ngọt chia bùi. Theo tôi, câu hát trên nói về tình nghĩa vợ chồng lúc về già còn mang ý nghĩa cần thiết nữa. Qua rồi tuổi thanh xuân khi con cái đã đủ lông đủ cánh bay khỏi tổ ấm gia đình, chúng nó có vợ có chồng, có con cái, có nhà riêng, thì chỉ còn lại hai vợ chồng già trong cái mà người Mỹ gọi là "Empty nest". Bây giờ ông nhìn bà, bà nhìn ông, cả hai mái đầu đều bạc, nay nóng lạnh, mai nhức đầu... Nếu không dựa vào nhau thì còn biết trông cậy vào ai
Trong tháng 7/2014, bài viết của tác giả Philato "70, chán mớ đời" khiến tôi đọc đến mấy lần vì thấy mình trong đó. Thực là chán quá chừng ở cái tuổi trên dưới 70, nghĩa là tuổi già lãng đãng khi nhớ khi quên, bước cao bước thấp, bệnh hoạn hà rầm...
III-
- Bộ bà không biết đến thì giờ sao? Sáng đi làm, giờ này gần 12 giờ đêm còn đọc sách?
- Nhớ đóng cửa sổ lại, đêm nay chỉ có 42 độ, bà dễ ngươi là bệnh đó nghe!
- Nếu bà thấy mệt quá xin nghỉ hưu trước đi, một mình tôi làm gói ghém cũng đủ qua ngày mà...
Đó là những lời ông đã nói với bà cho thấy sự quan tâm âu yếm, nhưng bà chỉ ừ hử cho qua chuyện. Ông lớn tuổi hơn bà, người nghỉ hưu trước phải là ông mới đúng chứ?
Thời gian trôi nhanh hơn mình tưởng. Chúng ta chưa kịp hưởng tuổi thanh xuân của mình thì tuổi già hấp tấp đến gần. Tuổi bảy mươi còn toan tính gì được nữa đâu, chỉ mong còn chút vui bên con cháu, Thu đã sang thì mấy chốc Đông tàn?
Trước Noel đúng một tuần, năm nay, là 40 năm tình chồng vợ của hai đứa tôi. Tôi thấy lòng một chút bâng khuâng. Ôi tình yêu là hơi thở một đời và tình già rộng mở những bao dung cho một thời tàn lụi. Chúng tôi muốn gởi trao đến bạn đọc tất cả sự nồng nàn của tình già vì chúng ta làm sao biết được bao ngắn bao dài thời gian chúng ta còn ở bên nhau đâu?
Buổi tối ông thấy khó thở vì tim đập nhanh. Bà hơi lo cứ thức giấc canh chừng ông.
- Ông uống thuốc chưa? Uống nước cam không tôi pha cho.
- Bà ngủ đi, tôi uống thuốc rồi, chút là khỏi thôi.
- Nếu không được khỏe, mai tôi nấu cháo gà với sâm, kỷ tử cho ông ăn nha. Đừng ăn cơm khó tiêu. Nhớ đắp mền cho ấm người...
Tình già vậy đó. Nhưng không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Cũng có lúc cãi cọ, khích bác, chế giễu lẫn nhau.
- Trời ơi sao ông lụi đụi quá vậy ông già?
- Bộ bà không già sao?
Có những lúc vì áp lực công việc ở sở, vì những gút mắc vụn vặt của gia đình, vợ chồng già cũng hục hặc với nhau, giận hờn nhau. Nhưng "giận thì giận mà thương thì thương" nên dễ dàng "huề vốn" với nhau lắm.
Sở dĩ tình già bền bỉ, theo thiển ý của chúng tôi, là ngoài tình yêu còn có sự quý trọng và bao dung, trên hơn hết là sự nhường nhịn nhẫn nại. Có phải người Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam lớp trước (như tuổi già của chúng ta hiện nay) ít muốn thay đổi, không thích mạo hiểm trong tình trường?
Để kết thúc bài viết tôi xin gời đến quý bạn đọc câu ca dao:
Anh buồn còn chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.
Nhang đã tàn lại được thắp giữa khuya cho thấy sự lạnh lẽo cô đơn biết là chừng nào. Tình già đôi lúc cũng như thế. Tình già, có thể là tình vợ chồng dài lâu ân nghĩa, cũng thể là tình bạn thâm giao, chúng ta hãy cố gắng giữ gìn, sưởi ấm tình nhau.
Song Lam
Chúng tôi không thể ở lại San Diego để mừng sinh nhật Chúc Minh tuần tới vì đã hết ngày phép. Con nhỏ có vẻ không vui. Tôi nói với nó mai mốt về hưu có thể chúng tôi về Cali ở với chúng nó. Nó mừng rơn, gặng hỏi tôi: Thiệt hông dì? Thế rồi nó nói dì dượng xuống đây, con chừa cái Master bedroom cho hai ông bà, bao ăn ở chỉ charge $500 thôi. Tôi nói ô kê với điều kiện là sáng ăn tôm hùm chiều cháo bào ngư tối đi coi văn nghệ, vợ chồng nó cười ha hả.
Đến phi trường L.A. chân tôi tê cứng không bước xuống xe được, ông xã mới vịn tay tôi đỡ xuống xe. Vợ chồng Chúc Minh được dịp la bài hãi:
- Trời ơi hai ông bà già tình tứ quá!
Tôi cười:
- Già thì có tình già chứ, gừng càng già càng cay, mấy đứa bay không nghe người đời nói vậy sao?
Suốt 6 giờ đồng hồ từ L.A về đến N.J tôi cứ nghĩ ngợi về chữ "tình già", tựa đề bài thơ mới đầu tiên của Phan Khôi xuất hiện trên báo năm 1932:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa...
.. Ôi tình nghĩa đôi ta thì rất nặng
Mà lấy nhau ắt là không đặng...
Lời thơ ngây ngô như lời nói, đầy đủ "thì, là, mà" nhưng gây sóng gió không nhỏ trong buổi đầu hình thành thơ mới. Người đời thường cho rằng vợ chồng về già chữ tình không còn, sống với nhau về nghĩa. Tôi không biết đúng sai, có điều tôi nhận thấy vợ chồng già tình cảm không còn sôi nổi, bộp chộp như hồi trẻ mà thấm đẫm hơn, sâu lắng hơn. Chắc vì lý do đó ca dao có câu:
Con cá làm ra con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi
Người xưa không sai chút nào khi dùng chữ "thương lắm". Ủa, vậy người trẻ không "thương lắm" hay sao? Không hẳn là vậy, vợ chồng trẻ yêu nhau đắm đuối say mê nữa là đằng khác, nửa bước không rời. Nhưng chữ "thương lắm" dùng cho vợ chồng già mang một ý nghĩa dài lâu hơn, nghĩa là họ đã trải qua mấy chục năm dài lận đận với nhau, xẻ ngọt chia bùi. Theo tôi, câu hát trên nói về tình nghĩa vợ chồng lúc về già còn mang ý nghĩa cần thiết nữa. Qua rồi tuổi thanh xuân khi con cái đã đủ lông đủ cánh bay khỏi tổ ấm gia đình, chúng nó có vợ có chồng, có con cái, có nhà riêng, thì chỉ còn lại hai vợ chồng già trong cái mà người Mỹ gọi là "Empty nest". Bây giờ ông nhìn bà, bà nhìn ông, cả hai mái đầu đều bạc, nay nóng lạnh, mai nhức đầu... Nếu không dựa vào nhau thì còn biết trông cậy vào ai
Trong tháng 7/2014, bài viết của tác giả Philato "70, chán mớ đời" khiến tôi đọc đến mấy lần vì thấy mình trong đó. Thực là chán quá chừng ở cái tuổi trên dưới 70, nghĩa là tuổi già lãng đãng khi nhớ khi quên, bước cao bước thấp, bệnh hoạn hà rầm...
III-
- Bộ bà không biết đến thì giờ sao? Sáng đi làm, giờ này gần 12 giờ đêm còn đọc sách?
- Nhớ đóng cửa sổ lại, đêm nay chỉ có 42 độ, bà dễ ngươi là bệnh đó nghe!
- Nếu bà thấy mệt quá xin nghỉ hưu trước đi, một mình tôi làm gói ghém cũng đủ qua ngày mà...
Đó là những lời ông đã nói với bà cho thấy sự quan tâm âu yếm, nhưng bà chỉ ừ hử cho qua chuyện. Ông lớn tuổi hơn bà, người nghỉ hưu trước phải là ông mới đúng chứ?
Thời gian trôi nhanh hơn mình tưởng. Chúng ta chưa kịp hưởng tuổi thanh xuân của mình thì tuổi già hấp tấp đến gần. Tuổi bảy mươi còn toan tính gì được nữa đâu, chỉ mong còn chút vui bên con cháu, Thu đã sang thì mấy chốc Đông tàn?
Trước Noel đúng một tuần, năm nay, là 40 năm tình chồng vợ của hai đứa tôi. Tôi thấy lòng một chút bâng khuâng. Ôi tình yêu là hơi thở một đời và tình già rộng mở những bao dung cho một thời tàn lụi. Chúng tôi muốn gởi trao đến bạn đọc tất cả sự nồng nàn của tình già vì chúng ta làm sao biết được bao ngắn bao dài thời gian chúng ta còn ở bên nhau đâu?
Buổi tối ông thấy khó thở vì tim đập nhanh. Bà hơi lo cứ thức giấc canh chừng ông.
- Ông uống thuốc chưa? Uống nước cam không tôi pha cho.
- Bà ngủ đi, tôi uống thuốc rồi, chút là khỏi thôi.
- Nếu không được khỏe, mai tôi nấu cháo gà với sâm, kỷ tử cho ông ăn nha. Đừng ăn cơm khó tiêu. Nhớ đắp mền cho ấm người...
Tình già vậy đó. Nhưng không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Cũng có lúc cãi cọ, khích bác, chế giễu lẫn nhau.
- Trời ơi sao ông lụi đụi quá vậy ông già?
- Bộ bà không già sao?
Có những lúc vì áp lực công việc ở sở, vì những gút mắc vụn vặt của gia đình, vợ chồng già cũng hục hặc với nhau, giận hờn nhau. Nhưng "giận thì giận mà thương thì thương" nên dễ dàng "huề vốn" với nhau lắm.
Sở dĩ tình già bền bỉ, theo thiển ý của chúng tôi, là ngoài tình yêu còn có sự quý trọng và bao dung, trên hơn hết là sự nhường nhịn nhẫn nại. Có phải người Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam lớp trước (như tuổi già của chúng ta hiện nay) ít muốn thay đổi, không thích mạo hiểm trong tình trường?
Để kết thúc bài viết tôi xin gời đến quý bạn đọc câu ca dao:
Anh buồn còn chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.
Nhang đã tàn lại được thắp giữa khuya cho thấy sự lạnh lẽo cô đơn biết là chừng nào. Tình già đôi lúc cũng như thế. Tình già, có thể là tình vợ chồng dài lâu ân nghĩa, cũng thể là tình bạn thâm giao, chúng ta hãy cố gắng giữ gìn, sưởi ấm tình nhau.
Song Lam
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)