Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Những câu nói hay trong cuộc sống



Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười.

Mong rằng bạn luôn có đủ hạnh phúc để vui vẻ, đủ thử thách đểmạnh mẽ hơn, đủ nỗi buồn để bạn trưởng thành hơn và đủ tiền để mua quà cho bạn bè.

Hãy cười lên và cả thế giới sẽ cười cùng bạn, nếu khóc, bạn sẽ phải chỉ khóc một mình.


Nếu bạn không thể xây dựng một thành phố thì hãy xây lấy một trái tim hồng.

Tình bạn là một sợi chỉ bằng vàng nối trái tim của cả thế giới.

Bạn cần phải đứng vững vì ít nhất một điều gì đó, nếu không, bạn sẽ ngã vì bất kỳ điều gì.


Hãy luôn nhớ rằng mỗi người bạn tốt đều đã từng là một người xa lạ.

Dù bạn không giỏi nhất, nhưng hãy cố gắng cao nhất.


Hãy cười như thể không ai đang nhìn bạn, và sống như thể không gì có thể ngăn cản bạn.


Chẳng có dấu hiệu nào ghi trên cái kén rằng nó sẽ trở thành một con bướm xinh đẹp.


Để vẽ một bức tranh hoàn hảo, nhất thiết bạn sẽ cần một vài màu tối.

Lo lắng quá nhiều giống như việc trả nợ mà bạn không biết có vay hay không.

Nếu bạn luôn cố để giống một người nào đó, bạn sẽ đánh mất những gì đặc biệt nhất về chính mình. 10. Cuộc sống giống như hoa hồng, vẻ đẹp luôn đi cùng với gai.

Chẳng sao cả nếu bạn cố, và cố, và cố nữa, nhưng vẫn thất bại. Nhưng thật tệ hại nếu bạn cố rồi thất bại, và không muốn cố lần nữa.

Chỉ khi bạn mở được cánh cửa của lòng tin, bạn mới mở tới cánh cửa của tình bạn.

Một tâm hồn không có trí tưởng tượng cũng như một nhà quan sát không có kính thiên văn.


Một người bạn thật sự là người bước vào cuộc sống của bạn khi cả thế giới đã bước ra.


Yêu thương cho đi là yêu thương có thể giữ được mãi mãi.


Một nụ cười có thể thay đổi một ngày, một cái ôm có thể thay đổi một tuần, một lời nói có thể thay đổi một cuộc sống.


Nếu bạn không thể là Mặt Trời thì cũng đừng làm một đám mây.


Hãy là một con tem, gắn chặt vào mục tiêu cho tới khi đến đích.


Có hai nơi mà không gì là không thể xảy ra : trong giấc mơ và trong tình yêu.


Khi bạn có thể cười ngay cả trong thất bại, đó là bạn đã đạt tới thành công thật sự.


Mỗi ngày đều là ngày đầu tiên của phần còn lại trong cuộc sống của bạn.


Không bao giờ có thang máy đi tới thành công, bạn luôn phải đi cầu thang bộ.


Một người thông minh giống như một dòng sông, càng sâu thì càng ít gây ồn ào.


Tình yêu là khi chúng ta nhận ra chính mình ở trong một người khác, và tự hào vì điều đó!


Bạn trưởng thành không phải khi biết tự chăm lo cho mình, mà là khi bạn có thể chăm lo cho người khác.


Muốn nhìn thấy cầu vồng, bạn phải biết chịu đựng cơn mưa.


Nếu bạn muốn thành công, đừng sợ thất bại.


Hạnh phúc không tuỳ thuộc vào bạn là ai, bạn làm gì mà tùy thuộc vào bạn nghĩ gì.


Cách tốt nhất để có một ý tưởng xuất sắc là có thật nhiều ý tưởng.


Trái tim tôi mỉm cười khi bạn bước lại gần và nói “xin chào!”


Đôi khi những điều nhỏ bé nhất lại mang đến những điều kỳ diệu nhất.


Dũng cảm là vượt qua nỗi sợ hãi chứ không phải không sợ hãi.


Cái đầu quá nóng và trái tim quá lạnh không bao giờ giải quyết được việc gì.


Thắp nến lên đi, đừng ngồi than vãn trong bóng tối.


Hãy có lòng nhân ái, bởi vì bất kỳ ai bạn gặp đều đang chiến đấu gian khổ hơn bạn. (Plato)


Phải yêu bạn vì hạnh phúc thương yêu không vì lợi lộc có thể khai thác được. (La Bruyere)


Tâm trí bạn giống như chiếc ô : chỉ hoạt động khi nó được mở.


Hãy để mọi người nhớ mãi nụ cười của bạn.


Mỗi cuốn sách là một bức tranh kì diệu về cuộc sống.


Bí quyết để có một đôi môi đẹp : hãy nói những lời tử tế.


Học tập chỉ mở cửa, bạn phải tự bước qua cánh cửa đó.


Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã.


Bạn không bao giờ bị đánh bại, cho đến khi bạn tự bỏ cuộc.


“Và tôi nhận ra rằng, trong cuộc sống luôn luôn có (ít nhất) một người dõi theo một người bằng cả trái tim, để rồi (có thể) người đó lại dõi theo người khác với tất cả tấm lòng của họ. Nhưng có hề gì, chỉ cần bạn được yêu thương ai đó và “yêu thương vô điều kiện”, cuộc sống sẽ vô cùng ý nghĩa. Và với tôi, thế là đủ!” (Trích từ một truyện ngắn trên báo HHT)


Ai yêu mãnh liệt thì ít lời.


Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi. (Tựa đề một quyển sách rất nổi tiếng của Andrew Matthew ^_^)


“Chúng ta sinh ra là để lấp đầy cho nhau. Như những mảnh xếp hình với dáng vẻ kỳ dị, đầy những ưu điểm và khiếm khuyết, sở trường và sở đoản, là vô nghĩa dù hiện hữu, nếu không lấp đầy cho nhau, để tạo nên một thế gian rực rỡ và hoàn hảo.” (Trích từ “Trò chuyện đầu tuần” trên báo HHT.)


“Tôi đã luôn tin chắc rằng ai cũng có thể tìm thấy những điều đẹp nhất ở những nơi ít ngờ tới nhất, chỉ cần thật sự để tâm. Và tôi đã đúng.” (HHT)


Nơi nào có tình thương yêu, thì nơi đó luôn có những điều kỳ diệu. (Loilla Cather)


Trẻ em : không chỉ là những người bé. Trẻ em thật sự là những con người đặc biệt. Trên đời này không ai giống trẻ em cả. (Adrian Wagner)


Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu. (Vincenl Van Gohg)


Con cái được giáo dục sẵn nếu chính cha mẹ được giáo dục. (Goethe)


Một số người tặng thời gian, một số người tặng tiền, một số tặng kỹ năng tay nghề và mối quan hệ, một số đã hiến máu… Và ai cũng có một thứ gì đó để trao tặng. (Barbara Bush)


Lòng yêu thương là điều mà chúng ta có thể mang theo khi chúng ta ra đi, và nó khiến cho giây phút cuối trở nên dễ dàng chịu đựng. (Louisa May Alcott)


Tình yêu không có thời hạn, chừng nào trái tim còn đập người ta còn yêu. (Karamzin)


Nguyên nhân chính của các lỗi lầm loài người mắc phải được tìm thấy trong những thành kiến được thu thập từ thời thơ ấu. (Descartes)


Tình bạn là nhận thêm niềm vui và chia bớt nỗi buồn. (Thomas Fuller)


Đứng sau động từ “yêu thương” thì “giúp đỡ” là động từ đẹp nhất trên thế giới. (Bertha Von Suttner) 66. Có những tình cảm sống suốt cả đời và chỉ chấm dứt cùng với đời sống. (Fosefine)


Đừng bao giờ mất kiên nhẫn, đó chính là chiếc chìa khoá cuối cùng mở được cửa. (Saint Exupery) 68. Trong tâm hồn cao thượng tất cả đều cao thượng. (Pascal)


Tình thương yêu là một trái cây luôn nở rộ và vừa tầm hái. (Mẹ Terasa)


Người lạc quan cho đấy là cái bánh, kẻ bi quan lại thấy đó là cái lỗ tròn.


Ðôi khi trong cuộc sống, có lúc bạn cảm thấy bạn nhớ ai đó đến nỗi muốn chạy đến và ôm chầm lấy họ. Mong rằng bạn sẽ luôn mơ thấy họ. Hãy mơ những gì bạn muốn, đi đến nơi nào mà bạn thích, hãy làm những gì bạn thích vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả trong cuộc đời.


Nhân từ, ngọt ngào là dấu hiệu của tính cao thượng. (Pythagore)


Bởi vì ông Trời không thể có mặt ở khắp mọi nơi nên ông mới tạo ra các bà mẹ. (Ngạn ngữ Do Thái)


Trong xã giao đừng đổi bạn thành thù mà hãy đổi thù thành bạn. (Pythagore)


Cái gì mà chúng ta học được ở tuổi thơ thì luôn còn mãi. (Cerventes)


“Bây giờ thì con hiểu, yêu và thương luôn là và phải là một… Yêu thương là khí trời, là nắng ấm giúp cây non lớn lên, em là búp măng non, em lớn lên trong mùa yêu thương… Em biết, an lành và hạnh phúc chỉ có khi em yêu thương.” (HHT)

“Hãy năng động, sáng tạo, mơ những gì muốn mơ, làm những gì mình muốn làm, đến những nơi mình muốn đến. Hãy là một phần ý nghĩa của cuộc đời chính bạn và những người xung quanh bạn.” (HHT)


Hãy khám phá những điều nhỏ nhoi đang làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Những khoảnh khắc ấy là những hạt vàng trên lối đi toàn sỏi đá… Để ta nhận ra rằng “Cuộc đời là một điều kỳ diệu”. (Trái tim có điều kỳ diệu)


Tất cả kho tàng trên trái đất không thể nào so sánh nổi với hạnh phúc gia đình. (Calderon)


Một người vĩ đại là một người đã không đánh mất trái tim trẻ thơ của mình. (Mencius)


Thực trạng không phải là thứ bạn ao ước có, cũng không phải là thứ mọi người thấy mà là thứ thực sự là như thế. (Robert J. Ringer)


“Dù người ta có nói với bạn điều gì đi nữa, hãy tin rằng cuộc sống là điều kỳ diệu và đẹp đẽ.” – Pautopxki

“Bao lâu bạn vẫn còn tự tin ở bạn, thì người khác vẫn còn tin bạn” - 
Cynda William 

“Đừng quá xem trọng điều gì. Hãy tiếp nhận mọi sự may rủi một cách nhẹ nhàng” – Jepfecson

“Đứng vững và không nghĩ rằng mình sẽ ngã thì sẽ chẳng bao giờ ngã” – H.Andersen

“Khi tất cả những cái khác đã mất đi thì tương lai vẫn còn.” – Bové

“Người nào có thể làm mỗi giây phút đều tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình.” – I.Cuôcxơ

“Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra để in dấu lại trên mặt đất, in dấu lại trong trái tim người khác.” – Xukhômlinski

“Đừng che dấu tình yêu và sự dịu dàng của mình cho đến khi bạn lìa đời. Hãy làm cuộc đời bạn tràn đầy sự ngọt ngào. Hãy nói những lời thân thương khi bạn còn nghe được và tim bạn còn rung động.” – Henry Ward Beecher

“Sự chân thành là điều tốt đẹp nhất bạn có thể đem trao tặng một người. Sự thật, lòng tin cậy, tình bạn và tình yêu đều tùy thuộc vào điều đó cả.” – Elvis Presley

“Đời là cuộc đấu tranh liên tục; nó luôn được cải biên với nhưng khó khăn mới. Và chúng ta sẽ chiến thắng nhưng bao giờ cũng phải trải giá.” – Mirko Gomex

“Đừng đi qua thời gian mà không để lại dấu vết Bao giờ ta cũng phải luôn luôn có một nơi nào để đến Trí tuệ của con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp.” – W.Gơt


“Hãy sống tốt đẹp đi và nhớ rằng, mỗi ngày có một đời sống riêng cho nó thôi.” – Seneca


“Bạn có yêu đời không? Vậy đừng phung phí thời gian vì chất liệu của cuộc sống được làm bằng thời gian.” – Franklin

“Luôn luôn có niềm hy vọng cho người nào bình tâm suy nghĩ về cuộc sống” – Katherine Logan

“Bạn có thể trẻ mà không có tiền nhưng bạn không thể già mà thiếu nó đâu” – Tennessee Williams.


“Nếu bạn muốn biết giá trị của tiền, hãy thử đi vay một ít xem” – Benjamin Franklin.

“Để kiếm một triệu, hãy bắt đầu với 900.000 USD” – Morton Shulman.

“Tôi ước rằng Karl dành nhiều thời gian hơn để kiếm tiền (tư bản), hơn là chỉ có viết về nó” – Jenny Marx, vợ Karl Marx.

“Những người sống đúng với khả năng tài chính của mình là những người không có trí tưởng tượng” – Oscar Wilde.


“Nếu phân mà là thứ đáng giá thì chắc là người nghèo đã được sinh ra không có hậu môn” – Henry Miller.

“Nếu bạn phải hỏi giá, bạn không có khả năng thanh toán đâu” – J.P. Morgan.

“Đừng có nằm ườn trên giường nữa, trừ phi bạn nằm đó mà vẫn làm ra tiền” – George Burns.

“Đừng kết hôn vì tiền. Bạn có thể vay với giá rẻ hơn nhiều mà” – Scotts Proverb.

“Cho” thì tốt hơn là “cho mượn”, nhất là khi chúng tốn kém gần như nhau” – Philip Gibbs.

“Hồi trẻ tôi nghĩ rằng tiền là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Bây giờ, khi đã già, tôi hiểu rằng đúng là như vậy” – Oscar Wilde.

“Tiền không mua cho bạn được hạnh phúc, nhưng nó làm cho sự nghèo khổ dễ chịu hơn” – Spike Milligan.

“Chưa bao giờ tôi gặp một tình huống mà tiền chỉ làm cho câu chuyện tồi tệ đi” – Clinton Jones.


“Người nào nói rằng tiền không mua được hạnh phúc rõ là không biết đi shopping ở đâu” – Bo Derek.

“Hãy cho tôi một cơ hội để chứng minh là tiền không mua được hạnh phúc” – Pike Milligan.


“Hạnh phúc để làm gì cơ chứ? Nó có mua được tiền đâu” – Henry Youngman.




Sưu tầm

Tín hiệu của tuổi già và trả lời về tín hiệu của tuổi già

Tín hiệu của tuổi già

Dưới đây là liệt kê 40 tín hiệu của tuổi già, tín hiệu càng nhiều, chẩn đoán càng đúng. Những ai có đủ 40/40 coi như chẩn đoán chắc chắn là già 100%.
1 - Toàn kể chuyện ngày xưa.
2 - Vặn Tivi lên để ngủ.
3 - Thích ăn cơm nhão.
4 - Sáng ngủ dậy uống trà, ăn trưa xong uống trà, nửa đêm tỉnh giấc cũng đòi uống trà.
5 - Chẳng biết Laptop là cái gì.
6 - Đoc Word file, luôn luôn bấm View 150%.
7 - Đến nhà bạn chơi, ngủ gật.
8 - Cả ngày đi tìm chìa khoá nhà, chìa khoá xe.
9 - Ngưng nhổ tóc bạc.
10 - Nếu là đàn bà, vứt hết mini-jupes.
11 - Ra bãi biển, trùm chăn.
12 - Ra đường "bị" gọi bằng cô, chú (đến giai đoạn bị lên chức bác, thì triệu chứng đã bắt đầu trầm trọng).
13 - Lên xe buýt "bị" nhường chỗ (giai đoạn ultimo).
14 - Coi phim buồn hay không buồn gì cũng rươm rưóm nưóc mắt.
15 - Thích người khác để ý và săn sóc mình nhiều hơn xưa..
16 - Rất là ghét nhìn những cặp "amoureux" khoảng 20 tuổi..
17 - Rất thích nhìn mấy anh trẻ đẹp trai, hay mấy cô nàng tuổi giữa 20-30.
18 - Vẫn mê ăn phở, nhưng thích luộc bánh phở cho thật là mềm.
19 - Rất rất là thích những câu như "dạo này trông bạn trẻ hơn và ốm hơn năm trước".
20 - Có đồ ăn ngon thì lấy đầy đĩa mà ăn không hết.
21 - Giấc ngủ trưa dài hơn.
22 - Đi đứng nằm ngồi chậm lại .
23 - Toàn dùng kem đánh răng loại "Extra-blanc".
24 - Uống cà phê đen, tối ngủ không được.
25 - Hay hỏi thăm tin tức các cụ cùng tuổi xem "còn khoẻ hay không".
26 - Phone portable reo, lúng túng mãi mới bắt được thì phone đã tắt.
27 - Chồng đi uống bia ôm cũng mặc kệ, con cái học dốt không thèm quan tâm.
28 - Đi chơi, cho nhau biển số xe mà cứ tưởng số cell phone.
29 - Gửi email, 15 giây mới đánh được một chữ.
30 - Nghỉ hè, làm biếng lái xe đi xa.
31 - Thân hình có vòng thứ hai càng ngày càng to.
32 - Ngại lên xuống thang lầu vì sợ té.
33 - Cứ bốn, năm giờ sáng là đã dậy.
34 - Mở báo đọc hay tìm trang cáo phó đọc trước.
35 - Không muốn nhắc nhở đến ngày sinh nhật.
36 - Nhìn gương thường xuyên, để ý đến chân dung nhiều hơn.
37 - Nói chuyện hay kể bệnh và chỉ nhau thuốc trị bệnh.
38- Con cái nói gì thì nghe nấy, chứ lúc trước là cho ăn bợp tai liền.
39 - Quan tâm tới chỉ số cholesterol của mình một cách thái quá.
40 - Nếu là đàn ông thì thích ngắm gái trẻ đẹp, còn đàn bà thì ưa nhìn trai tơ.

Hãy vô tư

"Già vô sự ấy là tiên", tuy chỉ có mấy chữ mà không phải ai cũng quan tâm đến nó, thực hành nổi nó. Không kể khi chúng ta còn sống tại Việt Nam trong cái nền "kinh tế xã nghĩa" lẽ dĩ nhiên phải nhập gia tùy tục: Đói đầu gối phải bò, phải đi bán vé số, phải gánh hàng rong đi bán xôi chè, bán tầu hủ, bán bánh canh...có cụ còn có sáng kiến mang cái cân ra trước cửa bưu điện Sàigòn để kiếm chút cháo nhờ những người no cơm ấm áo...
Sang đến cái xứ tư bản bị bóc lột hết mức, lê cái thân làm cu ly tới tuổi 65, cái tuổi được cấp carte d' or: nó chính thức được luật pháp xác nhận được quyền nghỉ ngơi, được nhà nước cung cấp một khoản tiền để đủ sống cho có tư cách, không ai dám lên án là mình ăn bám xã hội nữa.
Ai thì không biết chứ kẻ viết bài này, từ khi về hưu sao mà nó sung sướng thế. Này nhé muốn ngủ lúc nào thì ngủ, muốn thức lúc nào thì thức. Đêm bỗng nhiên giật mình thức dậy không ngủ tiếp được nữa, thì giở quyển sách ra xem, thích đọc gì xem nấy, đọc đến khi nào nhíp mắt lại thì khò, chả lo mai đi làm trễ, ông chủ nhăn mặt, chú cai phàn nàn. Đời không gì sướng hơn có hai chữ tự do: không bị ai sai bảo, không đụng chạm với các bạn đồng nghiệp, không phải làm những việc mình không thích mà vì miếng cơm manh áo vẫn buộc phải cày. Không thích thì không làm, đừng nể vì do bạn bè lôi kéo mà vô các tổ chức chính trị, tôn giáo hay đoàn thể vô vị lợi... vô thì dễ ra thì khó, ra thì mất hết tình nghĩa, mất hết bạn bè, mà có bạn lúc già là vô cùng quan trọng, không có nó cuộc đời vô vị lắm. Hãy có độ một hai người bạn thân có thể chút lòng, năm ba người bạn có thể tán dóc, nói chuyện bù khú, khi uống cà phê, còn vô số bạn gặp nhau có thể bắt tay, nói vài ba câu chuyện xã giao... Tuyệt đối đừng mua thù chuốc oán, đến mức gặp nhau không muốn nhìn mặt thì khổ lắm. Giận người không biết người có khổ hay không nhưng chính bản thân mình, lòng mình cũng nóng như lửa đốt. Biết thân mình chưa tu đắc đạo đến mức mọi sự đời đều để ngoài tai, tâm không bị nhiễu, thì nên tránh những chỗ dễ gây cho mình cảm giác khó chịu. Biết mình nghèo, mình dốt thì chớ đến nơi tụ họp của những người quyền quí, học rộng tài cao, họ coi người như rác... Đừng có ảo tưởng được chơi với họ ta sẽ thơm lây mà bé cái nhầm, hãnh diện vừa tới cái nhục theo sát bên ngay. Hãy kính nhi viễn chi với quí vị làm lớn từ ngày xửa ngày xưa, sang đây chỉ chuyên nói về dĩ vãng: Thời xưa tao bỏ tù thằng này thằng nọ, hắn trước là sĩ quan tùy viên của “moa” (fr: moi), cứ làm như mọi việc đều dừng lại không có gì thay đổi...
Đừng lệ thuộc vào bất cứ ai kể cả vợ con mình, đừng để khi họ cười ta mới thấy vui, họ nhăn ta lại thấy khổ, thì khi nào có cuộc sống hạnh phúc được. Sống chung trong gia đình, mỗi ngưới một tính, một tật, nếu ta chấp nhận tính tình của mỗi người là như vậy thì sẽ thoải mái, không cảm thấy khó chịu hay vướng bận. Ta không thể nào bắt người khác phải thay đổi tính tình theo ý ta nếu họ không muốn. Hãy biết phân công rõ ràng công việc nhà: bà nấu ăn tôi rửa bát, bà đi chợ tôi nấu cơm, bà lau nhà tôi đổ rác, bà nhặt rau tôi giặt quần áo, việc ai ấy làm, làm một cách chu đáo, có tinh thần trách nhiệm, không dẫm chân vào nhau, không làm mất thì giờ vô ích của nhau. Bà thích la cà ở chợ hàng tiếng đồng hồ chỉ để mua có vài mớ rau, mấy bìa đậu thì đừng buộc tôi phải tháp tùng, rồi ngồi ngoài chầu chực. Trong khi tôi lại thích vào Internet nghe tin tức năm châu bốn biển, xem đủ loại báo chí trên hoàn vũ, xem chuyện lạ bốn phương.
Không nên tùy thuộc nơi kẻ khác để tạo hạnh phúc cho mình. Những ai còn trông chờ người ta ban bố cho mình những thỏa mãn trong đời sống còn tồi tệ hơn kẻ ăn xin quì lạy, kêu gào van lơn từng bát cơm chén cháo.
Hãy chia thời giờ trong một ngày cho có khoa học: Sáng dậy tập thể dục độ một tiếng đồng hồ cho bay hết đau mình nhức xương, máu huyết lưu thông, nhớ đừng quên tập “Dịch cân kinh”, vẩy tay trên ngàn cái bệnh chướng sẽ tiêu trừ. Đừng tập vội vội vàng vàng, tập nhanh, tập ẩu cho hết giờ qui định thì cái sướng nó giảm đi phân nửa. Hãy từ tốn mà tập, coi như tập xong cũng không có việc gì phải làm tiếp, cứ nhẩn nha mà tập, mình đâu có việc gì mà vội, hôm nào chả là ngày nghỉ cuối tuần. Lúc tập chỉ chú tâm vào tập, lúc này coi tập thể dục là quan trọng nhất trong cuộc đời mình, đừng vừa tập vừa nghĩ tập xong để còn giặt quần áo, để gọi phôn cho ông nọ bà kia, thì hiệu quả của việc tập cũng bị giảm. Tập hàng ngày, tập cho nó thành thói quen, không tập không chịu được, tập thiếu đô cũng không thỏa mái, thế là đã đi vào nề nếp đấy.
Tập xong ngồi vào bàn nhẩn nha ăn điểm tâm, uống ly cà phê cho tỉnh người. Rồi rút vào “phòng tin tức” lên mạng lưới, đừng để bị bệnh “ dot.com” nó hành. Phải có thời khóa biểu: thứ hai nghe BBC, đọc báo Người Việt, thứ ba VOA, đọc Việt báo, thứ tư nghe RFI đọc báo Hà Nội v.v...Trừ khi nào bạn bè cho hay có tin lạ, có tin hay tại đài nào đó thì du di chút đỉnh. Hôm nào lại có hứng viết một vài trang thì cứ việc “gõ” trên phím. Già rồi đừng buộc mình phải viết bài này cho đúng hạn, viết quyển sách kia cho kịp ngày... thì đáng lẽ là thú vui nó lại thành cái ách. Danh giá gì đến lượt mình, hãnh diện gì cái tuổi mình, cái tuổi cúp bình thiếc, lại mắc cái bệnh “Chung Vô Diệm”, làm thằng đàn ông dù già đi nữa mà mắc cái bệnh này rồi thì là đồ bỏ, vênh vang cái mặt làm gì cho tủi mặt trượng phu!
Dù mùa đông lạnh buốt, mùa hè mát mẻ, mùa thu mưa dầm... mỗi ngày nên đi bộ ra ngoài hai tiếng: Mùa hè trời đẹp đeo cái túi vải trong đựng quyển sách mỏng, đừng đem sách dày như cuốn tự điển đeo nặng vai mất thú, nhớ mang theo chai nước suối loại 500 ml để uống, độ mươi lăm phút làm một ngụm, nó có tác dụng trị táo bón một cách thần kỳ. Rồi đi bộ thong thả ra cái công viên nào gần nhà nhất, đi bộ quanh vườn độ một vòng, lúc mỏi ngồi xuống ghế đá, dựa lưng cho đỡ mỏi, rút quyển sách ra đọc từ từ chả việc gì phải vội, nhớ được đến đâu hay đến đó, có ý nào hay nhớ ghi ngay vào trang cuối của sách, sau đỡ phải tìm tới tìm lui, vỗ đầu vỗ trán. Đọc mỏi mắt lại đi, vừa đi quanh cái hồ vừa ngắm cảnh nhìn mấy con vịt bơi từng nhóm, từng nhóm vài ba con một trên mặt hồ rộng mênh mông, bơi một cách khoan thai, bơi để mà bơi đâu cần tới đích sao mà thanh thản thế, nhìn mặt hồ tĩnh lặng cũng khiến cho tâm mình an lạc. Ngắm cái bồn nước giữa hồ, có mấy chục vòi nước phun luôn luôn đổi dạng: lúc vút lên như muốn ngang với tầm cao của mấy cây cổ thụ mọc ven bờ hồ nhưng không đạt; có lúc tất cả các vòi ngưng lại để dồn sức cho một vòi độc nhất vọt thật mạnh muốn đụng tới mây xanh, những hôm gió mạnh ngồi trên bờ hồ vẫn hưởng được vài hạt nước nhỏ li ti bắn vô mặt, hít vào được một chút hơi nước mát dịu giúp cho nhiệt độ hạ đi; lúc đồng loạt hạ xuống thấp tỏa ra như cái hoa sen những tia nước nhỏ lóng la lóng lánh như phun những sợi bạc, hàng chục kiểu khác nhau trông thực vui mắt, lòng cũng thêm phấn khởi hơn, vui hơn, mắt bớt mỏi rồi lại đọc. Cứ đọc như vậy nay một chút mai một chút sách nào cũng được miễn là hợp với ý thích của mình, đừng có miễn cưỡng phải đọc cho được sách của triết gia này triết gia nọ đang nổi tiếng như cồn. Đọc theo cái kiểu đọc sách của Lâm Ngữ Đường: nhiều suối góp lại thành sông, rồi sông sẽ chảy ra biển... có hiệu quả vô cùng. Nhưng cái tật của người lớn tuổi thích đọc truyện xưa để đối chiếu với ngày nay. Khi già rồi ít tiếp cận với thực tế sôi động, nhìn tương lai thì mắt đã mờ, họa chăng mắt mình sáng lại khi nhìn dĩ vãng. Đọc đến một lúc nào đó sẽ nảy ra ý phải cầm bút viết về vấn này, không viết không chịu được, không viết nó ấm ức trong lòng, viết được coi như giải tỏa, cũng như ăn vào thì phải tiêu ra, khoái lắm! Thành ra cái thời gian đọc sách thời gian suy nghĩ vấn đề càng dài, càng chín, thì lúc cầm bút càng dễ dàng bấy nhiêu. Nên chớ có bị xúi dại mà nhận lời viết định kỳ cho một tờ báo nào hay thuyết trình một vấn đề mà mình không thích cho một tổ chức nào, nhận rồi lo ngay ngáy, tâm mất cả an.
Đi một park phong cảnh không thay đổi cũng dễ chán, thì lấy bus đi park xa hơn, tại đất Montréal này thiếu gì park, lớn có nhỏ có, xa có gần có. Có những Park cách xa thành phố cả nửa giờ xe, lại gần bên bờ sông gió thổi y như nhà quê vậy, đi về thấy nhẹ cả con người.


Mùa đông ngày mưa cũng đừng có ngại đi ra ngoài, chỉ cần ngại một lần, cái lười nó đến ngay lập tức. Nhớ mua vé bus hàng tháng có nửa giá tiền cũng thêm một động lực thúc mình ra ngoài vì đã mua thì phải dùng chẳng nhẽ để vé mốc. Tập cho có thói quen ngày nào không ra khỏi nhà một lần coi như có cái gì thiêu thiếu. Những ngày xấu trời chớ cậy sức khỏe mà đi hàng mấy cây số dưới tuyết lạnh về đau vợ con nó cằn nhằn. Đi bộ một quãng xa gần tùy lực rồi chui vào Métro là an toàn trên xa lộ. Rồi hôm nay chọn khu này để ngồi đọc sách, mai lựa khu khác, nay thư viện này mai thư viện khác. Có chịu khó đi mới thấy cái câu của cụ Nguyễn công Trứ:
Kho trời chung mà vô tận của mình riêng….
là chí lý. Có những lâu đài lát đá hoa cương bóng lửng, ghế sa-lông bọc da sang như nhà triệu phú, ngồi vừa êm vừa ấm, thả mình trên ghế bành, ngả đầu thành ghế mà thưởng thức một áng văn hay, một truyện ngắn đặc sắc, mỏi mắt hãy nghỉ một chút, ngắm cái trần, cái cột vừa cao vừa to vừa trạm trổ đủ kiểu hoa văn đẹp ơi là đẹp, cái nền lâu đài rộng thênh thang soi thấy mặt. Nghĩ thương cho những nhà triệu phú giờ này đang lao vào kiểm soát sổ sách, họp hành bàn kế hoạch sẽ đầu tư vào nghành nào cho có lời nhất, đâu có thì giờ mà hưởng. Rốt cuộc họ xây cho những người biết hưởng! Họ là những người vớ được quyển sách ước, quyển sách này lạ lắm, ước gì cũng được nhưng có một cái lạ: khi anh ước có cái xe hơi đẹp thì nhà bên cạnh có cái xe đẹp hơn, khi ước có ăn nhà vừa đẹp vừa to thì nhà láng giềng lại có cái biệt thự to đẹp hơn nhà anh nhiều... Do đó mà đời anh không bao giờ sung sướng. Anh bèn không ước nữa!
Người biết hưởng là người có sức khỏe, chứ ốm nhề nhệ thì hưởng sao nổi; người biết hưởng là người biết đủ, biết đủ thì giầu, không biết đủ thì có bao nhiêu tiền cũng vẫn than nghèo, vì luôn sánh mình với người khác. Cái khó là làm sao biết đủ! Càng vui khi rủ được bạn tâm đầu ý hợp đi cùng, trưa đến bụng hơi cồn cào gọi tô phở, uống ly chocolat nóng cho ấm cái bụng cùng nhau bàn về cuốn sách viết về thiền của vị thiền sư nọ sao mà đạt thế, mình học bao nhiêu cũng không viết nổi ! tài ơi là tài, giỏi ơi là giỏi, có thể Ngài đã chứng đắc. Rồi hai bạn già suýt: Mình viết được vậy thì khoái nhỉ!
Đọc chán, ngồi chán lại đi, ở cái đất Montréal này biết bao nhiêu trung tâm buôn bán nằm sâu dưới lòng đất rộng thênh thang, chạy dài cả năm sáu cây số, một đường hầm nối liền đường Métro màu xanh với đường màu cam. Hồi mới sang không hiểu tại sao lại chôn các gian hàng tráng lệ to lớn này dưới lòng đất trong khi biết bao đất còn bỏ hoang tại hòn đảo này. Nay ở lâu mới hiểu: đó chính là thành phố của mùa đông, mùa đông bão tuyết đang hoành hành trên đường phố chỉ cần chui vào Métro thấy mùa xuân trở lại, đi dạo qua các trung tâm buôn bán lặn dưới các lâu đài, các dinh thự là thấy được cái phồn thịnh, cái nhộn nhịp của thế giới “âm ti” của người dân miền bắc cực. Dân vùng đất lạnh này là dân ăn nhậu đi đâu cũng thấy tiệm ăn, tiệm ăn lan tràn ở các trung tâm thương mại, đủ các món ăn: Tàu, Mỹ, Nhật, Hy lạp, Việt Nam, Pháp... Đủ hạng từ tay cầm giá vài ba đô cho đến vài chục tùy theo túi tiền của bạn, tùy theo khẩu vị của bạn, tùy theo sức chứa của bạn. Muốn ăn lúc nào tùy hứng từ 7 giờ sáng đến 12 giờ khuya. Nhưng đừng mê quá quên cả điện thoại về nhà, để vợ con nó chờ, nó lo, nói đoán già đoán non: Bố lại đi với mấy cụ bạn tới cuộc hội thảo, hay lại tạt vào quán bia nào nhậu say quên cả đường về! Có ngon cũng đừng ăn phình căng bụng, nhất là buổi tối nó ấm ách, ngủ đâu có được. Bữa cơm về chiều nên ăn nhiều rau hơn thịt, bớt đi vài muỗng cơm cho cái bụng nhẹ nhàng, khi nằm thoải mái giấc ngủ đến liền kéo khò một giấc.
Mùa đông đi trong đường hầm, quên mẹ mùa đông lạnh cóng, quên luôn đường đang ngập tuyết dơ, quên cả cơn gió ào ào thổi từ miền Bắc cực đổ về khiến độ lạnh tăng thêm chục độ. Mùa Giáng sinh về ngoài trời thì khô héo, bầu trời thì xám xịt, tuyết đang xuống. Những bông tuyết non đầu mùa bay nhè nhẹ lửng lơ như ngại đáp xuống hạ giới. Có bông tan lửng trong không trung, có bông cố rơi xuống mui xe đang chạy cũng tan ra thành nước. Nhưng cái thành phố ngầm của chúng tôi trên “vòm trời” ngàn ánh sao tỏa sáng lung linh, mộng ơi là mộng... Lúc mình trồi lên trạm Métro ngồi đợi xe Bus đến, thấy tụi Tây, Đầm đi làm về mặt mày phờ phạc chạy vội chạy vàng cho kịp chuyến xe sắp lăn bánh, giống hệt như mình vài năm trước đây, sao mà họ khổ thế! Thì mới thấy được cái sung sướng của kẻ “già vô sự ấy là tiên”. Già thì phải sống vô sự, già không nên hữu sự. Béo bở gì chuốc lấy chữ lo vào mình, quyền lực gì với người chân đi đã hơi run run, cúi xuống hơi khó khăn, ăn không nổi hai chén cơm nhỏ, ngủ không đầy giấc, đêm đi tiểu vài lần. Danh giá gì với kẻ: kính đang ở trên sống mũi mà cứ đi tìm, rồi gắt nhặng lên: Tao vừa để cái kính đây không biết đứa nào lại cất đi nơi khác...
Lúc trẻ đọc những bộ sử thời xưa thấy Khương Thượng nhẫn nại chờ thời ngồi câu cá bên bờ sông Vị, đến lúc gặp Chu Văn Vương mới mang tài ra giúp nước, góp phần đánh đổ Trụ vương lập nên triều đại nhà Chu, danh còn lưu lại. Kẻ này khâm phục! Nhưng thử hỏi ở đời này mấy khi anh hùng gặp được minh quân để thi thố tài năng mà thường đời đa số lại gặp phường bá đạo dùng xong rồi giết, mà giết một cách tàn nhẫn giết cả ba họ giết tuyệt giống không còn một người trông coi từ đường, hương khói. Nên câu già vô sự vẫn là câu gối đầu giường cho kẻ đã gần thất thập. Tôi đã thấy hai anh em ông chủ nhà hàng Waldman chuyên bán cá, cửa hàng to lớn, khách hàng lui tới mua bán tập nập. Hai anh em nhà ông cứ bò mình trên két thu tiền, thở không ra hơi, có hôm tôi bắt gặp ngồi ngủ gà ngủ gật ngay tại két. Tôi cứ tự nhủ đồng tiền là gì mà sao nó hấp dẫn con người quá vậy, bao giờ thì hai cụ mới chịu về hưu an hưởng tuổi già, hay là làm cho đến lúc chết. Mà họ làm cho đến khi chết thật: tôi thấy lâu ngày vắng bóng một cụ, hỏi ra mới biết cụ đã qui tiên cách đây vài tuần. Cụ em thấy anh mình đi sang bên kia thế giới chẳng mang được cái gì theo, mà bỏ lại nào xe hơi, nào nhà lầu, nào tiền bạc trong két, nào cổ phần trong các công ty... Nên cũng tỉnh ngộ sang lại cửa hàng, nghỉ được vài tháng cũng đi theo ông anh!
Có người khuyên già rồi nên tu, không nên khất lần khất lượt nữa, già không tu thì còn bao giờ mới tu. Thực ra thì lúc trẻ đã nên tu: vì tu là sửa, sửa cái sai, cái quấy của mình thì tu sớm chừng nào hay chừng ấy. Nhưng mình lúc trẻ đã chót ham đủ thứ nào danh nào lợi, nào sắc nào tài. Rồi còn thời cuộc nó cuốn mình bay theo cơn lốc dễ gì ngưng được, nên cùng đành chịu thân phận “nước trôi bèo dạt”. Nay già nghĩ lại phải tu, nhưng thói quen đâu dễ bỏ, làm sao ngồi với tư thế kiết già với cái lưng thẳng để tụng một thời kinh dài chừng hơn một tiếng, mà chân không tê, thắt lưng đừng để bị mỏi rồi chùng xuống, nhất là cái đầu giữ sao không suy nghĩ lăng xăng, ngồi tụng kinh mà cứ nghĩ về câu truyện vừa đọc, về bài sắp viết thì tán loạn rồi còn gì. Nói thì dễ, nhưng làm khó lắm, không dễ đâu. Quí vị nào có đi chùa thì thấy ngay điều đó. Tôi đã gặp các vị bằng cấp đầy mình, thông minh tột đỉnh, chức tước không nhỏ, nghị lực không kém cũng vào sinh ra tử, cũng vượt lắm gian truân. Thế mà nay về già chỉ làm một công việc rất tầm thường là giữ tâm ít động trong một thời kinh mà làm không nổi!
Tôi cũng chưa làm nổi, nhưng chả nhẽ chịu thua, nên tôi nương theo cái thú ham đọc mà hướng về Phật bằng cách mỗi tối để ra một giờ đọc sách của các vị Bồ tát, Thiền sư, Hòa thượng và các bậc trí giả viết về Phật pháp. Cứ đọc từ từ, từ dễ đến khó, đọc hoài nay cũng vỡ ra đôi chút, cũng biết được cái sơ đẳng, cái căn bản của đạo. Cái chứng nghiệm đầu tiên mà tôi thấy được là đọc các lời Phật dạy trước khi đi ngủ: dễ ngủ và ngủ ngon giấc. Già ngủ được ấy là tiên.
Đi chùa, nhiều vị là đệ tử ruột của một vị chân tu nào đó, chỉ đi một chùa duy nhất là chùa của thầy mình, không bao giờ đi chùa khác. Tôi đi tới chùa chỉ biết lễ Phật, không chạy theo với bất cứ thầy nào, tôi không là đệ tử cưng của một thầy nào cả, chẳng thầy nào biết đến tên tôi. Tôi đi khắp các chùa, nhận thấy: mỗi chùa lên khóa lễ lại có nghi thức tụng niệm khác nhau, thời gian hành lễ dài ngắn khác nhau, và cái không khí sinh hoạt khác nhau. Có chùa ta có cái cảm tưởng đây là cái chùa của một làng, tất cả mọi người đến chùa đều quen biết nhau, chào hỏi nhau vui vẻ, nói chuyện vồn vã như những người cùng một họ. Có chùa ta lại nhận thấy cái tính chất thập phương của nó, ai đến cũng được chẳng ai để ý đến ai, lúc thọ trai mọi người xếp hàng bình đẳng. Có chùa vẫn giữ theo nghi thức cổ xưa: cúng vong thật kỹ, thật nghiêm trang kéo dài gần cả tiếng sau đó mới lên chính điện cúng Phật, khi thọ trai ngồi thành bàn sáu người một cỗ, gần như được ấn định trước ai ngồi với ai, ít khi thay đổi... Đi nhiều chùa có cái thú thay đổi không khí, chủ nhật này gặp một số bạn, chủ nhật sau số bạn khác, trao đổi chuyện trên trời dưới đất cũng có cái vui. Đi chùa luôn thành một thói quen, chủ nhật nào không đi cũng nhớ, thế là vào nếp.
Đối với gia đình: không can thiệp vào công việc của con cái, để chúng tự do thoải mái, chúng mới ở với mình. Chúng vui mình vui theo, chúng có chuyện buồn mình giữ im lặng.. Ngay cả vợ chồng cũng đừng va chạm vào sở thích của nhau. Chúng mình đã đồng cam cộng khổ, lao động hết mình, trải nhiều biến loạn, nuôi con cái trưởng thành, có nghề có nghiệp, có miếng cơm ăn. Nay được sống dưới một chế độ tôn trọng con người, hàng tháng cấp dưỡng cho một số tiền nhiều thì không nhiều nhưng đủ ăn để giữ được nhân phẩm, không phải nịnh ai để vay tiền, không phải nuốt nước miệng khi thấy người ta ăn miếng ngon. Thèm thuồng khi người ta có quần áo đẹp. Đừng có ghen tị, thấy người ta ở nhà to, vườn rộng, mà tưởng họ sống hạnh phúc hơn mình mà bé cái lầm. Sau khi cơm ăn áo mặc rồi, sướng hay khổ là do cái tâm, giầu hay nghèo là do biết đủ. Giầu bạc triệu mà thấy người ta có trăm triệu vẫn than mình nghèo. Phần lớn sinh viên đại học Harvard nói thẳng rằng: họ kiếm 50 ngàn một năm, trong khi các bạn đồng học chỉ kiếm được phân nửa số đó, còn hơn kiếm cả 100 ngàn trong khi bạn học khác kiếm 200 ngàn, mang theo cái tư tưởng ghen tị đó thì cả đời khổ! Người giầu có một lợi thế mà người nghèo không bì kịp là có tiền thừa dám đem bố thí, dám làm phúc nuôi các trẻ mồ côi, giúp các viện dưỡng lão... còn có tiền mà bo bo tích lũy gửi đầy ở ngân hàng, lấy thú vui ở đời là chương mục mỗi ngày mỗi tăng làm lẽ sống thì...!
Ta cứ khao khát tìm kiếm những gì mình chưa có vì tưởng mình nghèo, mà không biết hưởng những gì mình đang có:
-Ta đang còn sống, trên đời này quí nhất là sự sống.
-Ta có sức khỏe: ăn biết ngon, ngủ đẫy giấc.
-Ta không bị khuyết một căn nào trong lục căn.
-Ta có tự do, không bị cái gì ràng buộc.
-Ta có đủ ăn đủ mặc, không bị đói rét.
-Ta có tình thương của gia đình và bè bạn.
-Ta có một vốn hiểu biết trung bình, để đọc hiểu sách.
Sống xấp xỉ thất thập mà có đủ sáu cái thú trên thì còn đòi hỏi gì thêm nữa cho mệt! đó chính là viên ngọc quí của cuộc đời, hãy biết mà vui hưởng! đừng than nữa, có được như vậy cũng là quá nhiều rồi, quá phúc đức rồi còn ham gì nữa, phải không các bạn?

Sưu tầm

Cánh cửa và chân mây


Cánh cửa là thiếp, là thiếu phụ trông chồng; chân mây là chàng, là chinh phu đi chinh chiến.Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây(Chinh phụ ngâm).
Đó là thời đất nước loạn lạc hay bị ngoại xâm. Nhưng khi thái bình, chàng không ru rú ở nhà mà ra thi thố việc nước, hoặc giồi mài kinh sử, hoặc nếu an phận ở quê nhà, thì làm nghề nông, quá lắm thì làm thầy thuốc, thầy đồ, thỉnh thoảng góp phần vào việc làng, việc họ. Còn thiếp, vẫn chủ yếu trong cánh cửa, lo chăm sóc con cái và gia đình nhà chồng, lo vườn tược, heo cúi gà vịt… Thiếp quanh năm thầm lặng, quá lắm là được tiếng khen: công dung ngôn hạnh… Tất nhiên, các vị nữ lưu xuất chúng thì không kể.

Nhưng thời thế đã khác từ lâu. Bên trời Âu, nữ giới đã càng ngày càng được học tập, lao động, gánh vác nhiệm vụ của xã hội như nam giới. Bên này Đông Á, đạo Nho mờ nhạt, ảnh hưởng văn minh phương Tây đã làm cho nữ giới được vươn lên về mọi mặt của xã hội; và ngày nay, chuyện nam nữ bình quyền là chuyện tất nhiên, dầu có nơi có lúc chưa hoàn toàn như ý. Thực tế cho thấy, ngoại trừ những ngành nghề có tính chất đặc thù về giới tính, còn thì nữ có thua gì nam, thậm chí học chăm hơn, đạt điểm cao hơn.
Vì vậy, tất nhiên nam nữ ngày nay kết hôn với nhau thì cả hai đều đi làm việc. Thiếp không thể chỉ ở trong cánh cửa, dầu cho chàng ra ngoài chân mây, lên biên giới bảo vệ Tổ quốc. Tình thế có khi lại đảo ngược: chàng có thể phải trong cánh cửa, dĩ nhiên không kể thời gian ra xã hội làm việc, còn thiếp thì xa xôi, tận chân mây cuối trời, để công tác hoặc du học, tu nghiệp nước ngoài.
Việc giải phóng phụ nữ tất yếu phải đưa đến phân công nhiệm vụ của hai vợ chồng trong gia đình. Vợ phải bớt đi công việc nhà để chồng chấp nhận vui vẻ sẻ chia. Thật tình đàn ông không muốn công việc bếp núc, nhưng nếu hoàn cảnh thôi thúc thì phải làm, cho nên nhiều khi được “tiếng” là ông nội trợ. Nếu hai vợ chồng không biết hòa hợp trên công việc chung, thì dễ xảy ra xung khắc, và bi kịch từ đó, nhất là khi vợ quá sắc sảo, quá lý lẽ lại thêm lý lẽ kèm theo sức mạnh kinh tế và văn hóa với bằng cấp cao hơn, thu nhập cao hơn chàng. Cho nên dễ hiểu đàn ông có khuynh hướng chọn vợ “thường thường bậc trung” về hai mặt văn hóa và kinh tế; tuy nhiên sau này có thể khuynh hướng này giảm nhẹ đi.
Cánh cửa xã hội mở ra thoáng đãng hơn cho cả nam và nữ, quan hệ xã hội rộng rãi hơn, cởi mở hơn, nhưng bụi phồn hoa dễ làm vẫn đục tâm hồn, cũng như tiền tài, quyền lực, sắc đẹp dễ làm con người mê mờ, cho nên vợ chồng lắm lúc gặp cảnh “cơm không lành, canh không ngọt”, “chán cơm thèm phở”, “quên nghĩa tào khang” mà nếu không kịp phản tỉnh thì tai họa cho gia đình, bất hạnh cho con cái. Trong khi đó, luật pháp mở đường cho hai người “đường ai nấy đi” nếu cả hai không còn chút mặn nồng. Một điều trái ngược là trước đây, ở xã hội gọi là phong kiến, nam nữ bị áp đặt hôn nhân lại gắn bó với nhau trọn đời, còn nay thì nam nữ tự do lựa chọn bạn đời sau khi đã tìm hiểu nhau, lại dễ xảy ra ly thân, ly dị.
Trong bộn bề lo toan việc cơ quan lẫn việc nhà, kể cả chạy vạy làm thêm kiếm tiền, không ít trường hợp hai vợ chồng phải bàn bạc để người này tạo thuận lợi cho người kia, lầm khi người này có chút hy sinh. Như vậy mới đúng là tình nghĩa vợ chồng, mới là thuận vợ thuận chồng để tát bớt lo âu… Lâu nay, ta cứ quen khi thấy phụ nữ thường tạo điều kiện để chồng tiến bước trên con đường công danh, sự nghiệp còn mình thì chấp nhận lo nhiều hơn cho gia đình, nhất là lúc con còn nhỏ, cần tình thương yêu chăm sóc của mẹ. Tuy nhiên, ngày nay số con ít đi, và khi con đã đến tuổi vào trường thì phụ nữ vẫn phải được tiến thân trên con đường học tập và nghề nghiệp, cho nên đức ông chồng phải biết chấp nhận làm việc nhà nhiều hơn. Lại nữa, không dễ để cả hai vợ chồng trẻ có được công việc như ý. Thất nghiệp đang rình rập đâu đó, vậy thì mỗi người phải nắm lấy cơ hội; nếu vợ có cơ hội thì chồng phải ủng hộ. Mọi khả năng đều có thể xảy ra, chẳng hạn: hai vợ chồng có con nhỏ, chồng chẳng may thất nghiệp, hoặc lương tiền ít, trong khi vợ có việc làm thu nhập cao, thì có thể chồng ở nhà lo gia đình, để vợ đi làm. Tình hình đó chẳng tốt lành gì, liệu có ảnh hưởng tiêu cực đến hạnh phúc gia đình không? Khó mà trả lời, có lẽ chỉ ỡm ờ: “Thì cũng tùy…”. Tuy nhiên, một bài viết trên tờThe New York Times ngày 22/1/2010, trả lời hẳn hoi, rất tích cực.
Nữ tác giả Tara Parker-Pope, với bài báo tựa đề: “She works, they’re happy” (tạm dịch: “Vợ làm việc gia đình hạnh phúc”) đã đặt ra câu hỏi bất ngờ ngay từ đầu bài. “Một bà vợ thành công về tài chính có đe dọa ông chồng hay là giúp đỡ ông chồng?”. Một vài con số thống kê lý thú về tương quan kinh tế và văn hóa giữa hai vợ chồng của xã hội Mỹ:
- 1/3 số đám cưới với vợ có trình độ học vấn cao hơn chồng.
- Số cặp vợ chồng với vợ là trụ cột gia đình chiếm 22% tổng số cặp vợ chồng trên đất Mỹ.
Không biết phụ nữ ở ta có tâm đắc hay không với nhận xét của bà Stephanie Coontz, giám đốc một trung tâm nghiên cứu về gia đình hiện đại: “Phụ nữ không cần lấy chồng xứng hợp về giáo dục và kinh tế nữa, vì thế họ ngày càng thích lấy chồng trên nền tảng quan hệ bình đẳng”. Chính tác giả bài báo trên đã nói lấy mình làm ví dụ: “Trong hôn nhân của tôi, tôi được học nhiều hơn chồng; và, bởi vì chồng tôi đã nghỉ nên tôi có thu nhập nhiều hơn”, bà nói. “Tôi lấy nhà tôi không phải vì tôi cần phiếu thức ăn, nhưng vì tôi nhận ra anh ấy tôn trọng tôi và không có vấn đề gì khi chia sẻ trách nhiệm cuộc sống hàng ngày với tôi. Bây giờ, ngày càng nhiều phụ nữ có lựa chọn đó”.
Gia đình có cả hai vợ chồng đi làm việc, lại có hai con nhỏ thì không tránh khỏi khó khăn, vất vả, ở ta cũng như ở Tây. Bạn đọc thử xem hoàn cảnh của một gia đình bên Mỹ mà bài báo trên nêu ra: Hai vợ chồng lấy nhau đã năm năm, có bốn đứa con, dĩ nhiên còn nhỏ, trong đó hai đứa sau là song sinh; chi phí chăm sóc cho bốn đứa nhóc này không thể chịu nổi nếu cả hai đi làm việc, vậy thì một người phải nghỉ việc. Người ở nhà là người có thu nhập ít hơn: đó là ông chồng. Bực bội lắm chứ! Ông bộc bạch: “Nếu bạn hỏi tôi năm năm nay sao cứ quanh quẩn trong nhà, tôi sẽ trả lời ‘không còn con đường nào khác’”.
Chồng bực bội là thế, sinh ra so đo, mặc cảm, rồi thì cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, vợ chồng chia tay, dễ xảy ra lắm chứ! Thì ra ở Mỹ không phải như thế, theo nữ tác giả bài báo: “Trong lúc người ta dễ dàng tin rằng sự độc lập về tài chính của phụ nữ làm tăng nguy cơ ly dị, thì tỷ lệ ly dị tại Mỹ lại là chuyện khác: nó giảm xuống khi phụ nữ có thu nhập cao hơn. Vào cuối thập niên 1970, thống kê trên 1.000 cặp vợ chồng mà có thu nhập cao hơn thì con số vụ ly dị ở mức cao nhất là 23; từ đó cho tới nay con số đó đã đều đặn rớt xuống còn 17. Ngày nay, người ta thấy rằng ở Mỹ người phụ nữ càng độc lập về kinh tế và được hưởng một nền giáo dục cao thì càng giữ vững được lứa đôi. Và theo một báo cáo năm 2009 từ Center for American Progress (Trung tâm Khảo sát về tiến độ của nước Mỹ) thì ở những tiểu bang nơi các bà vợ có công ăn việc làm ít hơn thì tỷ lệ ly dị càng có xu hướng cao hơn.
Như vậy, đáng khen thay tinh thần chịu đựng của những ông chồng ở Mỹ, chịu đựng cao hơn những bà vợ, khi bình tâm chấp nhận ở nhà; đồng thời cũng cần ghi nhận những bà vợ “trụ cột” trong gia đình không có thái độ gia trưởng. Không những thế, thời gian bỡ ngỡ ban đầu khi hoán chuyển công việc thật là dễ thương. Nữ giáo sư Linda Duxbury, tại trường kinh doanh Sprott tại Đại học Carleton, nhớ lại thời kỳ bà đi làm, còn chồng chấp nhận ở nhà. “Chồng tôi mặc áo quần cho con gái đi học, và tôi nói, ‘Trời ơi, con gái giống như hề’’’, Chồng tôi trả lời vui vẻ: “Đó chỉ là sự bứt rứt của bà. Con nó thích thú lắm đấy. Nếu bà không thích sự lựa chọn của tôi, thì bà làm đi’”.
Đời sống gia đình của hai vợ chồng giáo sư ở trên trở thành bình thường ở Mỹ, và cũng có thể sẽ trở thành bình thường ở nước ta, nhất là ở các thành phố lớn. Dầu sao, người đàn ông cũng phải vượt qua trở ngại về tâm lý, là vấn đề tế nhị trong quan hệ vợ chồng. Đó là mặc cảm, hận đời, rồi nghi ngờ những quan hệ xã hội của người bạn đời của mình,… Nếu người vợ đoan chính, hết mực thương yêu gia đình, khéo léo cư xử với chồng thì mọi chuyện mới ổn thỏa, còn không thì… Nhưng rồi xã hội biến chuyển nhanh, thị trường lao động ngày nay vừa rộng mở, vừa bấp bênh; rộng mở vì người trẻ không chỉ có một con đường là biên chế làm suốt đời và thăng tiến trong bộ máy nhà nước và thành phần kinh tế quốc doanh, mà có thể làm việc rất năng động trong các cơ quan, công ty, cơ sở ngoài nhà nước; nhưng bấp bênh vì theo quy luật cạnh tranh, theo nhu cầu thị trường cũng như khả năng đáp ứng của người lao động, mà chuyện mất việc có thể xảy ra, cũng như khó tìm được việc ở nơi khác; vì vậy phải chấp nhận hoàn cảnh xảy ra có tính nhất thời .
Một phát hiện lý thú của bài báo là: trong xã hội Mỹ, vợ đi làm, chồng nội trợ, mà vợ chồng hạnh phúc; còn chồng đi làm, vợ ở nhà thì có nguy cơ ly tan. Căn cứ của phát hiện đó là số vụ ly dị, một căn cứ có giá trị thực tế ở Mỹ. Ở nước ta thì không thể căn cứ như vậy. Xã hội ta, dầu sao vẫn chưa đậm chủ nghĩa cá nhân như ở phương Tây, cho nên chuyện xung khắc vợ chồng không dễ đi đến ly dị, vì cả hai còn nghĩ đến hạnh phúc con cái, vả chăng phía sau hai vợ chồng, còn có hai gia đình hai bên, và thường thường lời khuyên là: “Chín bỏ làm mười”, “Một sự nhịn là chín sự lành”… Chuyện hạnh phúc trong điều kiện “vợ đi làm, chồng ở nhà” chỉ là chuyện ở Mỹ. Ở ta, hạnh phúc hay không là tùy từng nhà. Còn chuyện chồng đi làm,vợ ở nhà, thì người vợ cũng không vui, nhưng không có căn cứ để tin rằng vợ chồng có nguy cơ ly tan. Hoàn cảnh khó khăn chính là thử thách của hai người. Hạnh phúc vốn có không mất đi nếu cả hai là con của Phật, để biết ngăn ngọn gió chướng vào nhà: Khi gặp hoàn cảnh không được như ý thì không khởi tâm bi lụy, chán nản.
Từ chỗ trọng nam khinh nữ, từ chỗ người đàn ông trong gia đình luôn luôn là gia trưởng, đến nay, đàn ông đã bớt gia trưởng hơn, trong khi phụ nữ càng cương nghị hơn. Nhưng không ai muốn vượt ra ngoài giới tính. Chức năng căn bản của mỗi người trong hai vợ chồng được quy định bởi giới tính, không chỉ ở loài người mà ở cả động vật. Việc sinh con, nuôi con, xây dựng tổ ấm không thể ra ngoài những đặc điểm của giới tính. Âm dương là hai thực thể đối lập nhau, bù trừ cho nhau, có thế mới gắn bó nhau, mới cần đến nhau. Trong xây dựng gia đình, có những việc chung mà cả hai vợ chồng cùng san sẻ, có những việc riêng theo giới tính, nói cho cùng thì tất cả khẩu hiệu chỉ là vỏ khô cứng, nếu không thuận vợ thuận chồng. 

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

CÁI TÔI VÀ MINH TRIẾT VỀ "CÁI TÔI"


Ngạn ngữ Tây phương nói: “ Cái Tôi là cái đáng ghét” ( Le moi est haissable). Mặc dù là một câu nói được nhiều người biết, nhưng đó mới chỉ là nhận xét hời hợt về cái gọi là Cái Tôi.
Đối với ngươi Đông phương, từ mấy ngàn năm nay, Cái Tôi được các nhà hiền triết Ấn Độ, Trung Hoa khám phá và theo dõi rất kỹ lưỡng và sâu sắc; đến nỗi họ mới lập nên một nền triết học về Bản Ngã, về Cái Tôi của con người; với chủ trương: muốn hạnh phúc thì phải giải thoát bản thân khỏi những ràng buộc của Cái Tôi, hoặc chuyển hóa “Cái Tôi Rác Rưỡi” trở thành Cái Tôi thanh khiết, chân thiện. Đặc biệt, đạo Phật dạy phải nỗ lực diệt trừ “lòng chấp ngã” và luôn luôn đề cao tinh thần Vô Ngã như là một trong Tam Pháp Ấn.

DIỆT TRỪ CĂN BỆNH CHẤP NGÃ

Một nhà sư trụ trì ngôi chùa nọ thường có những biểu hiện nóng nảy, kẹo bẩn. Nhưng vốn là người từng lập chí tu hành vững chãi, nên sư luôn luôn tự quán xét biết mình mang đại bệnh “chấp ngã” rất nặng và quyết tâm trừ bò cho kỳ được.
Hôm nọ, sư gọi chú tiểu duy nhất trong chùa tới bảo:
- Từ nay thầy nhập thất một thời hạn khoảng 3 năm để tu tập, cốt để diệt trừ cái bệnh Ngã Chấp của thầy. Con chăm sóc ngày 2 bữa cho thầy và ráng chăm nom mọi việc để thầy yên tâm ẩn tu nhé?
Người đệ tử cuối đầu lãnh ý.
Sau 3 năm miệt mài tu tập, hôm nọ sư vô cùng hân hoan mở cánh cửa thất, cười:
- Ta thành công rồi. Sau thời gian tu tập vô cùng miên mật, bây giờ ta đã dứt trừ được cái Ngã Chấp rồi. Bất cứ điều gì xảy ra cũng không còn làm ta động tâm! Con hãy mừng cho thầy!
Chú tiểu bỗng dưng trề môi ra dài thượt:
- Thầy mà trừ đặng Ngã Chấp thì cũng như… con chó mà chê phân người vậy!
Sư đỏ mặt tía tai, vung nắm đấm vào ngay mặt chú tiểu:
- Thằng này hỗn, ta cho mày biết tay!
Chú tiểu hét lớn:
- Con mới thử thách chút thôi, chưa chi mà thây đã nổi cái Ngã lên rồi!
Ngay khi ấy sư ông cũng vừa tỉnh ngộ, nhưng chẳng còn kịp nữa!
Một thiền sư bình luận:
- Chúng ta chớ cười chê vị sư ấy. chỉ tiếc rằng ông ấy chưa hoàn toàn thành công như ý muốn, thật ra tự biết mình Chấp Ngã, và lập phương án tu tập để trừ khử, thì sư cũng xứng đáng là một vị chân tu rồi, nhưng đâu dễ một sáng một chiều mà thanh toán xong cái món Chấp Ngã đã từng đeo theo con người suốt hàng ức triệu kiếp nay?
Quả thật khi chúng ta thấu đạt bệnh căn của mình tức là tự hiểu biết mình. Mà trên thế gian này, có điều chi quan trọng hơn việc Tự Hiểu Mình?

Triết gia Krihnamurti đã nói: “Tự hiểu biết lấy mình, chính là bước đầu của trí tuệ”.Cho nên câu hỏi : “Tôi là ai?” luôn luôn là vấn nạn khẩn cấp và trọng yếu nhất cho những người thao thức tâm linh đang mày mò tìm kiếm một cái gì đó. Cho đến khi họ nhận ra rằng: “Cái Tôi của bạn là Cái Ấy” (Your Self is That, hay theo Phạn ngữ Tat vam asi) thì con đường thong dong dường như đã xuất hiện trước mặt. (Thư Viện Hoa sen)
Hồi còn trẻ tuổi, nghe kể chuyện này chúng tôi bật cười. Sau này, qua bao nhiêu thăng trầm, bản thân tự xét thấy mình còn kém xa ở chỗ không dám đặt ra một chương trình tu luyện bản thân để cải tạo chính mình.
Cho nên bậc anh hùng thứ thiệt chính là kẻ tự nhìn thấy khuyết điểm của mình rồi ra sức tự chuyển hóa, cho đến khi trở thành con người hoàn thiện hơn.

TÔI KHÔNG BIẾT TÔI LÀ AI?

Arthur Schopenhauer (1788-1890) là một nhà triết học người Đức nổ tiếng với tác phẩm: “The World as Will and Representation” (Thế giới như ý chí và biểu hiện). Lý thuyết siêu hình của ông chính là nền tảng cho các tác phẩm về để tài tâm lý học, mỹ học, đạo đức học và chính trị học, những tác phẩm đã để lại tầm ảnh hưởng tới các danh nhân sau này như\; Friedrich Nietzche, Wagner, Ludwig Wittgenstein, Sigmund Freud và nhiều người khác.
Có thể ông ta đã đưa ra nhiều triết thuyết mới mẻ, gây cảm hứng cho nhiều triết gia nổi tiếng, có thể ông ta đã tung lên văn đàn lắm tác phẩm đặc sắc, và khởi đầu cho một sự nghiệp vĩ đại, nhưng trong thân sâu, của lòng mình, ông ta vẫn thắc mắc. Tôi là ai, mà chưa tìm ra đáp án.
Chuyển kể rằng:
Triết gia Arthu Schopenhauer hôm nọ đang bước đi một mình trên hè phố, chím đắm trong suy tư, ngẫu nhiêm đâm sầm vào người khác. Tức giận bời cú hích bất ngờ và cái dáng vẻ hờ hửng rõ ràng của đối phương, người bộ hành này hét lớn”
- “Này ông nghĩ ông là ai chứ?”
Vẫn còn đắm chìm trong suy tư, triết gia nói:
- “Tôi là ai ư?Tôi muốn biết điều ấy biết bao!”
Chẳng có ai biết cả.
Nhận thức được điều này – rằng tôi không biết tôi là ai- thì cuộc hành trình tâm linh bắt đầu.
NGƯƠI LÀ AI?
Trong kho tàng minh triết Tây phương, ta đọc được câu chuyện thế này: Giửa cơn bạo bệnh thập tử nhất sanh, một người phụ nữ bị hôn mê dài ngày. Bà ta thấy mình bị đưa ra trước Thượng đế.
Một tiếng nói vang lên:
- Người là ai?
Người phụ nữ run sợ đáp:
- Thưa con là vợ của…
Tiếng nói ấy bỗng trở nên nghiêm nghị:
- Ta không hỏi ngươi là vợ của ai. Ta chỉ hỏi ngươi là ai mà thôi!
Người phụ nữ đáng thương vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của câu hỏi, bà ta tiếp tục thưa:
- Con hành nghề giáo viên…
Nhưng tiếng nói lại biến thành gay gắt:
- Ta không hỏi ngươi làm nghề gì.Ta chỉ muốn biết ngươi là ai mà thôi!
Nghe đến đây, người phụ nữ liền thưa:
- Con là một tín đồ Hồi giáo..
Tiếng nói tỏ ra gay gắt hơn:
- Ta chẳng hỏi ngươi có đạo hay là không. Ta chỉ hỏi ngươi là ai mà thôi!
Như một nỗ lực cuối cùng, người phụ nữ nhẫn nại:
- Con luôn giúp đỡ những người nghèo thiếu…
- Ta không cần biết người vị tha hay bác ái như thế nào, mà ta chỉ hỏi ngươi là ai!
Trong giây phút tỉnh ngộ, người phụ nữ biết được ý nghĩa cao cả của câu hỏi.
Qua cơn bạo bệnh, bà ta quyết tâm sống để tự trả lời cho bằng được câu hỏi ấy. Vì đó là câu hỏi cần giải đáp nhất.

“CÁI CỦA TÔI” CHẲNG HỀ LIÊN QUAN

Sư Tinh Vân là người sáng lập Trung tâm Phật Quang Sơn, Đài Loan. Một cơ sở Phật giáo tầm cỡ thế giới vào những năm 1950, nay là chỗ tu học, nghiên cứu, chiêm bái, tịnh dưỡng và cả tham quan du lịch cho vô số Phật tử. Cuối đời ngài nhường chức vị tọa chủ cho một môn đồ, còn bàn thân bước rong khắp nơi để tùy duyên giáo hóa chúng sanh.
Một hôm có một nhà điêu khắc phát tâm tạo tượng sư Tinh Văn.
Khi thực hiện xong bức tượng bắng sáp, ông ta thỉnh sư sang xem, sư khen là nhà điêu khắc đã tạc khéo như thật.
Huỳnh Chí Trung nhận xét:
- Diện mạo thì rất giống, nhưng không sống dộng và toát ra thần thái dịu dàng của sư phụ.
Lâm Thanh Huyền bính:
- Giống..nhưng thiếu vẻ trí tuệ linh hoạt
Sư Tinh Vân mỉm cười, lắc đầu::
- Tượng sáp này và ta đâu có liên quan gì!
Đại Chúng liền bật cười
- Đúng là cái nhìn của bậc hiền giả.
Ngay cả bản thân chúng ta còn chưa liên quan gì đến chúng ta, tên tuồi và danh vọng cũng chẳng liên quan gì tớ mình, huống hồ một bức tượng được tạc bằng sáp ư? Nhưng, con người mê muội thì luôn luôn đồng hóa bản thân với bất kỳ sự vật nào ở bên ngoài, cho nên y thường tự chuốc lấy vô số khổ đau, trói buộc. Ngay cả những cái bên trong Ta cũng chỉ là thứ không có thật, nói chi tới cái bên ngoài.

VẪN LÀ CÂU HỎI: TÔI LÀ AI?

Trong Áo Nghiã Thư (Upanishads), một bộ luận thư nổi tiếng của Ấn Độ, có thuật một chuyện ngụ ngôn như sau:
Chàng thanh niên Svetketu về thăm gia đình với niềm tự hào lớn lao bởi vì chàng ta vừa đổ đầu kỳ thi tốt nghiệp, và người cha đã nhìn thấy Sveketu tiến vào gần ngạch cửa.
Người cha chặn lại:
- Con chớ nên vào nhà vội. Cha biết con đã thu nhập tất cả kiến thức trên thế gian này. Nhưng con có thể trả lời câu hỏi quan trọng nhất của kiếp người “TÔI LÀ AI?” hay không?
Svetketu thưa rằng:
- Thưa cha, đó không phải là chương trình học của con
Người cha bảo:
- Thế thi con hãy quay trở lại hỏi ngài viện trưởng câu hỏi ấy. Chừng nào con chưa trả lời được câu hỏi nầy, thì con chớ có quay về.
Người cha lật đật quay về bỏ mặc Svetketu đang bối rối, choáng váng “Cha ta nói rất đúng khi mà ta chưa biết mình là ai, thì những kiến thức màu mè mà ta có này sẽ dùng vào việc gì?”
Và anh ta quay trở lui, lập tức xin yết kiến ngài viện trưởng
- Cha con vừa nói rằng tất cả những gì mà nhà trường đã ban cho con đều tuyệt đối vô dụng, phù phiếm. Bây giờ con xin ngài dạy cho con biết "con là ai"
Ngài viện trưởng ngẩm nghĩ rất lâu rồi nói:
- Cha con nói rất phải. Tích lũy tất cả kiến thức thế gian thì đương nhiên là một việc dễ dàng, nhưng để trở thành một người hiểu biết “Tôi là ai?” thì quả là một công việc vô cùng khó khăn, rất khó. Xưa nay hiếm kẻ thực hiện nổi, ta chỉ ngại anh không thể nhẫn nại để thực hiện công việc gian nan khổ nhọc ấy.
Svetketu cương quyết:
- Thưa ngài, dẫu khó khăn đến mấy đi nữa, thì con cũng ráng thực hiện. Nếu không thì con không thể bước vào nhà mình một cách đàng hoàng được.
Ngài viện trưởng miễn cưỡng bảo:
- Con hãy làm theo lời ta như thê này: hãy đem 100 con bò cái này đi vào rừng, và qua việc chăn thả, làm sao cho chúng sinh sôi để phát triển thở thành 1.000 con bê con. Hãy cứ an lòng ở trong rừng sâu hẻo lánh, nơi không một ai bén mảng, cho đến khi đủ số 1000 con, thì hãy trở về với thế giới loài người.
Như tuân theo một mệnh lệnh, Svetketu mang 100 con bò cái vào rừng sâu, nơi chưa hề lưu vết chân của cn người
Y chỉ biết chăm sóc đàn bò. Ăn với bò, ngủ với bò, chơi đùa với bò. Xung quanh y chỉ là một bầu không khí cô tịch và im lặng hoàn toàn.
Bao nhiêu tri thức, đạo lý nhiệm màu và uyên áo mà y được học hỏi trong nhà trường, bây giờ Svetketu dường như đã quên bẵng. Bởi vì loài bò thì dường như không bao giờ biết tới kinh điển, hoặc minh triết, đạo lý nhân sinh. Bò chỉ nhai cỏ, nhai đi nhai lại và thảng hoặc bò lại rống lên vài ba tiếng cho vui, chứ loài bò thì không hề băn khoăn thao thức bất cứ điều gì. Riết rồi Svetketu cũng quen dần.
Rất lâu, cho đến lúc nào đó, Svetketu quên mất bản thân mình. “Quên, quên, quên đã mang trái tim người!”
Hôm nọ, các sinh viên đã thấy từ xa 1000 con bò đang tụ tập đứng chung quanh trường học, và họ vào báo với ngài viện trưởng: “Svetketu đang trở về cùng 1000con bò”.
Quả thật như vậy, Svetketu đã trở về và đứng ở đó giống hệt như một con bò chìm lẫn trong 1000 con bò khác, im lặng.
Và Svetketu không cần nói lấy một lời.
Ánh mắt của Svetketu đã trở nên thuần khiết, nhu nhuyển và không ngừng tỏa sáng. Ngài viện trưởng kinh ngạc, chăm chăm nhìn Svetketu. Svetketu cũng dịu dàng nhìn ngài, không chờ đợi việc gì xảy ra cả.
Nhưng Svetketu vẫn đứng bất động, không nói gì, dường như Svetketu đã quên mất đường về nhà. Ngài viện trường khiến một sinh viên dẫn lối cho anh ta. Svetketu chỉ biết bước đi theo.
Người cha lại trông thấy con mình qua khung cửa sổ, ông ta kinh ngạc:
- Lạy trời, con trai tôi đã thực sự biết mình là ai rồi. Nhưng bản thân tôi cũng chưa biết Tôi là ai, làm sao bây giờ?. Thế là ông ta tất tả chạy ra cửa sau, vừa bảo vợ:
- Con chúng ta đã trở vế và biết mình là ai. Tôi phải trốn đi gấp. và sẽ không bao giờ quay về, nếu chừng nào tôi chưa biết rõ Tôi là ai.

KHÔNG AI CẢ

Descartes, triết gia Pháp lừng danh thế giới với tác phẩm phương pháp luận, đã để lại một danh ngôn thường được nhắc nhỡ trong các giảng đường đại học, hoặc được trích dẫn trên các trang sách của các nhà nghiên cứu, các tiểu luận của các sinh viên: “Je pense donc je suis” Nghĩa là “Tôi tư duy, như vậy tôi hiện hữu”. có một cái tôi thật sự và cũng có sự tư duy thật sự. Cái tôi và tư duy gắn bó keo sơn với nhau, bởi vì không thể tư duy nếu không có cái tôi. Cái tôi chính là cuống rún của vũ trụ là vậy.
Hơn thế nữa, không riêng gì Descartes mà toàn bộ nền triết học Tây phương, đều xây dựng trên một Cái Tôi thường hằng, bất biến. Điều này cũng dễ hiểu, nếu chúng ta nhận ra rằng, hết thảy hoạt cảnh trong vũ trụ này, hết thảy sản phẩm do tâm ý thức con người tạo ra đều bắt đầu từ một cái tôi năng động, thông minh và không chấp nhận sống theo cái đã cũ. Toàn bộ nền văn minh Hy Lạp la-mã đều đặt cơ sở trên cái tôi ấy. Do vậy, suốt 2000 năm văn minh, người Tây phương luôn luôn nương tựa vào một cái tôi có thật, bền vững, và như vậy, họ suy nghĩ, hành động và định hướng cuộc sống trên cái tôi mà họ hết lòng tin vào năng lực gần như tuyệt đối của nó. Hiểu ngược lại cái tôi cũng là đầu mối của tất cả tai họa thảm khốc xảy ra triền miên trên khắp hành tinh, và dường như không có ai có thể ngăn chận nổi.
Nhưng các bậc hiền giả của nền minh triết phương Đông thì dường như không đi theo lối ngõ kia, ngoại trừ Khổng Từ mà chúng ta được biết như là một nhà lập thuyết chính trị, nhà cải cách xã hội, hơn là một triết gia. Mặc dù ngài nỗ lực san định Kinh Dịch một tác phẩm triết học cổ đại có giá trị vượt bậc.
Với cái nhìn “Vạn vật đồng nhất thể”, Lão tử không chấp nhận một cái Tôi của mình đứng tách riêng ra khỏi Cái Tôi bát ngát bao la vô hạn của vũ trụ. Ngài chủ trương con người muốn hạnh phúc thì nên quên cái tôi của mình (Vọng ngã) để hòa nhập với cái tôi lớn lao hơn, cao rộng hơn, tạm gọi là “Thái Cực”, “Vạn Vật chi mẫu”, “Vô vị chân nhân”, “Hỗn Độn”, “Cốc Thần”…
Người Ấn Độ thì tiến xa hơn với sự góp sức của công phu thiền định như là một đặc chất của nên văn hóa tâm linh mà trên thế giới không có một xứ sở nào được như vậy- suốt 7 ngàn năm lịch sử, họ bỏ ra nhiều thiên niên kỷ để quan sát Cái Tôi theo nhiều góc độ, dạng thức khác nhau, cuối cùng họ tuyên bố: Cái Tôi là cái không thật có.
Cuộc sống con người chỉ là những chuỗi nghiệp chướng nối tiếp nhau mà không có một cái chủ thể gọi là Cái Tôi. Có hành động nhưng không có người tạo tác. Có tác nhân nhưng không có kẻ chịu quả báo. Có vô số diễn tiến của cuộc sống nhưng không có cái tôi, tương tự như chúng ta đi trên một máy bay gọi là Cuộc Sống, nhưng không có Phi Công hoặc không có Phi hành Đoàn. Đối với những người duy lý thì câu trả lời này có vẻ mâu thuẫn, nghịch lý không thể chấp nhận.
Khi một người tỏ ra nghi ngờ:
Nếu nói như vậy thì ai là kẻ thọ nhận tất cả những quả báo đã được gây ra trong quá khứ?
Lập tức các đạo sư trả lời:
- Dĩ nhiên, có một số mê lầm, vọng cháp đứng ra nhận chịu những nghiệp quả quá khứ, nhưng đó không phải là Cái Tôi thật. Thật ra, đó chỉ là một thứ Chấp Ngã mà chúng sanh tưởng nhầm rằng là Cái Tôi thật sự.

CON NGƯỜI VĨ ĐẠI NHẤT LÀ KHÔNG AI CẢ.

Một truyện trích từ kinh điển Nikaya của Phật giáo.
Sau khi Thái tử Tất Đạt Đa, có người hầu cận Xa Nặc hộ tống, nửa đêm vượt thành Ca-tỳ-la-vệ để xuất gia. Ngài liền đi từ rừng này đến rừng kia, từ vị đạo sư này đến đạo sư khác. Trước đây Ngài sống trong nhung lụa, nhưng bây giờ Ngài chỉ là một du tăng khất sĩ, bưng bình bát và đi bằng chân không.
Qua bờ sông, dọc theo các con đường lớn nhỏ, bàn chân Trần của Ngài luôn luôn in dấu trên cát hoặc hằn trên nền đất. va ngài cứ tiếp tục đi và bỏ lại phía sau lưng tất cả những dấu chân của mình.
Một lần nọ, một nhà chiêm tinh bỗng gặp Ngài, trong khi Ngài nghĩ mệt dưới bóng cây. Nhìn thấy dấu chân lạ trên bãi cát ướt, ông ta cực kỳ kinh dị, bở vì đây không phải là dấu chân của người bình thường. Đây là dấu chân của một bậc Chuyển Luân Thánh vương, tức là vị hoàng đế vĩ đại hiện đang cai quản toàn bộ thế giới Diêm-phù-đề này. Nhưng nhà chiêm tinh lại càng ngạc nhiên hơn khi một bậc Chuyển –luân-thánh-vương mà lại đi chân đất trên bãi cát nóng vào một buổi trưa oi bức thế này?
Thế là nhà chiêm tinh lần theo dấu chân ấy.
Ông ta thấy dưới tàng cây xum xuê, Thái tử Tất-Đạt-Đa dang nhắm mắt lim dim. Ông ta thưa rằng:
- Tôi đã trông thấy và nghiên cứu dấu chân Ngài. Theo sở học của tôi, đây là dấu chân của vị hoàng đế làm cho chánh pháp ngự trị ở thế gian, cai trị bốn châu thiên hạ, có đầy đủ 32 tướng tốt, được trang bị 7 thứ châu báu, và hiển hiện 4 đức, giàusang không một ai sánh kịp…thế mà hiện nay tôi thấy Ngài chỉ là một kẻ ăn mày không hơn kém!
Tại sao lại xảy ra nghịch lý này?
Vị du tăng khất sĩ mở mắt, mỉm cười dịu dàng bảo:
- Tôi đã được sanh ra là một vị Chuyển luân Thánh vương. Những dấu chân tướng mạo, đường nét…mà ông đã trông thấy, tất cả đều mang quá khứ của tôi. Chỉ đúng về quá khứ mà thôi! Nhưng không bao giờ đúng về tương lai, bở vì tôi đã vứt toàn bộ quá khứ và tương lai vào cái chưa biết.
Nhà chiêm tinh nói:
- Tôi muốn biết Ngài có phải là Chuyển luân Thánh vương trá hình không?
- Không!
- Khuôn mặt Ngài có vẻ bình thản thế! Ngài có phải là Thiên thần hóa hiện ra không?
- Không!
- Nếu không phải là Thiên thần, thì chắc hẳn Ngài thuộc về một thế giới tối cao của Con người?
Và Thái tử Tất-Đạt-đa cười mỉm:
- Không ! Ta là Không Ai Cả. Ta không thuộc bất kỳ hình dạng nào, bất kỳ tên tuổi nào!
Nhà chiêm tinh vô cùng bỡ ngỡ:
- Ngài muốn nói điều gì?
Thái tử Tất-Đạt-Đa nhìn ra mênh mông:
- Và con người cao thượng nhất là Không Ai Cả.
Thật vậy, chẳng riêng gì Thái tử Tất-Đạt-Đa, mà toàn thể chúng sanh tất cả mọi người, đều mang đặc chất tâm linh Không Ai Cả. Nhưng chỉ vì vô minh, vọng kiến mà chúng ta vẫn tưởng rằng, mình có một Cái Tôi làm chủ tế cho mọi sinh hoạt đời thường của mình.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 114 | NGUYỄN XUÂN CHIẾN

“Hơi thở của quỷ” đe dọa các "đệ tử" lẩu chay

Những ngày gần đây người dân tại Lâm Đồng tỏ ra vô cùng hoảng hốt hốt trước việc bốn tăng ni, phật tử tại tịnh xá Kỳ Quang (xã Hiệp An, huyện Đức Trọng) phải nhập viện trong tình trạng hết sức nguy kịch vì nghi vấn nhiễm độc loài cây được gọi là "Hơi thở của quỷ".
Ăn chưa dứt miệng đã nói lảm nhảm

Sự việc xảy ra tại Tịnh xá Kỳ Quangvào ngày 9/10 vừa qua. Theo đó, vào trưa cùng ngày, các tăng ni, phật tử trong tịnh xá Kỳ Quang tổ chức ăn lẩu chay, trong quá trình chuẩn bị bữa ăn, nhìn thấy cây dạng cây hoa loa kèn trồng trước cổng tịnh xá trổ bông vàng óng, trông rất bắt mắt, nên mọi người đã ra hái hơn 20 bông đem về rửa sạch rồi nhúng vào nổi lẩu cùng ăn.
Trong bữa ăn hôm đó có tất cả 6 người, nhưng chỉ có 4 người gồm nhà sư Lê Công Diễn (SN 1950), nhà sư Nguyễn Thành Công (SN 1991), phật tử Nguyễn Thành Phát (SN 1994) và phật tử Lê Văn Tây (SN 1950) mạnh dạn dám dùng thử, hai người còn lại thấy "hoa lạ" nên không ăn.
Thấy "hoa lạ" nhúng lẩu không những lạ miệng mà lại rất ngon nên 4 người đã ăn hết hơn 10 bông “hoa loa kèn”. Chỉ sau khi ăn được khoảng 10 phút, bốn tăng ni, phật tử bắt đầu loạng choạng và xuất hiện những triệu chứng mơ màng hoang tưởng.
Họ đứng lên, ngồi xuống một cách bất thường, nói năng lảm nhảm, không thể kiểm soát được các hành vi của mình. Hành động lạ của bốn người khiến các tăng ni, phật tử khác trong Tịnh xá Kỳ Quang hết sức hoảng sợ. 
Ngay lập tức những người “lỡ miệng” được đưa tới Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng cấp cứu, nhưng vẫn không có kết quả khả quan, mức độ ảo giác ngày càng trầm trọng hơn. Bốn người sau đó được chuyển lên Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng trong tình trạng hết sức nguy kịch.
Bác sĩ Phan Thạch Khuê, Phó Trưởng khoa Hồi sức tích cực – Chống độc cho biết, bốn bệnh nhân trên được chuyển tới Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng vào khoảng 18h30 ngày 9/10 trong tình trạng hết sức nguy kịch. Khi nhập viện, tất cả đều trong tình trạng không kiểm soát được hành vi, la hét, nói năng lảm nhảm, khó tiểu, nhịp tim nhanh... do trúng một loại độc dược có khả năng gây ảo giác mạnh.



Một bệnh nhân bị ngộ độc hoa loa kèn
Trên khuôn mặt nhợt nhạt, vẫn chưa hết bàng hoàng, bệnh nhân Lê Công Diễn cho biết: "Ngay sau khi ăn xong bữa lẩu được ít phút, tôi cảm thấy mệt, khó thở, không tự chủ được và có cảm giác như đang bay bổng giữa không trung, đầu óc lâng lâng khó tả, nhưng sau đó thì không còn nhận biết được gì nữa".
“Trước đó tôi có ngắt cánh hoa nhai thử và thấy hơi ngăm ngăm đắng, nghĩ ăn được nên tôi mới hái làm thức ăn, thật tình tôi chỉ ăn vài bông cho vui, không ngờ lại trúng độc nặng đến vậy”, nhà sư Nguyễn Thành Công nói.
Từng có trường hợp chỉ ngửi “hoa lạ” cũng dính độc
Theo nhận định ban đầu của bác sỹ Phan Thạch Khuê, bốn tăng ni, phật tử có khả năng đã trúng phải một loại độc dược có trong “hoa loa kèn”.
Cách đây 2 năm bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng cũng đã cấp cứu một bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mê sảng, ảo giác, không kiểm soát được hành vi. Trường hợp đó không ăn “hoa loa kèn”, mà chỉ thấy hoa đẹp nên ngửi. Do chỉ ngửi nên trúng độc nhẹ hơn bốn bệnh nhân lần này.
Đây không phải là các giống loa kèn đang trồng kinh tế trong các nhà vườn, mà là loại hoa loa kèn dại được mọc tự nhiên, nay trồng nhiều ở các tuyến đường trung tâm thành phố Đà Lạt.
Theo quan sát của phóng viên, loại hoa này được trồng khá nhiều tại vườn hoa Đà Lạt, dọc đường Trần Quốc Toản và phía sân golf Đà Lạt. Chủ yếu là Hoa loa kèn có màu vàng và trắng, cây hoa màu trắng có chiều cao khoảng 2 mét, cây hoa màu vàng thấp hơn, chiều cao từ 1 mét trở xuống.
Theo ông Lương Văn Dũng, Phó Trưởng khoa Sinh học, Đại học Đà Lạt, loại hoa loa kèn hiện đang được trồng phổ biến trên địa bàn TP. Đà Lạt và vùng phụ cận có đặc điểm rất giống với cây Borrachero (còn có tên gọi là “hơi thở của quỷ”) một loại cây dại mọc phổ biến ở Colombia, nhưng chưa thể khẳng định chúng là một.
“Hai cây có hình thức rất giống nhau nhưng vẫn chưa thể khẳng định được hợp chất trong cây hoa loa kèn ở Đà Lạt và cây Borrachero ở Colombia có tương đồng hay không. Bởi cùng một loài cây, ở hai môi trường tự nhiên khác nhau thì “chất” của chúng có thể sẽ khác nhau”, ông Dũng thận trọng nhận định.
Ở Colombia giới tội phạm đã dùng loại hoa được gọi là “hơi thở của quỷ” để chế ra một loại "độc dược đáng sợ nhất thế giới”.
Sự thật khủng khiếp về cây Borrachero bước đầu được hé lộ qua một cuốn phim tư liệu đã được nhiều hãng tin lớn trên thế giới như Reuters, CNN công bố vào năm 2012. Cuốn phim tiết lộ về loại thuốc thường dùng để xóa trí nhớ và làm mất ý thức tạm thời của nạn nhân được chiết xuất từ cây Borrachero.
Loại thuốc này có tên gọi là Scopolamine, được bào chế từ cây Borrachero hay còn gọi là “hơi thở của quỷ”, mọc phổ biến ở Bogota, Colombia.
Thứ dược liệu vô cùng nguy hiểm này không màu, không mùi và không vị nhưng lại có khả năng tạo ra “những giấc mơ kỳ lạ” cho con người khi hít phải. Người hít phải loại thuốc này có thể gây ra tình trạng hoang tưởng, ảo giác rất mạnh.

Theo: baophapluat.vn

NHỮNG BÀI HỌC TỪ SỰ CHẾT

Hôm nay, tất cả các bạn họp trong giảng đường này để hồi hướng công đức đến những thân nhân quá vãng, nhưng trước hết chúng ta phải biết sự chết là gì.
Theo nghĩa thông thướng chết là chấm dứt cuộc sống. Và vì cuộc sống, bản thân nó, là giả tạm, nên sự chết cũng vậy. Những ai đã qua đời sống đời sống mới của họ. Sự sống đi liền ngay sau sự chết. Người sống đời sống mới này cuối cùng sẽ gặp cái chết trở lại. Sau khi chết có tái sanh, rồi lại chết, lại tái sanh... cứ như thế tiếp diễn mãi. Đó là điều mà chúng ta gọi là vòng tái sinh (Samsarā) sinh, sinh, tử, tử... vô cùng vô tận.

 Sự chết không phải là một điều lạ lùng bởi vì ai cũng phải chết. Nhiều người có thể nghĩ rằng chết là sự chấm dứt rốt ráo của cuộc sống. Lá những người Phật tử, chúng ta không tin như vậy. Đối với chúng ta chết chỉ là một hiện trượng tạm thời.
Khi chúng ta quá thương yêu một người nào đó trong gia đình, thì chúng ta khó có thể chấp nhận việc mất người đó, nhưng hãy nghĩ lại xem, người đó đâu có mất đi vĩnh viễn đối với bạn. Đức Phật dạy rằng: Vì chúng ta sống chung với nhau nhiều lần trong nhiều kiếp sống này, chúng ta sẽ sống chung với nhau trong các kiếp khác. Trong các chuyện Jātaka, ta thấy Đức Phật và các môn đồ của Ngài như Sariputta,  Moggalana, Ananda, Rāhula... đã gặp gỡ nhau nhiều kiếp sống khác nhau. Cái chết của người thế tục thực ra chẳng chấm dứt được gì cả, bởi vậy chúng ta sẽ gặp lại người chết trong kiếp sống tương lai.
Ở Mandalay Miến Điện có xảy ra câu chuyện này.  Một người đàn bà có chồng vừa mới mất. Bà thương tiếc ông chồng vô cùng nên than khóc không dứt. Chư tăng được mời đến làm lễ tại nghĩa trang để hồi hướng phước báu đến người đã chết, nhưng vì bà la khóc quá nên chư tăng không tụng kinh làm lễ được. Trong số các sư đến làm lễ có một trưởng lão tăng, cao hạ, và nổi tiếng trong việc dạy đạo thấy thế nói với bà:
- Bà khóc như thể bà không còn gặp lại ông nữa.
Nghe thế bà chợt ngộ ra và nín khóc. sau đó, chư tăng bắt đầu làm lễ.
Đức Phật dạy rằng trên thế gian này, khó tìm ra người chưa từng là ông bà cha mẹ anh em vợ chồng con cháu của chúng ta.
Điều quan trọng chúng ta cần phải hiểu là phải ứng xử thế nào trước chia ly, sự mất mát lớn lao như vậy. Khi trong gia đình có một người ra đi, trước sự mất mát này tất cả chúng ta đều đau khổ. Chúng ta nên khóc lóc thương tiếc hay nên tự chủ kiểm soát mình, hiểu rõ sự kiện thực tế và suy niệm vê sự chết?  Tôi không thể khuyên bạn và những người trong gia đình không nên thương tiếc, sầu muộn. Khuyên như vậy thì hơi khắc khe và có vẻ thiếu tình cảm quá, chẳng phải lẽ chút nào, bởi vì than khóc, tiếc nuối trước sư ra đi của một người thân yêu là chuyện tự nhiên. Tôi chỉ muốn nhắc nhở các bạn nên làm chủ và kiểm soát sự đau thương, phiền muộn của mình, đừng để sự tiếc thương chế ngự nặng nề khiến nhiều sự tai hại đáng tiếc có thể xảy đến cho bạn. Điều quan trọng là cần nhận ra rằng đây là cơ hội, đây là lúc thích hợp để bạn suy niệm về sự chết và để chấp nhận chúng với sự hiểu biết.  
Có một chuyện tiền thân (Jātaka) nói về sau người đã có thái độ cùng phản ứng tốt đẹp và thích đáng trước cái chết của người thân. Thời bấy giờ, Bồ tát là một nông dân sống với vợ cùng con trai và con gái. Người con trai có vợ và người con dâu cùng sống với gia đình chồng. Trong nhà còn có thêm một người giúp việc.  
Ngày nọ người nông phu cùng con trai nhúm lửa để đốt rác trên rẫy. Chẳng may chỗ nhóm lửa gần một ổ mối và một con rắn độc đang nằm trong đó. Giận dữ vì khói cay, con rắn phóng ra cắn chết người con trai. Người nông phu bình tĩnh đặt xác con trai dưới cội cây, lấy áo đắp xác con rồi tiếp tục làm việc như thường. Thấy người cùng làng đang trên đường về làng, người nông phu nhờ ông ta nhắn với vợ mình:  "Hôm nay chỉ đem một phần cơm thôi. Tất cả mọi người trong gia đình đều phải tắm rửa sạch sẽ và xức dầu thơm, đeo tràng hoa và đi đến đây".
Người vợ hỏi người cùng làng rằng  ai là người nhắn tin này. Người cùng làng cho biết người nhắn tin là người lớn tuổi. Vợ người nông phu hiểu rằng con trai mình đã chết. Tất cả mọi người trong gia đình bình tĩnh làm theo lời nhắn nhủ và chẳng hề tỏ vẻ buồn thương chút nào.
Khi cơm đem đến, người nông phu yên lặng ngồi ăn trong khi đó những người khác trong gia đình đi gom củi để làm giàn hỏa. Họ làm việc trong yên lặng bình thản. Rất thán phục trước thái độ của những người này, và muốn giúp họ nên Trời Đế Thích hiện thành một người đàn ông đến gặp họ:
- Các bạn đang chuẩn bị để đốt cái gì đó?
- Để thiêu một người chết.
 - Không thể là một người chết. Một con nai chết thì đúng hơn, bởi vì tôi thấy các bạn chẳng tỏ vẻ thương tiếc gì cả.
- Không, đúng là một người chết!
- Như vậy người chết phải là kẻ thù của bạn?
- Không, nó là con trai của trôi.
- Như vậy chắc nó không phải là đứa con trai mà bạn yêu thương nhiều?
- Không, tôi rất thương yêu nó.
- Thế tại sao tôi chẳng thấy ông buồn bã chút nào cả?
- Cũng như con rắn lột vỏ bỏ đi, chẳng hề nhìn chiếc vỏ cũ để lại, con tôi bỏ xác thân này để đi đến một cảnh giới khác, chỉ có thế thôi. Khi một người chết đi, xác thân họ chẳng còn biết gì, chẳng cảm giác được sức nóng của ngọn lửa cũng chẳng hay biết sự khóc than của thân nhân. Họ đã đi theo lối đi của họ.
Trời Đế Thích quay sang vợ người nông phu và hỏi cùng câu hỏi. Bà ta trả lời:
- Khi nó đến chẳng ai mời, và khi ra đi, nó cũng chẳng cần hỏi ý kiến chúng tôi có bằng lòng không. Khi một người chết đi, xác thân họ chẳng còn biết gì, chẳng cảm giác được sức nóng của ngọn lửa cũng chẳng hay biết sự khóc than của thân nhân. Họ đã đi theo lối đi của họ.
Trời Đế Thích hỏi người em gái:
- Anh trai là người rất thương yêu của cô. Tại sao anh trai chết mà cô chẳng tỏ chút tiếc thương nào cả?
Cô em gái trả lời:  
- Nếu khóc thương anh trai, tôi sẽ gầy còm, thân nhân và bạn bè tôi sẽ lo lắng buồn khổ vì tôi. Như vậy tôi làm họ càng đau khổ hơn nữa. Khi một người chết đi, xác thân họ chẳng còn biết gì, chẳng cảm giác được sức nóng của ngọn lửa cũng chẳng hay biết sự khóc than của thân nhân. Họ đã đi theo lối đi của họ.
Trời Đế Thích bèn hỏi vợ của người chết, và cô ta trả lời:
- Đau buồn tiếc thương cho người chết chẳng khác nào trẻ con khóc cho mặt trăng, khi tròn khi khuyết;  điều này chẳng ích lợi gì cả vì vậy tôi chẳng khóc thương. Khi một người chết đi, xác thân họ chẳng còn biết gì, chẳng cảm giác được sức nóng của ngọn lửa cũng chẳng hay biết sự khóc than của thân nhân. Họ đã đi theo lối đi của họ.
Trời Đế Thích bèn hỏi người giúp việc:
- Phải chăng người chết là một người chủ không tốt nên khi ông ta chết cô chẳng khóc thương tiếc nuối.
- Không, cậu ta đối xử với tôi rất tử tế. tôi thương cậu ta chẳng khác nào thương con trai của mình.
- Thế sao cô chẳng tỏ vẻ tiếc thương chút nào?
  - Bình đã vỡ thì chẳng thế nào đựng nước được. Không thể nào làm cho người chết sống lại, dầu có phép thần thông đi nữa. Khi một người chết đi, xác thân họ chẳng còn biết gì, chẳng cảm giác được sức nóng của ngọn lửa cũng chẳng hay biết sự khóc than của thân nhân. Họ đã đi theo lối đi của họ.

Đó là bài học chúng ta đã học được qua những câu trả lời của năm người về thái độ của họ trước cái chết của người thân. Những câu trả lời trên rất ý nghĩa và ích lợi cho chúng ta. Khi buồn đau trước sư ra đi của người thân, hãy cố gắng nhớ đến nhuiĩng câu trả lời, và thái độ của những người trong câu chuyện này.
Trời Đế Thích lấy làm hoan hỉ trước trước những câu trả lời của năm người này bèn nói với họ:
- Từ nay trở đi, các bạn không phải làm lụng quá khó nhọc để kiếm ăn hằng ngày nữa. Ta sẽ giúp các bạn đầy đủ của cải để sống hạnh phúc tu hành cho đến hết cuộc đời của các bạn.

Tại sao người nông phu, vị bồ tát tiền thân Phật Thích Ca, rất bình thản trước cái chết của con mình?  
Theo Chú giải thì bồ tát luôn luôn dạy cho những người trong gia đình mình về sự chết, về bản chất của sự chết, về bản chất vô thường, hoại diệt của các sự vật trên thế gian. Chúng ta phải thực hành phương pháp suy niệm về sự chết này. "Suy Niệm Về Sự Chết", một trong "Bốn Điều Bảo Vệ Cho Việc Hành Thiền" là dụng cụ, là phương tiện hữu hiệu để chế ngự việc than khóc trước sự ra đi của người thân. "Suy niệm về sự chết" là một pháp suy niệm hỗ trợ đắc lực cho thiền minh sát. Suy niệm về sự chết giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận sự chết - sự chết của người khác cũng như sự chết của chính chúng ta.
Chuyện tiền thân trên được Đức Phật kể ra để nhắc nhở và dạy dỗ cho một người đàn ông vừa mới mất con. Ông ta âu sầu than khóc mãi đến nỗi chẳng còn làm được việc gì hằng ngày nữa. Từ bài học này chúng ta hãy cố gắng kiểm soát sự lo âu phiền muộn, uất ức than khóc để giảm thiểu chúng. Tôi không bảo bạn đừng ưu sầu, nhưng tôi muốn khuyên các bạn hãy cố gắng giới hạn đừng để ưu sầu vượt quá lãnh vực của nó.
Một số người không thể dễ dàng bình thản trước sự ra đi của người thân, đặc biệt là trường hợp người thân mất đi trong một tai nạn thảm khốc, mất đi trong lúc còn trẻ tuổi. Bạn phiền trách ai bây giờ? Chẳng có ai để bạn phiền trách ngoại trừ cái nghiệp của mình. Chết là định luật chung của mọi người. Đây là một định luật khắc nghiệt, không dành riêng ân huệ cho một người nào. Bạn không thể trả giá hay mặc cả với nghiệp, xin nghiệp cho bạn một đặc ân. Những gì đã làm trong quá khứ, chúng ta sẽ gặt hái kết quả trong hiện tại. Một cách làm giảm thiểu ưu buồn hữu hiệu là hãy suy tưởng như sau: "Người thân ta chết là do nghiệp của họ. Bây giờ ta khóc lóc thương tiếc, sự khóc lóc thương tiếc này có đem lại chút lợi ích nào cho họ không?” Chúng ta ai cũng biết rằng sự uất ức than khóc chẳng đem lại lợi ích chi cho người chết cũng như người còn sống.

Và chúng ta phải làm giờ bây giờ?  Có hai điều cần phải xét đến:
Trước tiên, đối với người chết. Thứ đến, đối với chúng ta. Theo lời dạy của Đức Phật chỉ có một cách duy nhất có thể giúp đỡ người quá vãng là hồi hướng phước báu đến họ. Và trước khi hồi hướng phước báu chúng ta phải làm phước, bởi vì chúng ta chỉ có thể hồi hướng hay chia những gì chúng ta có. Tạo phước báu để hồi hướng đến người đã khuất là bổn phận phải làm, một nghĩa vụ của chúng ta. Người đã khuất luôn luôn trông chờ phước báu hồi hướng của thân nhân và gia đình. Khi chúng ta hồi phướng phước báu đến người quá vãng, người quá vãng sẽ hoan hỉ với phước báu của chúng ta, do đó họ nhận được phước báu. Và khác với trường hợp ở thế gian, phước báu này sẽ trả quả tức khắc đến họ. Trong thế giới của họ, họ hưởng phước báu ngay tức khắc dưới hình thức thực phẩm, áo quần, chỗ ở v.v... Như vậy bổn phận của chúng ta là hãy làm phước và hồi hướng phước báu đến người đã khuất.
Đối với chúng ta, hãy biến hoàn cảnh xấu thành cơ hội tốt. Hãy suy tưởng đến sự chết. Người ấy chết và ta cũng sẽ chết một ngày nào đó, có thể hôm nay, ngày mai, năm năm, hay ba mươi năm nữa. Có ai biết được lúc nào chúng ta sẽ ra đi. Đời người ngắn ngủi làm sao!  Bây giờ chúng ta còn có thì giờ thì hãy tạo những phước báu mà chúng ta có thể làm, bởi vì một ngày nào đó chúng ta sẽ già nua hay bệnh hoạn không còn làm được nữa. Chúng ta phải thực hành Giới, Định, Huệ. Chúng ta phải tạo nhiều phước báu để lúc rời bỏ thân thể này ra đi một cách nhẹ nhàng (dĩ nhiên không phải ra đi như một vị A-la-hán). Chúng ta có thể học cách tạo nên những phước báu tốt đẹp cho kiếp sống sau này.  
Tóm  lại, có hai việc chúng ta cần phải làm trong hiện tại là làm phước và hồi hướng phước báu đến người quá vãng.  
Chúng ta hãy rút ra những bài học tốt đẹp từ hoàn cảnh hiện tại. Chúng ta hãy nỗ lực tinh tấn không nên lười biếng trì hoãn.  

Như vậy, tang lễ trong Phật Giáo được tổ chức nhằm đem lại lợi ích cho người đã khuất và cũng là dịp để cho người còn sống suy niệm về sự chết, suy niệm về sự vô thường.

Tác giả: Khánh Hỷ