Hiển thị các bài đăng có nhãn phim ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phim ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Slideshows: Yêu Thương - Cảnh đẹp đảo hoa Insel Mainau (Đức quốc)





Tình yêu đích thực là vô điều kiên, là cho đi mà không mong cầu đáp trả. Thậm chí khái niệm cho và nhận không tồn tại, chỉ còn sự tương giao một cách trọn vẹn và vô ngã. Tình yêu nam nữ phổ biến hiện nay chỉ là sự trao đổi, mà hàng hóa chính là cảm xúc và cảm giác của hai bên. Khi còn ảo tưởng về cái tôi thì không thể xảy ra tình yêu đích thực, vì thế nào cũng có điều kiện nào đó hiện diện. Tình yêu lúc đó dù bắt đầu có nồng thắm đến đâu, dù cảm xúc có mạnh mẽ đến đâu cũng thật mong manh. Vì chỉ cần xuất hiện yếu tố bên ngoài làm cảm xúc - cảm giác của một bên thay đổi, thế là bão táp phong ba liền ập tới.
Khi ta yêu một người tức là ta yêu luôn cả mặt tốt và mặt xấu của người đó. Xấu và tốt như hai mặt của một bàn tay. Ta không thể chỉ giữ lấy một mặt mà bỏ đi mặt kia. Ta luôn tự vẽ ra cho mình một hình ảnh về người mình yêu hay người chồng/vợ của mình. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của ta, không phải con người thực. Vì vậy ta cần nhẫn nại lắng nghe, quan sát và chia sẻ để có thể hiểu rõ về người bạn đời của mình. Khi thấu hiểu cả mặt tích cực và tiêu cực của người ấy, ta mới có thể yêu thương họ thật sự.
Khi ta thật sự yêu thương một người thì người đó sẽ cảm thấy tự do để được là chính họ. Tình yêu đích thực không ràng buộc đối tượng được yêu mà còn là động lực để cho họ đổi mới chính mình. Khi có biến cố xảy ra thì phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, nhưng họ cũng dễ buông bỏ tư kiến của mình hơn. Nếu cô gái biết chấp nhận chàng trai như anh ấy là, thì sẽ có cơ hội để chàng trai thay đổi thái độ của mình.
Quy luật của cuộc sống là vô thường, kể cả tình yêu đôi lứa. Nếu ta đủ nhẫn nại để quan sát, ta sẽ thấy rõ, vị đắng, vị ngọt của tình yêu. Thấy rõ nó sinh ra và mất đi như thế nào. Và khi hiểu rõ, ta sẽ không còn bám chấp vào hôn nhân nhưng cũng không sợ sệt hôn nhân nữa.
Ta có thể làm giấy kết hôn với người mình không hề yêu, và cũng có thể nhắm mắt ký giấy ly hôn khi mình vẫn còn yêu tha thiết. Hôn nhân hay ly hôn vốn chỉ là hình thức, là một bản hợp đồng mà thôi. Làm sao nó có thể ràng buộc được tâm ta? Quan trọng là khi có biến cố xảy ra, ta cần đối diện với chúng bằng thái độ sáng suốt và trong lành. Vì biến cố đó là như ý hay bất như ý cũng là cơ hội cho ta hiểu thêm về chính mình, về người mình yêu. Và từ đó nhận ra bản chất thật của tình yêu, của cuộc sống.
Đừng tưởng xuất gia đi tu là ta có thể trốn thoát được bài học tình yêu. Với hiểu biết mờ mịt không rõ ràng, bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp vướng mắc tình cảm bất kể ta đang làm gì, ở đâu. Đức Phật có dạy rằng chỉ có thể thoát ly một pháp khi ta đã tường tận mặt tích cực cũng như mặt nguy hại của nó, khi ta nhận biết rõ từ khi nó sinh ra cho đến khi nó mất đi. Nói đúng hơn, lúc đó nó tự thoát ly, chứ không ai làm gì cả.
Hãy nhớ điều quí giá nhất trong cuộc sống chính là sự bất toàn. Vì khi toàn vẹn thì sự sống sẽ kết thúc. Sự bất toàn là một phần của vô thường, một quy luật tất yếu của cuộc sống. Khi ta còn đang sống trong ảo tưởng về bản ngã, về cái tôi và cái của tôi, thì bản ngã luôn cầu toàn, và nỗ lực để được như ý. Nhưng những gì nó nhận được từ cuộc sống đều là bất toàn và bất như ý. Sau những cố gắng và nỗ lực vô vọng, nhờ sự bất toàn ấy mà cuối cùng bản ngã cũng đầu hàng. Ta bắt đầu sống vô ngã vị tha, và tự nhiên ta thấy sự bất toàn lại chính là động lực để phát triển và tiến hóa của vạn vật. Chính vì mọi thứ đều bất toàn mà ai cũng có cơ hội làm mới bản thân mình.
Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra. Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn, và trở về trọn vẹn với những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta muốn hay không. Tất cả những thiện - ác trong đời đều "Bất khả tư nghì", tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà nó được gán cho cái nhãn "thiện" hay "ác". Dù những gì đang xảy ra là thiện hay ác, nó đều là bài học giác ngộ vô cùng quí giá về cuộc sống...

(Trích từ bài nói chuyện của Thầy Viên Minh về đề tài Yêu thương cho Phật tử ngày 13/10/2012)

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Slideshows: Cho đi nào có mất - Cảnh đẹp ở Berlin (Đức Quốc)







Của Trời trả cho Đất 
Bàn tay luôn mở ra 
Cho đi nào có mất 
Mất vì giữ cho ta!
(Thiền Sư Viên minh)

Đôi khi chúng ta cảm thấy cuộc đời này thật bất công! Chúng ta đã cho đi quá nhiều mà không nhận lại được bao nhiêu... Thật ra không có sự bất công nào đối với chúng ta ở đây hết,
Cuộc đời này là một vòng tròn, có chăng sự là nhận lại từ người khác chỉ là đến sớm hay muộn với chúng ta mà thôi và cái quan trọng là chúng ta có mở rộng lòng mình để nhận nó hay không!
Thực ra, Khi chúng ta cho đi là chúng ta đã nhận được nhiều hơn thế, đó là những niềm vui vô hình mà chúng ta không chạm vào được.
Tất cả chúng ta sinh ra và tồn tại trên đời này đều mắc nợ nhau. Cho đi, nhận lại là hình thức luân phiên để trả nợ lẫn nhau.
Khi chúng ta cho đi những điều tốt đẹp thì bạn sẽ nhận được sự bình yên trong tâm hồn...
"Cho” không có nghĩa là khi chúng ta có đầy đủ về vật chất mới có thể giúp đỡ người khác, mà chỉ cần một lời hỏi han, một lời động viên đúng lúc giúp người khác trong lúc túng quẫn, xa cơ lỡ vận để có thêm sức mạnh, niềm tin và nghị lực sống.
Chúng ta
 biết lắng nghe ai đó chia sẻ những khó khăn hay muộn phiền nào đó, chính là chúng ta làm phương tiện để giúp người ấy quay nhìn lại chính họ ...v...v...
Cho đi là chúng ta đã tự yêu thương lấy chính bản thân mình. chúng ta đã hòa vào dòng chảy của cuộc sống, của đời người.
Đời người như dòng sông, như cuộc sống hoà tan với thời gian, luôn trôi đi nhưng không ngừng đổi mới, mãi biến chuyển nhưng muôn đời vẫn thế.
Tất cả dòng sông rồi sẽ đi về biển, từ biển bao la sẽ rót vào những dòng sông mênh mông tràn đầy, mạch luân lưu không ngơi nghỉ ấy là cuộc sống. Sẽ không bao giờ có cái chết vì nơi tận cùng cũng là khởi thủy cho những mầm sống mới ...

Có câu chuyện cho và nhận rất hay:

Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kì cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát.
Đi mãi đi mãi, đến khi đôi chân của ông đã sưng lên nhức nhối, ông thấy 1 căn lều: cũ, rách nát, không cửa sổ.
Ông nhìn quanh căn lều và thấy ở 1 góc tối, có 1 cái máy bơm nước cũ và rỉ sét. Tất cả trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm nước, người đàn ông vội vã bước tới, vịn chặt vào tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có 1 giọt nước nào chảy ra cả.
Thất vọng, người đàn ông lại nhìn quanh căn lều. Lúc này, ông mới để ý thấy 1 cái bình nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên bình, ông đọc được dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng cách lấy viên đá cào lên: “Hãy đổ hết nuớc trong bình này vào cái máy bơm. Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy lại vào chiếc bình này”.
Người đàn ông bật cái nắp bình ra, và đúng thật, trong bình đầy nước mát. Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào 1 tình thế bấp bênh. Nếu ông uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn ông có thể sống sót. Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái bơm cũ gỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất – rất nhiều nước.
Ông cân nhắc khả năng của cả hai sự lựa chọn: nên mạo hiểm rót nườc vào máy bơm để có nguồn nước trong lành hay uống nước trong cái bình cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đã ở đó bao lâu rồi và không biết có còn chính xác nữa không…
Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước váo cái máy bơm. Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần của máy bơm, một lần, hai lần ….chẳng có gì xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không còn một nguồn hy vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên trì bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa …. nước mát và trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Người đàn ông vội vã hứng nước vào bình và uống.
Rồi ông hứng đầy bình, dành cho người nào đó có thể không may mắn bị lạc đưòng như ông và sẽ đến đây. Ông đậy nắp bình, rồi viết thêm 1 câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình: “Hãy làm theo chỉ dẫn. Bạn phải cho trước khi bạn có thể nhận.” 

Khi làm xong ông cm thy tâm hn tht an vui hnh phúc..."

Mọi thứ trong cuộc đời đều có giá của nó. Khi chú
ng ta cho đi là chúng ta tạo được những điều kỳ diệu của cuộc sống. 

(ST)

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Bàn về tư tưởng Phật giáo trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Phật giáo cho đến nay vẫn có một sức sống mạnh mẽ ở nhiều quốc gia và dân tộc. Ở Trung Quốc, việc lưu truyền sớm và phát triển liên tục đã tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo đối với nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc, trong đó có văn học – nghệ thuật.
Do vậy, thử nhìn sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiểu thuyết võ hiệp, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, một trào lưu văn học đã tạo nên cơn sốt vào những năm 60-70 của thế kỷ trước chắc chắn sẽ cho người đọc nhiều bất ngờ.
Ai cũng biết rằng, Phật giáo không chỉ có một địa vị quan trọng trong các tôn giáo trên thế giới mà nó còn cấu thành nên một bộ phận hữu cơ của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo truyền sang Trung Quốc từ Lưỡng Hán, dung hợp với nền văn hóa Trung Nguyên dần dần đã hình thành nên một tôn giáo mang nhiều đặc sắc Trung Quốc.
Do quá trình hình thành lâu dài, tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc. Trong đó, sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến văn học cũng rất lâu dài và to lớn.
Không chỉ rất nhiều những giáo nghị, kinh điển, kinh văn,… (vốn được coi là những hình thức khác nhau của văn văn học) mà đơn giản như một câu chuyện ngụ ngôn của Phật giáo, những tác phẩm văn học mang triết lý Phật giáo (như Tây du ký hay Hồng lâu mộng) đều là những tác phẩm mang màu sắc Phật giáo rất phổ biến trong lịch sử văn học Trung Quốc. Chúng đều có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, tư tưởng cũng như cuộc sống của con người Trung Quốc.
Bên cạnh đó, văn hóa hiệp nghĩa trong các tiểu thuyết võ hiệp của Trung Quốc cũng là một lưu phái rất quan trọng. Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX đã đạt tới đỉnh cao mới. Trong đó, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã tạo nên ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong mà cả ngoài nước.
Do đó thử nhìn những ảnh hưởng của Phật giáo trong tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc nói chung và tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung nói riêng chắc chắn sẽ cho chúng ta những khám phá thú vị.
Trung Quốc và truyền thống tiểu thuyết võ hiệp
Là loại nhân vật có giá trị đặc biệt trong xã hội Trung Quốc cổ đại, hiệp khách, ngay từ thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã hoạt động rất mạnh. Tới đời Tống, một trong tứ đại kỳ thư - Thủy Hử - là tác phẩm khơi dòng cho tiểu thuyết anh hùng truyền kỳ, đồng thời cũng đã đặt nền móng cho nghệ thuật tư tưởng và quy mô sáng tác của tiểu thuyết võ hiệp thời Minh Thanh.
Thời Minh Thanh, tiểu thuyết võ hiệp thịnh hành chưa từng có, đánh dấu sự trưởng thành của một loại sáng tác cận văn học (hay còn gọi là văn học thông tục). Trong thời gian đó những Nữ nhi anh hùng truyện, Hiệp nghĩa phong nguyệt truyện, Tế Công truyện… đều được lưu truyền rộng rãi. Bản thân thể loại tiểu thuyết võ hiệp cũng xuất hiện nhiều biến hóa khác nhau.
Việc phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc được nhiều người giải thích là do nguyên nhân tâm lý:
“Người Trung Quốc rất có thiện cảm với tinh thần hiệp nghĩa của văn hóa dân gian. Đồng thời, tiếp nhận những thể nghiệm tâm lý của sự tự do tự tại của hiệp khách Trung Quốc giúp họ bù lấp về mặt tình thần nhu cầu tự do của mình.
Do tinh thần võ hiệp chính là một loại “vô thức tập thể” của người Trung Quốc nên không chỉ gợi dậy tâm lý phục cổ đối với tính quả cảm của dân tộc Trung Quốc mà còn giúp cho người tiếp nhận đạt được đến cảm giác siêu thoát của tự do. Đây chính là cơ sở tâm lý khiến cho tinh thần hiệp nghĩa luôn có ảnh hưởng sâu sắc không hề suy giảm trong tầng sâu tâm lý của người Trung Quốc”.
Tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc tuy nói là hình thành từ thời cổ đại nhưng thực chất chỉ hưng thịnh khoảng 200 năm trở lại đây. Cuối đời Thanh, xuất hiện Tam hiệp ngũ nghĩa cho đến Nhi nữ anh hùng truyện… là những đỉnh cao của tiểu thuyết võ hiệp thời cận đại. Sau thời Dân quốc, Bình giang bất tiêu sinh, Hoàn Châu lầu chủ, Vương Độ Lư,… là những tên tuổi tạo nên đỉnh cao thứ hai của tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc.
Thời đại thứ 3 là những người sáng tác vào những năm 50 của thế kỷ trước bao gồm những tên tuổi như Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long… Các tác giả này gây nên những cơn sốt thực sự trong công chúng. Ảnh hưởng của họ vượt ra khỏi phạm vi Trung Quốc sang cả Đông Nam Á, thậm chí là Âu Mỹ. Trong đó Kim Dung được coi là bậc “võ lâm minh chủ” của những tác giả võ hiệp.
Ông không chỉ là niềm mong đợi của các tác giả võ hiệp thế hệ thứ 3 mà điểm mặt toàn thể sự phát triển của tiểu thuyết võ hiệp, không thể tìm được người thứ 2 thành công như ông.

Phật giáo và tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa

Phật giáo trong văn hóa Trung Quốc không chỉ là một tôn giáo đơn thuần mà là một triết học. Trong văn hóa tinh thần Trung Quốc, nó tạo thành một bộ phận cực kỳ trọng yếu, là một viên ngọc quý trong di sản văn hóa của người Trung Hoa. Phật giáo không chỉ là tinh túy, là nguồn mạch trọng yếu được kế thừa từ đời này qua đời khác trong đời sống tinh thần của các văn nhân học giả mà còn là yếu tố quan trọng trong đời sống tinh thần của dân gian.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ, ra đời như một trào lưu chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp rất hà khắc khi đó. Nhưng sau đó, nhờ tư tưởng bình đẳng của nó, Phật giáo đã nhanh chóng tìm được sự phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Ấn Độ mà rất nhiều nước ở châu Á khác. Đời Lưỡng Hán, Phật giáo được truyền vào Trung Quốc.
Sau đó, nhanh chóng kết hợp với tư tưởng bản địa sản sinh ra Thiền Tông, Thiên Đài Tông, Hoa Nghiêm Tông, Pháp Tướng Tông, Tĩnh Thổ Tông, Luật Tông, Mật Tông, Tam Luân Tông bao gồm 8 tông phái lớn.
Chính vì Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với người Trung Quốc nên “duyên phận” của tôn giáo này với văn học là chuyện không thể nghi ngờ. Ngoài việc dùng lời trong kinh Phật, hay Phật kệ là những thể loại văn học Phật giáo thì từ xưa tới nay những tác phẩm mang màu sắc Phật giáo, thể hiện tư tưởng Phật giáo là không ít.
Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung rất phong phú, bao gồm những vấn đề của văn hóa truyền thống Trung Hoa trong đó có không ít những tư tưởng tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ, thậm chí có thể nói là tôn giáo có ảnh hưởng khá lớn đến tư duy tự sự tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung.
Tuy nhiên, không phải Kim Dung biến tiểu thuyết thành những cuốn lý luận Phật giáo mà chỉ mang được tư tưởng với bộ phận lý luận Phật giáo. Do đó chỉ có thể nói đến màu sắc Phật giáo trong tiểu thuyết của Kim Dung mà thôi.
Ảnh hưởng của Phật giáo đến tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung – những biểu hiện tổng thể
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiểu thuyết Kim Dung thể hiện ở nhiều cấp độ: Cấp độ thứ nhất thể hiện ở việc ông trích dẫn hoặc sử dụng rất nhiều khái niệm bắt nguồn từ sách kinh Phật trong tác phẩm của mình. Thứ hai là tiểu thuyết của ông thể hiện tư tưởng mang màu sắc Phật giáo.
Trong tiểu thuyết của Kim Dung xuất hiện tên rất nhiều bộ kinh Phật, chẳng hạn như Đại Khánh Nghiêm luận kinh trong Anh hùng xạ điêu, Phật thuyết mẫu lộc kinh trong Thần điêu đại hiệp, Kim cương kinh trong Ỷ thiên đồ long ký, Diệu pháp liên hoa kinh trong Tiếu ngạo giang hồ…
Ngoài ra, rất nhiều chiêu thức võ công trong tiểu thuyết của Kim Dung bắt nguồn từ kinh Phật. Chẳng hạn như: Bát trận bát quái chưởng, Đại cửu thiên thủ, Kim cương chưởng, Giáng long thập bát chưởng, Cửu âm bạch cốt trảo, Niêm hoa chỉ, Vô tướng kiếp chỉ, Tịch diệt trảo, Bát nhã kim cương chưởng, Đạt ma kiếm pháp, Đại từ đại bi thiên diệp thủ, Tiểu vô tướng công, Thiếu lâm cầm nã thập bát đả, Kim cương phục ma công,…
Từ đó có thể phân chia làm 4 loại chính: Một loại liên quan đến các khái niệm triết học của tôn giáo như huyền, nguyên, khí, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, càn khôn, ngũ hành, thất thương, vô tướng, vô vọng, từ bi, tịch diệt, bát nhã,…
Một loại khác liên quan đến kiến trúc, địa danh, tổ chức lưu phái của tôn giáo chẳng hạn như: Thiếu lâm, Võ đang, Hoa sơn, Thiên trúc,… Một loại nữa liên quan đến các nhân vật tôn giáo như Phật, Như Lai, Thích Ca, Đạt Ma. Loại cuối cùng liên quan đến tư tưởng triết học tôn giáo như Tam độc, Nghiệp chướng, Danh tướng, Nhân quả,…
Ngoài ra, tư tưởng Phật giáo tồn tại khắp trong các chi tiết của tiểu thuyết Kim Dung. Chẳng hạn như trong Thiên long bát bộ, nhân vật Hư Trúc khi uống nước vẫn đọc kinh Phật: “Phật nhìn một bát nước, 8 vạn 4 ngàn con vi trùng. Nếu không giữ lời chú này, thì không khác gì ăn thịt chúng sinh”.
Hay như trong Tuyết sơn phi hồ, Liên Hồ Phỉ đối với tình yêu của Viên Tử Y cũng dùng khái niệm của Phật giáo để kết luận: “Toàn bộ chuyện ân ái thường không tồn tại lâu dài. Trên đời có nhiều điều phải sợ sệt, mệnh nguy cũng đã sớm lộ ra rồi. Vì tình mà sinh ưu sầu, vì tình mà sinh sợ hãi. Không bằng bỏ ái tình, không lo cũng không sợ”.
Phật giáo cho rằng, cuộc đời con người sinh ra đã là nghiệp, do vậy phải chịu nhiều nỗi phiền muộn, nhưng cơ bản có thể phân chia làm 3 loại là tham, sân và si.Đó là ba thứ gốc rễ gây nên phiền muộn của con người, khiến con người không được giải thoát, nên gọi là tam độc, cũng gọi là tam cấu (ba thứ dơ bẩn) hay tam hỏa.
Tham bắt nguồn từ cách dịch ý của từ Raga trong tiếng Phạn. Chỉ tham lam, ham muốn. “Tham lam tài vật thì gọi là tham”. Bao gồm loại người tham lam quyền lực, tiền bạc, danh tiếng, địa vị, tình nghĩa, nghệ thuật,… Nói cách khác là loại người muốn hưởng lạc và chiếm hữu.
Sân bắt nguồn từ ý của từ Pratigha trong tiếng Phạn. Chỉ tâm lý thù hận hay muốn làm tổn hại người khác. Trong Đại thừa ngũ uẩn luận nói: “Thế nào gọi là sân? Đó là lấy việc làm tổn hại người khác làm vui”. Sân bao gồm những loại người mang tâm lý thù hằn, đố kỵ, báo thù hay muốn làm hại người khác.
Si cũng bắt nguồn từ chữ Phạn là Moha hoặc Mudha. Tức là sự ngu muội vô tri, không biết việc gì. Cũng gọi là vô minh (bắt nguồn từ Avidya trong tiếng Phạn), cũng có gọi là hoặc (nghi hoặc) hay ngu hoặc.
Theo cách nhìn của Phật giáo thì chính vì sự tham dục này mới sản sinh ra sản phẩm văn minh xã hội (gồm vật chất và tinh thần). Vì thế, Phật giáo cho rằng văn minh xã hội là không thuần khiết, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội ác. Do đó, việc con người theo đuổi những dục vọng chính là một sự ngu dại. Chính vì vậy, tham, sân, si mới được Phật giáo coi là “tam độc” (ba thứ gây hại).
Trong các tiểu thuyết của Kim Dung chủ yếu chú ý đến câu chuyện của loại người đầy tham dục này. Đó là loại người theo đuổi quyền lực, thanh danh của những vương vị, giáo chủ, chưởng môn, võ lâm minh chủ hay thiên hạ đệ nhất hay tham lam mỹ nữ và ái tình…
Cho nên, hầu hết các tiểu thuyết võ hiệp đều là những câu chuyện ân oán giang hồ theo dạng: “gặp họa diệt môn – gặp cao nhân truyền thụ - thành nghệ xuống núi báo thù – cơ duyên trùng hợp, gặp được bảo đao, bảo kiếm hay võ công bí kíp, gặp được mỹ nhân”…
Như thế, tam độc nhân sinh cũng chính là mô thức tự sự của tiểu thuyết võ hiệp. Trong tiểu thuyết Kim Dung, chủ yếu là biểu hiện tham, sân, si đối với tiền bạc, địa vị, thanh danh, và quyền lực.



Chẳng hạn như nhân vật Càn Long trong Thư kiếm ân cừu lục vốn không phải là kẻ đại gian đại các, bất trung bất nghĩa nhưng lại là người theo đuổi tiền bạc, thanh danh, địa vị, quyền lực. Ông ta cho rằng bản thân mình không phải là dòng dõi Mãn tộc cũng đủ thấy lòng trung của ông ta đối với cha mẹ và dân tộc mình. Nhưng khi ông ta giành được quyền lực và địa vị thì ngay lập tức thay đổi, không chỉ quay ra tàn sát hàng loạt những đồng bào của mình mà còn lập mưu tiêu diệt tận gốc đối với Trần Gia Lạc, hội trưởng Hồng hoa hội, trở thành kẻ bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa.
Hay như Thành Cát Tư Hãn trong Thần điêu đại hiệp hay Gia Luật Hồng Cơ trong Thiên Long bát bộ đối với Quách Tĩnh và Tiêu Phong đều coi là người bạn, đàn anh có tình có nghĩa nhưng đối với người dân họ lại là kẻ làm chính trị, rất vô tình vô nghĩa. Họ chiếm thành, giết dân, coi người dân như cỏ rác. Họ có thể nói đều là những kẻ nô lệ của quyền lực, thanh danh và địa vị.
Đó là với những bậc vua chúa thành công, còn đối với những kẻ bị ức hiếp bên dưới, sự tham lam đối với quyền lực địa vị lại càng là vô hạn. Kẻ thất bại biến thành giặc cỏ như Lý Tự Thành trong Bích huyết kiếm hay kẻ đi đến thành công trở thành đấng quân vương như Chu Nguyên Chương trong Ỷ thiên đồ long ký đều là loại người tham lam quyền lực.
Cho nên những kẻ này bao giờ cũng từ một lãnh tụ nghĩa quân cứu dân khỏi cơn nước lửa biến thành kẻ cướp đoạt chính quyền, tác oai tác phúc với thiên hạ, từ kẻ giúp thiên hạ thoát khỏi thống khổ biến thành kẻ tạo ra thống khổ cho thiên hạ.
Do đó có thể thấy, sự tham lam đối với quyền lực, địa vị, thanh danh chính là tính chất chung của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến. Trong việc theo đuổi quyền lực và địa vị, họ đều dùng thứ logic cường đạo của chính trị: Thiểu số phải phục tùng một cách vô điều kiện đa số, cấp dưới phục tùng vô điều kiện cấp trên từ đó mà “hợp pháp hóa” lòng tham của cá nhân mình thành công việc mang lại lợi ích cho trăm dân, để trở thành “cứu tinh” của nhân dân đang lầm than.
Trong giới giang hồ, nhân vật Đoàn Diên Khánh trong Thiên Long bát bộ cả đời theo đuổi vương vị, hay Đinh Xuân Thu (Thiên Long bát bộ) cho đến Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Nhậm Ngã Hành (Tiếu ngạo giang hồ) đều theo đuổi ngôi vị võ lâm minh chủ, thiên hạ đệ nhất.
Lòng tham dục này theo lý thuyết Phật giáo có mối liên thông chặt chẽ với tinh thần con người. Lòng người đầy tham dục thì thế giới tinh thần bao giờ cũng đại gian đại ác. Vì thế mà Đoàn Diên Khánh trở thành một trong tứ đại ác nhân, hiệu xưng là “Ác quán mãn doanh” (Tội ác khắp nơi), Đinh Xuân Thu trở thành “Tinh túc lão quái”, mối họa của giang hồ…
Ngoài ra, những người lãnh tụ nghĩa quân phản Thanh, phục Minh như Trần Gia Lạc hội chủ của Hồng hoa hội trong Thư kiếm ân cừu lục hay Trần Cận Nam hội chủ Thiên địa hội, từ giác độ nhân bản và phát triển của Phật giáo mà nói, thì không khác gì nhiều so với cuộc đấu tranh phục quốc của cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục trong Thiên Long bát bộ, đều bắt nguồn từ sự tham lam đối với thanh danh.
Bởi vì, thực tế, quốc gia dân tộc không ngừng có những biến động và phát triển. Vì thế việc theo đuổi một hình thái quốc gia, dân tộc đã là quá khứ là việc làm hoàn toàn vô vọng. Đó thực tế chỉ là cái cớ để họ theo đuổi lòng tham thanh danh và quyền lực của mình mà thôi.
Trở lên là những kẻ tham, sân, si đối với quyền lực, thanh danh. Phật giáo còn khuyên con người không tham, sân, si ngay cả trong tình yêu nam nữ. Vì vậy mới có những trường hợp như: Nam Lan trong Tuyết sơn phi hồ, dưới trăng trước hoa nghe những lời dụ dỗ ngọt ngào đã vứt bỏ đứa trẻ còn quấn tã; Mã Xuân Hoa trong Phi hồ ngoại truyện cũng vì như vậy mà làm mất tính mạng của bản thân và vị huynh đệ thiện lương của mình; Lý Mạc Sầu trong Thần điêu đại hiệp bởi vì thất tình mà thành ma, tàn sát người vô tội; Khang Mẫn trong Thiên Long bát bộ cũng vì không tình yêu của mình đối với Tiêu Phong không được đền đáp cũng gây nên tai họa lớn trong giới võ lâm… Tất cả những trường hợp này đều là không thoát khỏi sự ngu muội, vô minh của tình yêu nam nữ mà nhận lấy kết cục rất bi thảm.
Như vậy có thể thấy, Phật giáo từ khi truyền vào Trung Quốc đã ăn sâu trong tâm thức và trở thành một bộ phận cơ hữu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân của quốc gia này.
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tiểu thuyết võ hiệp, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, trên nhiều cấp độ có thể cho thấy một biểu hiện quan trọng của những ảnh hưởng to lớn của Phật giáo đến đời sống văn hóa của người Trung Quốc trong xã hội hiện đại.
Sự ảnh hưởng của những quan niệm Phật giáo đối với tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung là điều không còn phải bàn cãi. Điều quan trọng vẫn là, tư tưởng đó đã thâm nhập vào kết cấu, chủ đề thậm chí từng chi tiết của mỗi tác phẩm, tạo nên những bài học nhân sinh sâu sắc.
Đó chính là lý do tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, trong một thời gian dài đã trở thành “cơn sốt” trong sinh hoạt tinh thần của người Trung Hoa.
Hiệp khách hành – dùng võ công thể hiện quan niệm Phật giáo
Năm 1977, trong một bài viết của mình Kim Dung từng nói: “Gần đây, đọc nhiều kinh Phật, vì thế có ý muốn bác bỏ những luận giải sai lầm (của các học giả). Tôi nghiệm ra rằng “vô trước”(không viết), “vô vãng” (không hướng đến), “vô tác”(không làm), “vô nguyện”(không có ý định gì), như thế thì nhìn xấu cũng không thể mà nhìn tốt cũng không. Kinh Kim Cương từng có câu rằng: “Phàm hữu sở tướng, giai thị hư vọng” (phàm đã có tướng, đều là hư vô cả) cũng là có ý như vậy”.
Dựa vào sự ý đồ sáng tác ở trên, Kim Dung sáng tạo nên Hiệp khách hành. Tác phẩm này xoay quanh một bộ tuyệt học võ lâm được khắc trên vách các động của đảo Hiệp khách. Sau khi những tuyệt học này được Long, Mộc phát hiện, đã rất say mê dịch chúng. Nhưng càng giải thích, chú giải thì sự rắc rối càng nhiều, càng khó lý giải. Đó chính là “càng nghĩ thì càng hồ đồ, càng giải thích càng mù quáng”.
Hai người đã tìm một người thông minh để giúp họ giải mã nhưng cũng không được. Họ cũng đã nghĩ đến việc nhận đệ tử, mong có một người đủ tài trí để giúp họ hóa giải cũng vô vọng. Cuối cùng họ nghĩ ra cách thỉnh giáo hai cao nhân của võ lâm đã ẩn cư hơn 10 năm là Diệu Đế đại sư của Thiếu Lâm Tự và Ngu Trà đạo trưởng của núi Võ Đang nhưng rốt cục vẫn uổng phí tâm sức. Hai người chỉ còn cách mời các chưởng môn cứ 10 năm đến đảo 1 lần để thảo luận, tìm cách lý giải bài thơ trên vách đá.
Năm này qua năm khác, người đến càng nhiều, nhưng không có ai có thể lĩnh hội được bộ tuyệt học đó. Cuối cùng, duy chỉ có một người vô danh, vô tính, vô tri, vô thức, vô dục, vô cầu, anh ta đến đảo không nhằm mục đích phá giải những võ lâm tuyệt học đó lại phá giải được. “Cẩu tạp chủng” giải mã được Thần công hiệp khách hành chính là nhờ sự “vô tướng” (“vô nhân tướng”, “vô ngã tướng”, “vô chúng sinh tướng”), “vô tham” của anh ta.
Trong Phật học, “tướng” dùng để chỉ hình trạng và bản chất của hiện tượng, cũng dùng để chỉ khái niệm và biểu tượng trong nhận thức, tức “danh tướng”. “Vô tướng” là sự đối lập với “hữu tướng”, chỉ sự siêu thoát khỏi thế tục mới đạt đến độ nhận thức được chân như thực tướng. Ngoài câu Kim Dung đã nói, Kinh Kim Cương còn viết: “Ly nhất thiết chư tướng, tắc danh chư Phật” (dời bỏ được tất cả tướng thì có thể gọi là Phật).
Ma Kha Bát Nhã Mật Kinh – Thán Tịnh Phẩm cũng viết: “Chư pháp tính phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại bất khả thủ tướng, bất khả duyên, bất khả kiến, bất khả giác, bất khả tri, bất khả hồi hướng… bất khả dĩ tâm chi cố” (Bản tính của chư pháp là không có quá khứ, không có tương lai, không có hiện tại, không thể nắm bắt hình trạng, không có nguyên nhân, không thể thấy, không thể cảm giác, không thể nhận biết, không thể quay lại… cũng không thể dùng tâm mà làm ra được). Do đó, “vô tướng” cũng chính là “pháp tính”, là “niết bàn”. Quyển thứ 30 của Niết bàn Kinh cũng nói: “Niết bàn danh vô tướng” (Niết bàn tên gọi là vô tướng).
Trong quan niệm của Thiền Tông Trung Quốc cũng coi vô tướng chính là một nội dung quan trọng. Kinh Đàn cũng từng nói: “Ngoại ly nhất thiết tướng, danh vi vô tướng, năng ly vu tướng khước pháp bản thanh tịnh” (Bên ngoài dời bỏ tất cả tướng, gọi là vô tướng; có thể dời ở tướng, tức là pháp thể đã thành tịnh rồi).
Ngược lại, trong Phật học, phàm những gì có thể nắm bắt, tri nhận được đều gọi là “hữu tướng”. Trong Đại nhật kinh sơ viết: “Khả kiến khả hiện chi pháp, khước vi hữu tướng. Phàm hữu tướng giả, giai thị hư vong” (Pháp mà có thể nhìn, có thể hiện ra thì gọi là hữu tướng. Phàm những thứ hữu tướng, đều là hư vô cả).
Như thế, những hiệp khách trên đảo đều lý giải sai đối với Thần công hiệp khách hành rõ ràng đều là cách làm chỉ nhìn thấy hữu tướng. Họ hoặc cố chấp câu nệ trong cách đọc đối với Hiệp khách hành, hoặc do quá chú ý đến những bẫy ngôn từ của lời chú mà dẫn đến vọng tưởng đối với bộ thần công này. Vì thế, một kẻ như Cẩu tạp chủng, không hề biết chữ, vô tri, vô thức xem không hiểu những chú giải, cũng không hiểu gì bài thơ gốc vì thế mà không gặp phải sự đánh lừa của người sáng tạo ra bộ thần công này, cuối cùng đã nắm bắt được ý nghĩa bản nguyên của bộ thần công này.
Đồng thời việc lĩnh hội thần công của Cẩu tạp chủng còn là vì sự vô tham của anh ta. Anh ta đến Hiệp khách đảo hoàn toàn không có mục đích gì, ngay cả việc đọc Hiệp khách hành cũng cũng là hành vi không tự giác, không mục đích. Do đó, sự “vô tham” cũng là lý do khiến Cẩu tạp chủng lĩnh hội thành công bộ Thần công hiệp khách hành mà suốt mấy trăm năm bao cao thủ vẫn không lý giải được.
Lấy việc lý giải thần công Hiệp khách hành làm sợi dây xuyên suốt cho cốt truyện, trên ý nghĩa tổng thể là một cách thể hiện quan niệm Phật giáo “vô tướng”, “vô tham” của Kim Dung.

Thiên long bát bộ - một bộ ngụ ngôn Phật giáo


Thiên long bát bộ là bộ tiểu thuyết mang được cả ý nghĩa triết học và tôn giáo. Mở đầu tiểu thuyết, phần giải thích tên tác phẩm có viết:
“Thiên long bát bộ là một danh từ bắt nguồn trong kinh Phật. Kinh Phật thường kể rằng rằng khi đức Phật thuyết pháp trước các bồ tát và hòa thượng thường có thiên long bát bộ đến nghe. Như Pháp hoa Kinh viết: “Thiên long bát bộ, nhân dữ phi nhân” (Thiên long bát bộ, bao gồm người và không phải người). Phi nhân tức là hình dạng giống người mà thực tế không phải là chúng sinh. “Thiên long bát bộ” đều là phi nhân, bao gồm 8 loại thần đạo quái vật. Vì lấy Thiên và Long làm chủ, nên mới gọi là thiên long bát bộ”
Theo đó, tám loại thần đạo tinh quái trong Thiên long bát bộ được phân thành Thiên chúng và Long chúng. Ngoài ra còn có Dạ xoa (một loại ác quỷ có thể ăn quỷ cũng có thể làm tổn thương người), Càn Đạt Bà, A Tu La (các loại hung thần), Gia Lâu La, Tử Na La (chỉ thần ca hát), Ma La Già (chỉ thần rắn). Các loại này đều có một đặc tính chung là thần thông. Tuy là chúng sinh nằm ngoài nhân gian nhưng cũng phải chịu sự mọi sự đau khổ sung sướng của trần thế.
Trong tiểu thuyết này, Kim Dung hoàn toàn không nói chuyện thần đạo tinh quái, tác giả chỉ mượn danh từ của Phật kinh để tượng trưng cho các nhân vật trong tác phẩm của mình. Giống như trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am có những nhân vật như Mẫu Dạ Xoa Tôn Nhị Nương hay Ma Vân Kim Xí Âu Bằng…
Ở đây cần chú ý là quan niệm về hình tượng Long (rồng) trong kinh Phật cũng liên quan đến quan niệm về rồng tổ trong văn học Trung Quốc. Trong các văn hiến cổ đại Trung Quốc, là một trong 4 loại thú linh thiêng (tứ linh). Đây là một loại sinh vật tưởng tượng, bắt nguồn từ sự sùng bái tô tem một loại bò sát mà hình thành nên. Trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc cũng có không ít những thủy thần, hà bá, tương quân, tương phu,… đều lấy rồng làm hình tượng. Trong chú giải Thiên Vấn của Sở Từ của Vương Miễn cũng có cách lý giải về việc Hà Bá hóa thành bạch long. Nhưng đã hóa thành rồng tức là đã không còn nhân cách nữa. Mà Long trong Thiên long bát bộ của Kinh Phật lại là một loại thần linh có nhân cách. Đó chính là điểm khác biệt cần phải chú ý.
Trong bộ tiểu thuyết này, bát bộ của Thiên long bát bộ chính là để chỉ 8 những nhân vật nào. Điều đáng lo là vấn đề mỗi người một cách lý giải khác nhau, theo kiểu “nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí”. Một học giả chuyên nghiên cứu về tiểu thuyết Kim Dung từng đưa ra kiến giải rằng, ông dựa vào đặc trưng của 8 loại thần đạo tinh quái để chỉ ra 8 nhân vật tương ứng là: Đoàn Diên Khánh, Đoàn Chính Thuần, Tu La Đao Tần Hồng Miên, Vương Phu Nhân, Cốc chủ Vạn Kiếp Cốc Chung Vạn Thù, vợ chồng Cam Bảo Bảo, Vô ác bất tác (Không phải việc ác không làm) Diệp Nhị Nương, Nguyễn Tinh Trúc và Khang Mẫn.
Thiên long bát bộ lấy chuyện tình cảm oan nghiệt, phục thù, và tranh quyền đoạt lợi làm ba sợi dây chính để xây dựng cốt truyện. Điều này rất dễ chứng minh. Như nhân vật Đoàn Chính Thuần chỗ nào cũng có chuyện tình cảm, yêu đương khiến cho tình nhân của ông ta suốt ngày ganh ghét, truy sát lẫn nhau, ngay đến bản thân cũng không có phút nào yên ổn, còn khiến cho con cái của họ yêu nhau, gây nên không ít chuyện tình oan nghiệt. Lý Thu Thủy, A Tử đều bị đắm chìm trong mê cung của những mối tình oan nghiệt mà không cách nào thoát ra được.
Sự xung đột giữa Tiêu Phong với võ lâm Trung Nguyên cũng chính là từ sự phục thù mà tạo ra. Đoàn Diên Khánh, Diệp Nhị Nương trở thành ác nhân bị tất cả mọi người căm ghét cũng vì phụ thù. Ngay đến Du Thản Chi cũng bị biến thành một kẻ điên loạn cũng là món quà từ dục vọng của việc phục thù. Đây chính là sợi dây thứ hai xuyên suốt cốt truyện của Thiên long bát bộ.
Chuyện đấu tranh để tranh giành quyền lực lại càng rõ nét. Chính những cuộc âm mưu tranh quyền đoạt lợi mới là nguyên nhân gây nên những cơn bạo loạn, những bi kịch trong giới giang hồ. Chính vì mưu đồ bá vương của cha con Cô Tô Mộ Dung mới gây nên tấn thảm kịch của cha con Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong. Người đứng đầu trong tứ đại ác nhân, được mọi người gọi là “tội ác khắp nơi” Đoàn Diên Khanh ban đầu cũng là Đoàn Diên Thái tử của tiên triều Đại Lý. Ông ta trở thành đại ác nhân cũng là vì không rời bỏ được chuyện tranh quyền đoạt lợi.
Đây chính là ba sợi dây xuyên suốt trong cốt truyện của Thiên long bát bộ. Chúng kết thành một mạng lưới nhân vật của tiểu thuyết cũng là hình ảnh tượng trưng của cuộc sống con người. Thông qua đó, tác giả Kim Dung muốn đưa ra suy ngẫm của mình về hai chữ vận mệnh: Không tại trời, không tại đất mà tại chính bản thân con người. Mỗi người vừa là kẻ phải chịu đựng số mệnh vừa là kẻ tạo nên số mệnh của bản thân mình.
Diệp Nhị Nương trở thành kẻ ác là vì con của bà ta bị đánh cắp. Du Thản Chi cũng là vì cha và bá phụ bị Tiêu Phong giết chết, một lòng muốn trả thù. Mà ngay đến Tiêu Phong cũng không cách nào thoát khỏi số mệnh mà người khác đã đẩy anh ta vào. Các nhân vật trong tiểu thuyết cứ như vậy mà liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Trong Thiên long bát bộ, sự đồng tình và thể nghiệm đối với những cảnh ngộ nhân sinh đã thay thế cho những lời giáo huấn đạo đức cứng nhắc. Câu chuyện hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã dần nhường chỗ cho một câu chuyện của cuộc đời. Đó chính là lý do vì sao nhiều người thích đọc tiểu thuyết Kim Dung.
Trong tiểu thuyết của mình, Kim Dung tạo ra một cục diện khi mà không ai thoát khỏi “tam độc nhân sinh”, không ai không mang sự oán hận, thù hằn. Vì thế phải làm thế nào để hóa giải những âm thanh của sự chém giết, những ánh gươm đao của sự oán thù? Chỉ có sự đại từ đại bi của Phật môn mới có thể phá giải mà thôi. Nhân sinh không ai là không đau khổ, cố chấp đối với ân oán, quyền lực mà không biết rằng được thua chỉ khiến cho con người mãi mãi cảm thấy ân hận, hối tiếc. Chi bằng: “Chúng sinh vô ngã, khổ lạc tùy duyên” (Chúng sinh đạt đến chỗ vô ngã thì sướng khổ có thể mặc duyên số), “đắc thất tùy duyên, tâm vô tăng giảm” (Được mất đều để mặc duyên số, tâm mình không hề lay động).
Chính vì lẽ đó, ở cuối tác phẩm, mối thâm thù gây bao tai họa giữa Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn chỉ một câu nói của vị sư vô danh mà được hóa giải mà hoàn toàn không chút mảy may nào miễn cưỡng. Vị tăng vô danh này, chính là hiện thân của trí tuệ Phật học: Tri thức phong phú mà không kiêu ngạo, nhìn rõ cuộc sống nhân sinh cũng không tỏ ra mình là kẻ bề trên, chỉ điểm chi người khác thoát khỏi mê lầm cũng không tỏ ra mình cao thâm, thoát khỏi bụi trần nhưng không thoát ly cuộc sống. Có thể coi đây là cảnh giới cao nhất của nhân sinh mà tiểu thuyết Kim Dung theo đuổi.
Nói tới Thiên long bát bộ không không nói đế ba nhân vật chính của tác phẩm: Đoàn Dự, Tiêu Phong và Hư Trúc. Ở ba nhân vật này, chính là nơi Kim Dung gửi gắm những triết lý mang màu sắc Phật giáo của mình.
Ba nhân vật này, một sinh ở Đại Lý, một là bang chủ cái bang, một nữa là hòa Thượng Thiếu Lâm. Xem qua thì thấy chẳng có gì liên quan đến nhau cả nhưng cuối cùng họ lại kết bái huynh đệ, trở thành câu chuyện truyền kỳ trong võ lâm giang hồ. Thêm nữa, Đoàn Dự vốn là nho sinh, nhưng trên thực tế là Phật tử. Hư Trúc vốn tu hành tại ngôi chùa Thiếu Lâm tự của Phật giáo nhưng cuối cùng lại trở thành trưởng môn nhân của phái Tiêu Dao của Đạo gia. Tiêu Phong không phải Phật cũng không phải Đạo, anh ta vốn là bang chủ Cái bang, nhưng cuối cùng đã thực hiện lý tưởng của một đệ tử Nho gia “đạt tắc kiêm tế thiên hạ” (đạt thì thực hiện việc lo lắng cho thiên hạ) và “Lo trước nỗi lo của thiên hạ”. Vì thế, câu chuyện của họ chính là câu chuyện ngụ ngôn về “Nho Phật Đạo - tam giáo hợp nhất”.
Ba người này, một tên là Đoàn Dự - chữ Dự nghĩa là danh, là xưng. Một là Hư Trúc – chữ Hư nghĩa là giả, là không. Môt nữa là Kiều Phong – chữ Kiều, nghĩa là phân, là hư. Từ tên của ba nhân vật này, có thể thấy câu chuyện của họ, hình tượng của họ kỳ thực đều là ngụ ý “danh tướng không phải là chân tướng”. Giống như câu nói của Mộ Dung Bác ngộ ra được khi quyết định xuất gia: “Thứ dân như cát bụi, đế vương cũng như cát bụi. Đại Yến không khôi phục cũng là không mà khôi phục được cũng là không mà thôi”.
Có thể khẳng định Đoàn Dự là một đệ tử Phật môn chân chính, sự trải nghiệm của anh ta cũng là một loại khải thị đối với Phật tử. Nhân vật này khiến chúng ta liên tưởng đến Phật tổ Thích Ca, nghĩ tới thân phận trước khi xuất gia của Phật tổ: hoàng tử Tất Đạt Đa. Do sự chi phối của một tâm hồn cao quý, ông không chấp nhận cuộc sống sung sướng của một vương tử cho bản thân àm quyết định dời bỏ hoàng cung, sống một cuộc sống của người thông thường nhằm tìm cách hóa giải những đau khổ của cuộc sống con người. Để tìm con đường giải thoát cho con người, ông đã phải khổ tu khổ hành, khổ tầm, khổ mịch, khổ tư, khổ tưởng, rốt cục mới sáng tạo ra Phật học bất hủ.
Sự trải nghiệm của Đoàn Dự trong tiểu thuyết cũng phần nào là một thao tác mô phỏng cuộc sống của Phật tổ. Cho dù là “vô ý” nhưng ngay từ đầu nhân vật này đã bỏ cuộc sống xa hoa của một vương tử, đi vào dân gian để tìm chân tướng của nhân sinh thế tục. Anh ta nhận ra rằng, trong thế giới giang hồ, người ta không dùng vương pháp là tiêu chuẩn, càng không phải là dùng Diệu Đế trong Phật lý để sống, không có ai thực sự hiểu vô lượng là gì. Đoàn Dự thuyết pháp rất thông: “Kinh Phật có dạy rằng: Vô lượng có bốn điều: Một là Từ, hai là Bi, ba là Hỷ, bốn là Xả. Đó chính là tứ vô lượng. Các vị đương nhiên hiểu rằng: Tâm vui vẻ chính là từ, tâm đau khổ là bi, giúp chúng sinh thoát khổ vui vẻ chính là hỷ, giúp tất cả chúng sinh từ bỏ oán niệm mà bình đẳng gọi là xả. Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật vậy”.
Điều lý thú là, Đoàn Dự tuy đọc thông kinh Phật, thông hiểu giáo lý nhà Phật nhưng anh ta đối với bản thân mình lại không có khả năng tự lý giải. Tình yêu của anh ta đối với Vương Ngữ Yên cứ như sợi xích vô hình trói buộc anh ta, khiến anh ta không chỉ thân không do mình mà đến tâm cũng không do mình. Phật học chân chính, phải chăng không đơn giản là làu thông kinh Phật?
Ý tưởng xây dựng Tiêu Phong trở thành một anh hùng cái thể, đương nhiên bắt nguồn từ tư tưởng bình đẳng của Phật giáo. Trong cách nhìn của Phật gia, người và vật đều gọi là chúng sinh, đều bình đẳng. Vì thế một người sinh ở nước Liêu, lớn lên ở Trung Nguyên như Tiêu Phong mới trở thành một vị anh hùng cái thế ở mảnh đất hoàn toàn xa lạ với anh ta.
Việc vô tình làm tử thương A Châu có thể nói là việc đau lòng nhất trong cuộc đời của Tiêu Phong cũng là cao trào trong bi kịch cuộc đời của nhân vật này. Nhưng vận mệnh bi kịch này cũng chính là sự tất yếu từ tính cách của anh ta. Đi tìm vị Đại ca dẫn đầu đã gây ra cái chết của cha mẹ mình, rồi “đại ác nhân” đã giết cha mẹ nuôi cho đến sư phụ của anh ta để trả mối thâm thù, Tiêu Phong đã bị cừu hận, ân oán khống chế, tựa hồ đã đánh mất toàn bộ lý trí thông thường. Đó chính là lý do anh ta liên tiếp mắc phải những sai lầm không thể tha thứ trong cả cuộc đời mình.
Nhân vật Hư Trúc lại là một câu chuyện khác: muốn làm hòa thượng cũng không được, phúc lành không cầu mà lại được. Câu chuyện của Hư Trúc rất tiểu biểu cho cách nói: “Không cầu mà được” trong thuyết nhân duyên của Phật giáo. Anh ta không biết chơi cờ, không hề có mục đích tham gia giải thế cờ của chưởng môn Tiêu Dao phái nhưng anh ta lại là người giải được thế cờ, trở thành trưởng môn nhân của phái Tiêu Dao. Anh ta cũng không có ý định tham dự việc tuyển chọn phò mã Tây Hạ nhưng cuối cùng, nhân duyên đưa đẩy, công chúa Tây Hạ lại chính là người tình trong mộng của anh ta.
Ngoài ba nhân vật chính ở trên, còn rất nhiều nhân vật trong Thiên long bát bộ cũng mang tính biểu tượng như vậy. Nhân vật Khưu Ma Trí là một ví dụ. Nhân vật này cả đời theo đuổi võ công, tranh quyền đoạt lợi, đến cuối cùng đã phải thừa nhận: “Lão nạp thân tại Phật môn, nhưng lại luôn tranh cường háo thắng. Thân tự coi là cao tăng nhưng kiêu căng tự mãn, không biết xấu hổ ăn năn”, “Như Lai Phật tổ dạy các đệ tử, đầu tiên là phải bỏ tham, bỏ ái, bỏ sự tranh giành, bỏ mọi vướng víu mới có hy vọng giải thoát...”.
Có thể thấy rõ rằng, đối với Thiên long bát bộ, quan niệm Phật giáo không chỉ thấm đẫm trong chủ đề, trong nhân vật mà còn trong từng chi tiết của tác phẩm. Nếu nói rằng, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung mang màu sắc Phật giáo đậm nét thì nét đậm nhất chính là ở bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ này.

Hy Văn dịch

(Nguồn: Vietimes)

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Lý do “vua hề Sác-lô” chia tay với... 2.000 người tình

Khi trả lời phỏng vấn trên tờ Vanity Fairnăm 1926, người ta hỏi đối với ông thế nào là một người tình lý tưởng, Chaplin trả lời: “Đó là người mà tôi không thực sự yêu nhưng cô ấy thì chết mê chết mệt tôi

Sinh thời, Charlie Chaplin là một trong những “gã đào hoa” nhất Hollywood, chính ông từng thú nhận đã qua lại với hơn 2.000 phụ nữ. Nhưng vì sao ông luôn chia tay họ?

Tuổi thơ bi kịch và “di chứng” ở tuổi trưởng thành


Khi mới ngoài 20 tuổi, Chaplin đã là một hiện tượng thành công “khủng khiếp”, là gương mặt nghệ sĩ hài nổi tiếng khắp thế giới.
Thực tế, Chaplin không phải một người đàn ông cao lớn, có thể nói là hơi thấp, đầu ông khá to so với thân người nhỏ gầy. Tuy vậy, Chaplin là một người đàn ông ưa nhìn với đôi mắt xanh sâu thẳm, mái tóc xoăn đen, hàm răng trắng bóng, đôi môi quyến rũ…



Charlie Chaplin chiếm được cảm tình của mọi cô gái bởi danh tiếng, khiếu hài hước và gương mặt ưa nhìn.
Chaplin có thể chiếm được trái tim phụ nữ một cách dễ dàng, ông cũng chia tay họ bất cứ khi nào ông muốn. Khi trả lời phỏng vấn trên tờ Vanity Fairnăm 1926, người ta hỏi đối với ông thế nào là một người tình lý tưởng, Chaplin trả lời: “Đó là người mà tôi không thực sự yêu nhưng cô ấy thì chết mê chết mệt tôi”.
Chaplin không bao giờ đặt lòng tin vào phụ nữ. Ông luôn sợ sự mất mát và phản bội, ông là một người dễ bị khiêu khích và cũng dễ bị tổn thương, thường nổi cơn ghen chỉ vì những lý do rất nhỏ.
Sự phức tạp trong tính cách của Chaplin đã được phản ánh trong những bộ phim của ông. Trong các vai diễn của mình, Chaplin thường tỏ ra bẽn lẽn, rụt rè trước những phụ nữ đứng đắn, ông tiếp cận họ rất ngập ngừng, đầy thăm dò.
Đối với những phụ nữ “dễ dãi”, nhân vật của Chaplin có cách ứng xử khiếm nhã và táo tợn, thường dùng gậy để… kéo cổ hoặc kéo chân cô gái lại gần.
Đạo diễn Mack Sennett, người từng hợp tác với Chaplin cho rằng Chaplin là “một người đàn ông bé nhỏ và nhút nhát, luôn bối rối, lúng túng vì đủ chuyện trên đời”.
Thuở mới vào nghề, không ai đặt nhiều kỳ vọng vào Chaplin, không ai nghĩ ông sẽ thành công, nhưng rồi ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa nổi tiếng, được yêu thích ở nhiều quốc gia trên thế giới.



Trên màn ảnh, Chaplin là “vua hề”. Trong tình trường, Chaplin là “vua tình ái” nhưng cách mà ông đối xử với các người tình chắc chắn từng khiến vô số cô gái cảm thấy kinh hoàng.
Charlie Chaplin sinh tháng 4/1889. Mẹ của ông vốn là một ca sĩ - bà Hannah Chaplin. Trước khi kết hôn với ông Charles Chaplin, bà đã có một cậu con trai ngoài hôn thú. Sau khi lấy chồng, bà vẫn tiếp tục những mối quan hệ ngoài luồng và sinh ra Charlie Chaplin. Dù chồng bà cho cậu bé được mang họ mình nhưng chỉ một năm sau, ông rời bỏ gia đình.
Mẹ con Charlie rơi vào cảnh cùng quẫn. Bà Hannah phải kiếm sống nuôi con bằng đủ nghề. Có những giai đoạn nghèo khó nhất, 3 mẹ con đã phải sống vất vưởng ngoài hè phố.
Nói về tuổi thơ mình, Charlie Chaplin chia sẻ: “Nếu ai muốn đong đếm hàm lượng đạo đức trong gia đình tôi bằng cách đem áp dụng những chuẩn mực thông thường, điều đó sẽ sai lầm giống như đem nhiệt kế nhúng vào nồi nước sôi”.
Tuổi thơ của Chaplin bị ông coi như đã kết thúc từ năm lên 7, khi đó, ông phải vào trại tế bần, bị mẹ bỏ rơi. Thực tế, đây là cú sốc mà không bao giờ Charlie có thể vượt qua được: “Tôi hầu như chẳng bao giờ biết thế nào là khủng hoảng bởi tôi đã luôn sống trong khủng hoảng từ khi còn là một cậu bé. Tôi tự cho phép mình thoát ra khỏi mọi rắc rối bằng cách lãng quên chúng”.

Đời sống tình cảm đầy sóng gió


Có lần, Charlie Chaplin đăng một mẩu quảng cáo trên báo rằng: “Cần tìm cô gái xinh đẹp nhất California tham gia một bộ phim cảm động”. Edna Purviance chính là cô gái được lựa chọn. Edna là một cô gái ít đòi hỏi, sống khiêm tốn và luôn biết cách chịu đựng sự lo lắng, bất an cùng những trạng thái cảm xúc khó đoán của Chaplin. Họ dần trở nên gần gũi, yêu nhau và thậm chí còn chuẩn bị cưới.



Charlie Chaplin và nữ diễn viên Edna Purviance trong phim “The Bond” (1918). Charlie gặp Edna năm 1915, khi đó, cô 19 còn Chaplin 25. Edna chưa hề có kinh nghiệm diễn xuất. Đối với Chaplin, đó là điều tuyệt vời nhất, bởi ông sẽ có thể “nhào nặn đất sét thành bất cứ hình thù nào mong muốn”.
Nhưng rồi sự nghiệp của Charlie lên như pháo thăng thiên, ông say mê công việc và dành chọn tâm sức cho công việc. Trên phim trường, mỗi cảnh quay Charlie đều yêu cầu tập đi tập lại tới 50 lần, quay đi quay lại 20 lần và sau đó ngồi lì trong phòng biên tập. Edna bị lãng quên.



Chaplin gặp nữ diễn viên 16 tuổi Mildred Harris năm 1918 và đem lòng yêu cô.

Sau đó, Chaplin gặp nữ diễn viên 16 tuổi Mildred Harris tại một bữa tiệc năm 1918. Lúc này, Chaplin 29 tuổi, đã là nam diễn viên giàu có bậc nhất Hollywood. Ông thường gửi hoa hồng đến tặng Mildred và kiên nhẫn ngồi trong xe đợi cô hàng giờ, họ nhanh chóng trở thành một cặp.
Khi Mildred cho Chaplin biết cô đã mang thai, đó là một tin kinh hoàng đối với ông. Nhưng để tránh lùm xùm, họ đã tổ chức một lễ cưới giản dị. Hóa ra Mildred đã “bẫy” Chaplin và cô không hề mang thai. Mưu đồ này đã khiến cuộc sống hôn nhân của cô trở thành địa ngục kinh hoàng. Chaplin lúc thì buồn rầu lúc lại cáu gắt.
Mildred đã có lúc suy sụp đến phải nhập viện vì thường xuyên lo lắng. Thế rồi cô cũng mang thai khi Chaplin đã bắt đầu ngoại tình, hoàn toàn lãng quên vợ. Con trai của họ qua đời sau 3 ngày lọt lòng mẹ. Sự việc khiến cuộc hôn nhân không thể cứu vãn. Họ chia tay năm 1920.
Mildred là người đâm đơn ra tòa, cô cũng là người đầu tiên hé lộ cho công chúng biết về sự thật cuộc sống đằng sau màn ảnh của “vua hề”. Sự việc này là một vết thương lớn đối với lòng tự tôn và phong cách sống kín đáo của Chaplin.



Sau cuộc hôn nhân thất bại, Chaplin hẹn hò với vô số diễn viên Hollywood. Khi làm phim “The Pilgrim” (1923), ông qua lại với Peggy Hopkins Joyce. Chaplin ước tính trong suốt cuộc đời, ông đã có quan hệ với hơn 2.000 phụ nữ.
Mối tình với nữ diễn viên 15 tuổi Lita Grey cũng là một bi kịch. Họ gặp nhau trên phim trường “The Gold Rush” (1925). Khi phim hoàn tất, Lita nói rằng cô đã mang thai.
Chaplin đề nghị Lita phá thai, rồi lại đề nghị sẽ thuê một người đàn ông kết hôn với cô để làm cha hợp pháp cho đứa trẻ nhưng tất cả đều bị Lita gạt đi. Nếu Lita kiện Chaplin tội quan hệ với trẻ vị thành niên, ông sẽ bị phạt 30 năm tù. Về sau Chaplin kể lại rằng: “Ở thời điểm đó, tôi đã sốc và thậm chí nghĩ tới chuyện tự tử”.



Chaplin bắt đầu qua lại với Lita Grey trên phim trường “The Gold Rush” (1925).
Họ tổ chức một hôn lễ bí mật ở Mexico. Ngay sau khi kết hôn, mối quan hệ của họ coi như đã tan vỡ. Chaplin càng lúc càng trở nên khó ưa và hành xử kỳ quặc.
Năm 1927, họ ly dị, người đâm đơn là Lita. Lita tiếp tục “nối gót” Mildred đưa ra nhiều thông tin gây sốc, làm xấu trầm trọng hình ảnh Charlie Chaplin trong mắt công chúng. Lần này, Chaplin đã suýt nhảy từ tầng cao của một khách sạn ở New York nhưng may có người tài xế ngăn kịp.


Charlie Chaplin có 4 đời vợ. Lita Grey là vợ thứ 2.

Sau sự việc này, mái tóc đen của Chaplin bạc trắng. 9 năm sau, ở tuổi 47, con tim ông “vui trở lại” với nữ diễn viên Paulette Goddard, cô 22 tuổi nhưng nói dối rằng mới 17. Họ nhanh chóng chuyển về sống chung, Chaplin giao cho cô vai chính trong phim “Modern Times” (1936).


Nữ diễn viên Paulette Goddard.

Trong ngày đầu tiên bấm máy, Paulette xuất hiện với tạo hình lộng lẫy, Charlie lắc đầu và nói: “Không phải phong cách này”. Ông bảo Paulette cởi giày, thay đồ, tẩy trang, rồi dội một xô nước lạnh lên người nữ diễn viên.
Paulette Goddard là đời vợ thứ 3 của Chaplin. Trong cuộc hôn nhân này, Chaplin tiếp tục đóng vai người kiểm soát, ông cũng luôn gây áp lực cho vợ trên phim trường. Họ chia tay năm 1940 khi bộ phim “The Great Dictator” vừa ra mắt. Lúc này, Charlie 51 tuổi, ông đã trải qua một thiên tình sử đầy tai tiếng.



Paulette xuất hiện lần cuối bên Charlie tại lễ công chiếu bộ phim “The Great Dictator”.

Ở tuổi 54, ông tìm thấy tình yêu đích thực của đời mình - cô gái 18 tuổi Oona O’Neill - con gái của một biên kịch. Trong hồi ký của mình, Chaplin coi việc gặp được O’Neill là “sự kiện hạnh phúc nhất đời” và nói cô chính là “tình yêu hoàn hảo” mà ông vẫn kiếm tìm. Oona tôn thờ Charlie.



Trong cuộc hôn nhân 18 năm (kéo dài cho tới tận khi Chaplin qua đời), họ có 8 người con.

Bích Ngọc
Tổng hợp

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Đệ nhất cao thủ võ lâm truyện Kim Dung là ai?

Danh hiệu đệ nhất cao thủ võ lâm truyện Kim Dung thuộc về một nhân vật xuất hiện khiêm tốn, giản dị nhất, thậm chí còn không có một cái tên cụ thể
Chu Bá Thông (Thần điêu hiệp lữ và Thần điêu đại hiệp) – 81 điểm

Chu Bá Thông là một nhân vật có thật trong lịch sử, song tư liệu về ông rất ít. Trong Anh hùng xạ điêu và Thần điêu hiệp lữ, Chu Bá Thông được xây dựng là sư đệ của Vương Trùng Dương, sư thúc của Toàn Chân thất tử.


Ông được mô tả là người có tính tình ngây thơ, hay đùa giỡn như trẻ con (nên có biệt danh Lão Ngoan Đồng) và là một con nghiện võ thuật.
Ông là người sáng chế ra món võ công ‘Không minh quyền’, đặc biệt là môn Song Thủ Hỗ Bác, môn võ công kỳ dị chỉ dành cho những người có đầu óc hoàn toàn vô tư, trong sáng.

Giác viễn đại sư (Thần điêu hiệp lữ và Ỷ thiên đồ long ký) – 84 điểm

Là một tăng nhân trong chùa Thiếu Lâm, sư phụ của Trương Quân Bảo – Trương Tam Phong. Ông có nội lực cao thâm khi luyện thành Cửu Dương thần công.

Mộ Dung Bác (Thiên long bát bộ) - 86,8 điểm

Mộ Dung Bác là cha của Mộ Dung Phục. Ông chia sẻ ảo tưởng phục quốc với con trai và là kẻ dàn xếp vụ mai phục tại Nhạn Môn quan dẫn đến cái chết của vợ Tiêu Viễn Sơn.
Mộ Dung Phục giả chết và trốn vào chùa Thiếu Lâm trong nhiều năm, bí mật học các bí kíp võ công trong thư viện của chùa. Ông được nhà sư quét rác cứu sống và quyết định từ bỏ tham vọng phục quốc và trở thành học trò của nhà sư.



Tiêu Viễn Sơn (Thiên long bát bộ) – 97 điểm

Tiêu Viễn Sơn là một cao thủ tuyệt thế người Khiết Đan, cha ruột của Tiêu Phong. Trong một lần bị các cao thủ đứng đầu Trung Nguyên vây đánh ở Nhạn Môn Quan, với võ công thuộc hạng thượng thừa, Tiêu Viễn Sơn đã đánh bại gần hết đám cao thủ.


Sau trận chiến, vợ Tiêu Viễn Sơn không may bị giết chết, quá uất hận, về sau, Tiêu Viễn Sơn đã tạo ra một cuộc trả thù đẫm máu và bị gọi là ‘đại ác nhân’. Cuối truyện, ông được Tảo Địa Tăng điểm hóa và quy ẩn tại Thiếu Lâm Tự.

Vương Trùng Dương (Anh hùng xạ điêu) - 90 điểm


Tuy là một đạo sỹ xa lánh hồng trần nhưng khi thấy cảnh người dân điêu đứng lầm than vì quân Kim xâm lược, Vương Trùng Dương đã nhập thế để cứu độ chúng sinh, lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc.
Qua ngòi bút của Kim Dung, người ta biết đến Vương Trùng Dương không chỉ là một anh hùng dân tộc chống quân Kim mà còn là một Trung Thần Thông võ công cái thế.


Tại Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu là người võ công cao nhất, hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh, 4 người còn lại là Hoàng Dược Sư (Đông Tà), Âu Dương Phong (Tây Độc), Đoàn Trí Hưng (Nam Đế) và Hồng Thất Công (Bắc Cái) và chỉ 4 người này mới thật sự biết được võ công lợi hại của Vương Trùng Dương tới đâu.

Đoàn Dự (Thiên long bát bộ) – 92 điểm


Đoàn Dự cũng là một trong 3 nhân vật nam chính trong truyện Thiên long bát bộ, là vương tử nước Đại Lý, dáng vẻ thư sinh, sùng đạo Phật, ghét bạo lực, thẳng thắn, nhiều khi hơi gàn.
Không chịu học võ nhưng nhờ cơ duyên may mắn, Đoàn Dự học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác, Lăng Ba Vi Bộ di chuyển khinh công nhanh chóng, nhẹ nhàng.



Hư Trúc (Thiên Long bát bộ) – 93 điểm

Xuất thân là 1 tiểu hoà thượng địa vị và võ công rất thấp kém của chùa Thiếu Lâm nhưng sau bước đường phiêu lưu với rất nhiều kỳ duyên, Hư Trúc chẳng những có được 1 thân võ công thượng thừa, nắm giữ nhiều quyền lực mà còn phát hiện lai lịch không hề đơn giản của mình.


Là nhân vật chính xuất hiện cuối cùng, cũng là người được Kim Dung cho ít đất diễn nhất nhưng bù lại Hư Trúc được tác giả ưu ái cho gặp rất nhiều may mắn, lần lượt làm trưởng môn phái Tiêu Dao, chủ nhân Linh Thứu Cung, thống lĩnh 36 động 72 đảo và cuối cùng là phò mã Tây Hạ.

Kiều Phong (Thiên Long Bát Bộ) - 95 điểm


Là bang chủ của phái Cái Bang, sở hữu phẩm chất lãnh đạo mạnh mẽ và sức mạnh đặc biệt trong võ thuật, Kiều Phong được cả giang hồ kính nể về tài nghệ võ công lẫn nghĩa khí.


Câu nói ‘Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung‘ đã thành nổi tiếng không ai không biết trong chốn giang hồ (tên tuổi Kiều Phong được xếp trước cả dòng họ Mộ Dung, một võ học danh giá ở Giang Nam).

Độc Cô Cầu Bại (Thần điêu hiệp lữ) - 99 điểm


Đây là nhân vật bí ẩn nhất trong truyện Kim Dung, Độc Cô Cầu Bại xuất hiện như một con người kiếm thuật vô song trong Thần Điêu Hiệp Lữ theo sự hồi tưởng của Dương Quá.


Tuyệt thế võ công của Độc Cô Cầu Bại là Độc Cô Cửu Kiếm tung hoành thiên hạ. Cuối đời, Độc Cô Cầu Bại sống cô quạnh, chết trong buồn bã vì không thể tìm được một người có thể địch nổi kiếm thuật của mình, mong một lần thất bại mà không được.
Độc Cô Cầu Bại đã chôn các thanh kiếm của mình tại nơi gọi là kiếm mộ và ghi chú giải triết lý của bốn thanh kiếm.

Tảo Địa Tăng (Thiên Long Bát Bộ) - 100 điểm


Tảo Địa Thần Tăng (nhà sư quét lá) hay còn có tên gọi khác là Vô Danh Lão Tăng, người đã xuất hiện một cách khiêm tốn, giản dị trong tiểu thuyết Kim Dung với bộ áo cà sa sờn cũ, hòa giải ân oán giữa Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác.


Không chỉ đạt được cảnh giới võ học thâm sâu, Tảo Địa Thần Tăng còn am hiểu y lý, đạo pháp Phật mô. Chỉ trong vòng vài chục phút ngắn ngủi, vị lão tăng này đã làm được những việc tưởng chừng như cả thiên hạ không ai làm nổi.
Hai chưởng đánh gục Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn nhẹ như lông hồng, dùng một tay đỡ đòn Hàng Long Thập Bát Chưởng của Kiều Phong mà chỉ lui vài bước đủ để thấy võ công của Thiếu Lâm Thần Tăng này cao thâm tới mức nào.
Lặng lẽ làm người quét dọn Tàng Kinh Các suốt 50 năm nhưng luận về tài và đức của Tảo Địa Tăng thì đến đại đức cao tăng cũng phải nghiêng mình kính phục. Tảo Địa Thần Tăng được coi là người có võ công cao nhất trongThiên Long Bát Bộ, cũng là đệ nhất cao thủ võ công trong tiểu thuyết Kim Dung.

Theo: http://vtc.vn/

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

'Đại hiệp' Kim Dung và nỗi đau đáu về người con trai tự tử

Kim Dung đã tìm đến Kinh Phật để mong lý giải nguyên nhân cậu con trai Tra Truyền Hiệp tự tìm đến cái chết khi chưa tròn 20 tuổi.
Kim Dung, tên thật Tra Lương Dung, là nhà văn đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Ông được đông đảo độc giả hâm mộ bởi hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Lộc Đỉnh ký, Tiếu ngạo giang hồ… Kim Dung được mệnh danh là “Thái Sơn, Bắc Đẩu” trong giới tác giả viết tiểu thuyết võ hiệp.

Nhà văn Kim Dung. Ảnh nhỏ: Kim Dung và vợ hiện tại, Lâm Nhạc Di.

Nhiều năm qua, Kim Dung hiếm khi công khai tham gia sự kiện mà dành phần lớn thời gian ở nhà. Theo Sina, sức khỏe nhà văn 92 tuổi vẫn ổn định. Hôm 27/3, ông tham gia buổi tọa đàm “Kim Dung võ hiệp và Giấc mơ Trung Quốc”, diễn ra ở Bắc Kinh. Đi cùng Kim Dung còn có các cháu của ông. Trong hoạt động, ban tổ chức chia sẻ ảnh Kim Dung và con trai thứ Tra Truyền Thích. Bức ảnh dấy lên tò mò của người hâm mộ về các con của nhà văn - họ làm nghề gì và có ai nối nghiệp bố?
Kim Dung có bốn con, hai trai hai gái. Con trai lớn Tra Truyền Hiệp, con trai thứ Tra Truyền Thích và hai con gái là Tra Truyền Thi, Tra Truyền Nột. Cả bốn người đều là con của Kim Dung với người vợ thứ hai Chu Mai (Kim Dung có ba đời vợ, lần lượt là Đỗ Dã Phân, Chu Mai và Lâm Nhạc Di).
Tra Truyền Hiệp là người thừa hưởng ở bố nhiều nhất khả năng văn chương. Kim Dung dạy Truyền Hiệp Tam Tự Kinh từ khi cậu bé còn bi bô học nói. Bốn tuổi, Truyền Hiệp đã thuộc lòng Tam Tự Kinh, sáu tuổi đã thuộc Tăng Quảng Hiền Văn. Mọi người đều gọi cậu là tiểu thần đồng. Được gia đình hun đúc, Tra Truyền Hiệp yêu thích tiểu thuyết từ thuở ấu thơ. Năm 1965, tiểu thuyết Hiệp khách hành đăng trên tờ Minh Báo của Hong Kong (tờ báo do Kim Dung sáng lập). Truyện có nhiều đoạn nói về tình yêu con của vợ chồng Thạch Thanh. Câu chuyện cảm động, gần gũi đó được viết từ chính lòng thương vô bờ của vợ chồng Kim Dung với Truyền Hiệp.

Nhà văn Kim Dung và hai con Tra Truyền Hiệp, Tra Truyền Thi.

Tra Truyền Hiệp say mê Hiệp khách hành, đến mức có một lần cậu đang đọc tiểu thuyết dưới mái hiên tí tách mưa rơi, cha mang món ngon đến trước mặt rồi gọi con nhưng cậu vẫn không rời mắt khỏi sách. Năm 14 tuổi, Truyền Hiệp viết một bài văn nói rằng đời người là bể khổ, chẳng có ý nghĩa gì và tỏ ý muốn được giải thoát. Có người sau khi đọc bài văn thì chột dạ, khuyên Kim Dung nên ngăn cản cậu bé khỏi những suy nghĩ này. Song nhà văn bảo con trai đúng. Ông khen Truyền Hiệp sớm nhận biết, tư tưởng sâu sắc.
Kim Dung không thể ngờ được rằng, cũng vì “sớm nhận biết”, Truyền Hiệp về cõi vĩnh hằng khi còn ở tuổi thanh xuân. Tháng 10/1976, Tra Truyền Hiệp tự tử, sau khi cãi vã với bạn gái qua điện thoại. Lúc đó, cậu chưa đầy 20 tuổi và đang là sinh viên năm nhất Đại học Columbia (Mỹ).
Lúc bấy giờ, có hai khả năng được đưa ra về lý do tự tử của Tra Truyền Hiệp.
Lý do thứ nhất liên quan tới việc Kim Dung và Chu Mai ly hôn. Ở Mỹ, Truyền Hiệp biết quan hệ giữa bố mẹ rạn nứt, sắp sửa chia tay nên rất buồn. Anh nhiều lần khuyên bố mẹ hàn gắn nhưng không thể. Gia đình tan vỡ là cú đòn mạnh giáng vào anh. Để rồi trong phút chán nản, cậu sinh viên nghĩ đến sự giải thoát.
Lý do thứ hai được đưa ra có liên quan tới tình cảm cá nhân của Tra Truyền Hiệp. Lúc đó, Truyền Hiệp yêu một cô gái sống ở San Francisco. Đôi tình nhân trẻ mâu thuẫn và Truyền Hiệp tự tử vì tình yêu không tốt đẹp.

Kim Dung và con gái Tra Truyền Nột.

Cái chết của con trai là nỗi đau không bao giờ bù đắp nổi đối với Kim Dung. Nhà văn từng hồi ức về quãng thời gian u ám sau khi con qua đời: “Sau khi nghe tin con mất ở Mỹ tôi đau đớn và u sầu. Nhưng hôm đó tôi có bài viết quan trọng cho báo. Vừa viết vừa rơi nước mắt. Lòng quặn thắt nhưng tôi vẫn phải viết”. Tiếp đến, ông đi Mỹ đưa thi thể con về Hong Kong mai táng.
Thời gian đó, Kim Dung từng muốn chết theo con. Một câu hỏi lớn xâm chiếm tâm hồn ông: “Tại sao con tự tử, tại sao con bỗng nhiên từ bỏ sinh mệnh. Tôi muốn tới cõi âm gặp Truyền Hiệp, muốn con giải đáp câu hỏi này”.
Con trai tự tử cũng là lý do trực tiếp khiến nhà văn theo tín ngưỡng Phật giáo. Sau khi con qua đời, ông bắt đầu nghiên cứu Kinh Phật, từ sách Phật giáo tìm câu trả lời cho cuộc đời.
Năm 1991, Kim Dung bán tờ Minh Báo cho Vu Phẩm Hải. Không ít người cho rằng ông trao đứa con tinh thần của mình cho Vu Phẩm Hải vì người này có ngoại hình giống Tra Truyền Hiệp. Kim Dung nói rằng: “Về lý tính, tôi không nghĩ như thế. Nhưng Vu Phẩm Hải sinh cùng năm với con trai lớn của tôi, đều tuổi Khỉ. Tướng mạo đúng là hơi giống nhau. Tình thân tự nhiên trỗi dậy trong tiềm thức. Cũng có thể là như vậy”.
Ba người con còn lại của Kim Dung nay đều đã là cha, là mẹ và không ai theo nghiệp văn chương. Con gái lớn Tra Truyền Thi tốt nghiệp Đại học York (Canada) với thành tích xuất sắc. Cô kết hôn năm 1988, cùng phó tổng biên tập một tờ báo của Hong Kong. Con gái thứ Tra Truyền Nột là một họa sĩ tài năng và rất tích cực làm từ thiện. Một số người thân cận với Kim Dung nói rằng, Tra Truyền Nột là cảm hứng để Kim Dung xây dựng hình tượng Tiểu Long Nữ.
Con trai thứ Tra Truyền Thích có vẻ ngoài rất giống Kim Dung. Hồi nhỏ anh không mấy nghe lời cha mẹ, học hành cũng không có thành tích gì nổi bật. Sau này, Kim Dung cho con du học ở Anh, cậu chọn ngành kế toán vì cho rằng “kế toán chỉ cần nhập dữ liệu vào các ô cố định là ra đáp số, thích hợp nhất cho những người lười”. Tốt nghiệp đại học trở về Hong Kong, Truyền Thích về làm phó giám đốc ở nhà xuất bản của Kim Dung, giúp cha quản lý công việc về xuất bản.

Hải Lan

Bảy nàng Tiểu Long Nữ 'đọ' chất 'thần tiên'

Trần Ngọc Liên, Lý Nhược Đồng được khen ngợi gần giống Cô Cô như mô tả trong tiểu thuyết; Trần Nghiên Hy bị chê không hợp để đóng Tiểu Long Nữ.
Phan Nghinh Tử

Phan Nghinh Tử đóng Thần điêu đại hiệp bản Đài Loan sản xuất năm 1984. Phim quy tụ dàn diễn viên nổi tiếng bấy giờ là Mạnh Phi, Thẩm Hải Dung, Ứng Hiểu Vy… Tác phẩm từng gây sốt ở Đài Loan khi phát sóng tháng 6/1984.


Dương Quá Mạnh Phi và Tiểu Long Nữ Phan Nghinh Tử rất được lòng khán giả.

Trần Ngọc Liên

Trần Ngọc Liên đóng Thần điêu đại hiệp bản năm 1983. Khí chất thanh thoát, không vướng bụi trần của Tiểu Long Nữ Ngọc Liên lưu dấu ấn sâu đậm.



Đóng cặp với Trần Ngọc Liên là Lưu Đức Hoa. Sự kết đôi của cặp trai tài gái sắc mang lại nhiều thú vị cho khán giả. Phim từng phá vỡ kỷ lục tỷ lệ người xem khi phát sóng ở Hong Kong. Bản thân nhà văn Kim Dung không ít lần nói ông hài lòng nhất với bản Thần điêu của Lưu Đức Hoa - Trần Ngọc Liên, cho rằng tác phẩm phản ánh đúng linh hồn tiểu thuyết của ông.
Lưu Đức Hoa không chỉ yêu Ngọc Liên trong phim. Ngoài đời, anh cũng có tình cảm với người đẹp. Tài tử từng thổ lộ: "Ngọc Liên rất đẹp. Cảm giác mà cô ấy mang đến cho tôi thật sự rất Tiểu Long Nữ. Cô ấy tránh xa thị phi ở đời. Tôi từng tỏ tình với Trần Ngọc Liên nhưng bị từ chối”. Đức Hoa từ bỏ theo đuổi Trần Ngọc Liên sau khi biết cô là bạn gái của Châu Nhuận Phát - thần tượng của anh.

Lý Nhược Đồng

Tiểu Long Nữ của Lý Nhược Đồng chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả yêu phim võ hiệp. Rất nhiều người nhận xét Nhược Đồng là người tái hiện Cô Cô thành công nhất. “Nhược Đồng không chỉ đẹp mà còn có vẻ thoát tục. Tiểu Long Nữ của cô hư hư thực thực, có phong thái điềm tĩnh, thần tiên”, một khán giả nhận xét.


Cổ Thiên Lạc sánh đôi Lý Nhược Đồng trong bản Thần điêu 1995. Phim được xếp vào hàng tác phẩm truyền hình võ hiệp kinh điển.

Ngô Thanh Liên

Nhậm Hiền Tề, Ngô Thanh Liên đóng Thần điêu do Đài Loan sản xuất năm 1998. Tiểu Long Nữ Ngô Thanh Liên bị chê vì… mặc đồ đen.

Phạm Văn Phương

“Báu vật” điện ảnh Singapore Phạm Văn Phương hóa thân Tiểu Long Nữ trong phiên bản ra mắt năm 1998. Phim không để lại ấn tượng đặc biệt. Người đóng Dương Quá là Lý Minh Thuận. Văn Phương và Minh Thuận sau này nên duyên vợ chồng (hai diễn viên kết hôn năm 2009).

Lưu Diệc Phi

Lưu Diệc Phi đóng Tiểu Long Nữ khi chưa đầy 20 tuổi. Cô Cô của Diệc Phi có vẻ thoát tục nhưng vì diễn xuất còn khá non nớt, diễn viên chưa lột tả hết những trạng thái cảm xúc của nhân vật.


Huỳnh Hiểu Minh được chọn đóng cặp với Diệc Phi, anh hơn "Tiểu Long Nữ" 10 tuổi.

Trần Nghiên Hy




Trần Nghiên Hy vào vai Tiểu Long Nữ trong phiên bản mới nhất. Khi phim còn chưa bấm máy, diễn viên 30 tuổi đã hứng chịu nhiều lời chê. Cô bị nhận xét là không đủ chất "thần tiên" để hóa Cô Cô. Người đẹp cũng bị cho là quá tuổi để vào vai Tiểu Long Nữ.
Trần Nghiên Hy tỏ ra bình tĩnh trước các lời chê, cô mới đây viết trên trang cá nhân: "Có thể tôi không phải hình tượng Tiểu Long Nữ mà các bạn mong đợi. Nhưng tôi sẽ cố gắng mang tới một Tiểu Long Nữ mới mẻ hơn".

Tám chàng Lệnh Hồ Xung 'đọ' khí phách
Châu Nhuận Phát là Lệnh Hồ Xung ung dung tự tại nhất, còn Lữ Tụng Hiền được đánh giá lột tả thành công "Xung ca" nhất.
Châu Nhuận Phát

TVB là đơn vị đầu tiên thực hiện phim truyền hình dựa theo tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung. Trong sản phẩm truyền hình sản xuất năm 1984, Châu Nhuận Phát đảm nhiệm vai Lệnh Hồ Xung còn diễn viên Trần Tú Châu vào vai Nhiệm Doanh Doanh. Theo Sina, Nhuận Phát là chàng Lệnh Hồ Xung phóng khoáng, tự tại nhất.

Lữ Tụng Hiền

Năm 1996, TVB thực hiện bản Tiếu ngạo giang hồ mới. Nam diễn viên Lữ Tụng Hiền hóa thân thành Lệnh Hồ Xung. Đây được đánh giá là tác phẩm chuyển thể Tiếu ngạo giang hồ đạt nhất, trong khi đó Lữ Tụng Hiền được gọi là Lệnh Hồ Xung kinh điển nhất.

Lý Á Bằng

Năm 2001, Lý Á Bằng vao vai Hồ Xung trong phim cùng tên do Trung Quốc đại lục sản xuất. Đây là bản Tiếu ngạo giang hồ đầu tiên của đại lục.

Mã Cảnh Đào

Năm 2000, Mã Cảnh Đào vào vai Lệnh Hồ Xung, Phạm Văn Phương vào vai Nhiệm Doanh Doanh trong Tiếu ngạo giang hồ của Singapore. Tạo hình của Mã Cảnh Đào trong phim không được lòng các fan phim kiếm hiệp.

Lý Liên Kiệt

Lý Liên Kiệt và Lâm Thanh Hà đóng vai chính trong sản phẩm điện ảnh Tiếu ngạo giang hồ - Đông Phương Bất Bại. Lý Liên Kiệt được gọi là Lệnh Hồ Xung anh tuấn nhất.

Nhậm Hiền Tề

Năm 2000, Nhậm Hiền Tề vào vai “Xung ca”, bên cạnh "Nhiệm Doanh Doanh" Viên Vịnh Nghi, trong bản Tiếu ngạo giang hồ do Đài Loan sản xuất. Phim không chinh phục được phần lớn khán giả một phần do sự thay đổi nhiều về kịch bản so với nguyên tác.

Hứa Quán Kiệt

Bản Tiếu ngạo giang hồ của Hong Kong sản xuất năm 1990 quy tụ dàn diễn viên tài sắc Hứa Quán Kiệt, Diệp Đồng, Trương Mẫn, Trương Học Hữu... Đây được đánh giá là phim thành công nhất chuyển thể từ tiểu thuyết Kim Dung.

Hoắc Kiến Hoa

Tài tử sinh năm 1979 Hoắc Kiến Hoa vào vai Lệnh Hồ Xung trong bản Tiếu ngạo giang hồ sản xuất năm 2012. Đầu năm 2013, đoàn làm phim công bố tạo hình các nhân vật trong phim. Vẻ ngoài thư sinh của “Lệnh Hồ Xung” khiến bộ phận khán giả không hài lòng. Một số ý kiến của độc giả VnExpresscho rằng Hồ Xung Hoắc Kiến Hoa thiếu khí chất ngang tàng ngạo nghễ, ung dung tự tại.

Sưu tầm

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Phim: Ôi Chúa Ơi! (OMG: Oh My God!)

Bạn là một tín đồ Hồi giáo => Bạn tin vào Thánh Allah.
Bạn là một con chiên Thiên Chúa giáo => Chúa Jesus luôn đồng hành bên bạn.
Bạn là một người đạo Hindu => Rama, Krishna, Vishnu,... sẽ luôn che chở cho bạn.
Và bạn là abc gì gì đó thì sẽ có xyz tương ứng bảo vệ bạn từ một nơi nào đó thật xa xôi.

OMG: Oh My God! là một bộ phim khá hài hước về đề tài tôn giáo, một đề tài rất nhạy cảm tại Ấn Độ, quốc gia mà nếu một người không có đạo tại VN (người chỉ thờ ông bà thôi ấy) là cực kỳ lạ lùng và quái dị. Tuy nhiên, nếu đứng trên góc độ khoa học thì thật sự mà nói, OMG có sự phân tích rất chặt chẽ về vấn đề một số người lợi dụng sự sùng đạo của người khác để trục lợi. Nếu bạn là người có suy nghĩ thoáng và không bị cuồng quá mức về tôn giáo thì Ôi Chúa Ơi! (OMG: Oh My God!) là một sự lựa chọn đúng đắn cho bạn.

Bộ phim xoay quanh một người Vô thần tên Kanji, một doanh nhân trung niên chuyên "mua thần, bán thánh", dựa trên sự mê tín của người khác để kiếm lời. Ông ta không những không tin vào sự hiện hữu của bất kỳ một vị thần nào mà còn đả kích rất kịch liệt những bậc thầy tu, đạo sĩ mà theo ông ta là cũng chỉ toàn đi "mua thần, bán thánh" như ông ấy mà thôi.


Thể loại: Hài Hước, Thần Thoại
Đạo diễn: Umesh Shukla
Diễn viên: Akshay Kumar, Paresh Rawal, Mithun Chakraborty
Nhà sản xuất: Grazing Goat Pictures , Playtime Creations , Viacom18 Motion Pictures
Năm phát hành: 2012
Thời lượng: 125 phút
Chất lượng: HD
Quốc gia: Ấn Độ









Xin mời click vào xem ==> OMG! Oh My God