Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

18 bức ảnh về bản chất cuộc sống

Loạt ảnh về cách con người đối xử với nhau, hay bản chất của thành công dưới đây là những điều khiến chúng ta phải suy ngẫm.



Người giơ tay về phía bạn chưa chắc đã thực lòng muốn cứu bạn.



Đôi khi cuộc sống có nhẹ nhàng thoải mái hay không là dựa vào việc bạn lựa chọn con đường như thế nào.



Không cần bảo thủ quy tắc, dám sáng tạo mới có thể đánh bại đối thủ.



Phương hướng không đúng thì càng cố gắng càng gian nan.



Nắm trong tay nhiều tài nguyên đến đâu không quan trọng. Nếu bạn không biết cách sử dụng thì vĩnh viễn không bao giờ là đủ.



Có một ngày, bạn cảm thấy cuộc sống thật gian nan, nhưng như vậy thì thành quả gặt hái có thể sẽ rất to lớn.



Đến một ngày, cuộc sống của con người sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ.



Người nghèo khổ phải quỳ gối phục tùng kẻ quyền quý và mạng sống lúc nào cũng bị đe dọa.



Kẻ ăn không hết người lần chẳng ra.



Sự thờ ơ lan dần trong cộng đồngkhiến người ta không còn đức tin.



Rừng xanh dần bị con người biến thành than củi.



Dù rừng là lá phổi xanh của Trái Đất nhưng điều đó cũng không ngăn cản được con người chặt phá để kiếm lợi.



Cuộc sống khốn khó của những người nghèo khổ.



Sự chênh lệch giàu nghèo, bóc lột là vấn nạn thời nào cũng có.



Con người tự lừa dối, huyễn hoặc bản thân trước tai họa mình gây ra.



Đến một ngày, con người sẽ chỉ còn sống với những thứ tự mình tạo ra.



Có những thứ không là gì với người này nhưng lại rất có giá trị với người khác.



Những thiết bị công nghệ hiện đại do con người tạo ra sẽ hủy diệt môi trường sống của chính chúng ta.


Theo Yan.vn



















Tại sao đàn ông giống ngôi nhà, đàn bà giống chiếc xe



Đàn ông giống ngôi nhà, dù bán lại nhưng giá vẫn cứ cao, đàn bà giống chiếc xe khi bán lại rất khó bán.
Đàn ông chưa vợ giống ngôi nhà chưa có đồ đạc: ngoại hình là hình dáng của ngôi nhà, điều kiện kinh tế chính là diện tích ngôi nhà. Đàn bà chưa chồng giống cỗ xe mới: đẹp long lanh, động cơ máy móc tốt và mới, xuất thân chính là thương hiệu của xe, tính cách là hình dáng xe, chất lượng là sức mạnh của động
cơ.
Đàn ông yêu xe, đàn bà yêu nhà.
Khi đàn ông mua chiếc xe mới không bao giờ nghĩ sẽ dùng nó cả đời, nhưng đàn bà khi mua một ngôi nhà sẽ muốn gắn bó với nó suốt đời.
Cỗ xe mang đến cho đàn ông sự hãnh diện, ngôi nhà tốt mang tới cho đàn bà cảm giác yên tâm.
Đàn ông khi xài chiếc xe mới luôn cảm thấy thích thú và luôn cẩn thận. Đàn bà khi ở ngôi nhà mới phải bắt tay vào sửa sang, dọn dẹp, trang trí.
Khi một chiếc xe mới vừa ra khỏi cửa hàng thì đã bị sụt giá trầm trọng và nhanh chóng bị lu mờ bởi những chiếc xe đời mới hơn. Ngôi nhà càng lâu, càng cũ càng cổ kính, thậm chí có giá trị cao.
Đàn ông đã kết hôn giống như ngôi nhà được phụ nữ sửa sang, và trang trí luôn mới mẻ, gọn gàng và có giá trị. Đàn bà đã kết hôn giống như chiếc xe đã đi được hàng mấy chục ngàn km, bề ngoài cũng xấu đi, máy móc cũng không còn tốt nữa.
Ngôi nhà được trang trí đẹp luôn hấp dẫn những phụ nữ chưa có nhà và muốn chiếm hữu. Nhưng chiếc xe cũ dù được trang trí lại thì vẫn không còn hấp dẫn nữa.
Đàn ông đã ly dị giống như ngôi nhà đã qua tay sử dụng, dù qua tay bao nhiêu lần thì khi chuyển nhượng vẫn được giá. Phụ nữ ly dị giống chiếc sẽ đã bị chuyển nhượng vừa mất giá vừa phải sữa chữa lại từ đầu.
Tóm lại: Đối với đàn ông mà nói, thì tìm được người phụ nữ làm ngôi nhà thêm đẹp và bền vững là lựa chọn tốt nhất. Đối với phụ nữ, thì tìm người đàn ông biết giữ gìn, và thường xuyên bảo dưỡng chiếc xe của mình vẫn là lựa chọn đáng tin cậy.

Xe càng cũ, trông xấu xí nhưng máy nổ rất to.


ST

Những dấu hiệu nhận diện một người thông minh

 1. Nếu họ là nhà quản lý, sếp của bạn thì họ sẽ chẳng ngần ngại gửi bạn tới những khóa học để cải thiện bản thân và kết nối mọi người trong nhóm. Họ muốn có một đội ngũ tốt và không ngại nếu bạn thông minh hơn họ, thứ họ cần là sự tài giỏi đó phải đi cùng với khả năng đoàn kết, làm việc nhóm thật tốt.

2. Người thông minh đa phần là người im lặng nhất phòng. Đừng nghĩ vì họ không biết gì hết nên mới chọn cách “khóa miệng” nhé, họ đã học được rằng người kém thông minh mới oang oang nói tất tần tật những gì mình biết. Họ chỉ nói khi cần thiết mà thôi.




3. Những người thông minh thường biết đến những vấn đề mà bạn chỉ mới nghe qua hay thậm chí là chưa từng được biết. Họ biết về nhiều ngành nghề, nhiều chủ đề chủ yếu là do họ luôn quan tâm tới những sự việc xung quanh và họ muốn tự giáo dục nâng tầm hiểu biết bản thân. Và quan trọng hơn, với những gì chưa rõ, họ muốn tìm hiểu cho đến khi đủ mức để giảng giải cho cả mình và người khác.

4. Thử ngó nghiêng xem quanh mình có ai khiến bạn ngưỡng mộ vì khả năng sắp xếp thời gian siêu đẳng không? Trong khi bạn đang ước được ngủ thêm một chút, ngày dài thêm một tẹo thì họ đang tận hưởng cuộc sống một cách không thể trọn vẹn hơn. Vâng, đây chính là người thông minh mà bạn nên học hỏi, khả năng cân bằng mọi thứ chính là đặc điểm nổi trội của người tinh tường đấy.



5. Đừng nghĩ những người khôn ngoan sẽ là những kẻ mưu mẹo, bẩn tính. Người thông minh đa phần là những người không cười nhạo hay chơi xấu ai bao giờ, vì đơn giản họ biết rằng, ngoài kia còn rất nhiều người tài giỏi hơn họ. Và dĩ nhiên, quy luật gieo nhân nào gặt quả ấy họ cũng hiểu hơn ai hết.

6. Những người thông minh trông rất bình thường cho đến khi bạn trò chuyện và…xem hồ sơ của họ. Họ học nhiều và học chuyên sâu chứ không chỉ hời hợt qua loa. Và phần lớn họ rất hay nhảy việc để tìm kiếm việc hợp với năng lực lẫn sở thích bản thân. Điều quan trọng mà họ không sợ nhảy việc là vì họ biết mình có khả năng xoay sở và hoàn thành tốt công việc.

7. Đừng nghĩ là dễ đẩy những người minh mẫn vào ngõ cụt nhé. Não của họ luôn làm việc không ngừng và không bao giờ để mình rơi vào cảnh cùng đường đâu. Vậy nên là, họ luôn tìm được cho mình một cách giải quyết thích hợp, nắm-buông đúng lúc.

Theo Yan.vn



BÀN VỀ CHỮ XẢ

Trong đạo Phật, Tứ Vô Lượng Tâm, tức Từ Bi Hỷ Xả, là bốn tâm hạnh đặc thù cao thượng nhất, là yếu tố căn bản để cải thiện con người và cuộc đời, đưa đến một thế giới an lạc, giải thoát. Trong bốn tâm này tâm Từ Bi thường hay được nhắc đến nhiều nhất, tuy nhiên, tâm Hỷ và Xả cũng không kém quan trọng, nhất là Xả, bởi vì có thể nói là nếu không có Xả, thì cũng khó mà có Từ, Bi và Hỷ.
Thế nào là ý nghĩa chữ Xả?Xả có nghĩa là buông bỏ, thường là buông bỏ một điều gì mình đã quen có xưa nay, ví dụ như một đồ vật, một sở thích, hay một thói quen, một lề lối suy nghĩ nào đó, ngay cả một mối quan hệ giữa người và người. Xả bỏ những gì không cần thiết đối với nhiều người đã là khó, huống chi là những gì quen thuộc và ưa thích xưa nay, thật không phải là điều dễ dàng.
Trong Phật giáo thường hay nói đến chữ Chấp, như trong danh từ “cố chấp”. Chấp đối nghĩa với xả, tức là nắm giữ. Cố chấp là cố nắm giữ lấy. Thường thường người ta hay cố chấp vào những quan niệm, những điều hay làm, những thói quen, sở thích v.v.. Nhưng sống trên đời rất ít khi gặp những người giống mình, mà phần lớn con người không ít thì nhiều đều có những khác biệt với nhau, nên dễ có những mâu thuẫn, xung đột với nhau. Muốn làm như ý của mình mà không được, nếu không biết xả mà cứ cố chấp theo ý mình thì sẽ chuốc lấy phiền não, đau khổ. Trong một bài nói về những lời giảng của một đại sư Thái Lan tên là Luangpor Teean, có người hỏi sư cái gì gây ra phiền não, sư lấy một vật nắm chặt vào tay rồi thả ra cho nó rơi xuống, rồi nói: “đó là phiền não!”. Ý nói phiền não có là do những gì chúng ta cố nắm chặt lấy trong tay, nếu chúng ta buông nó ra, thì phiền não cũng không còn. Như vậy để thấy muốn dứt đoạn phiền não thì phải tập Xả.
Như vậy, chúng ta cần phải xả những gì?
Trước hết đối với bản thân, vế phương diện thể chất: Xả những gì làm vướng bận, gây trở ngại hay thậm chí làm tổn hại đến bản thân. Ví dụ như những gì có thể làm tổn hại đến sức khỏe, như hút thuốc lá, uống rượu v.v.. , hoặc những thức ăn ngon miệng nhưng lại làm hại thân thì buông bỏ bớt đi.
Về tinh thần: xả bỏ những gì trong tâm có thể gây đau khổ cho mình, tạo nghiệp ác như tham sân si, mạn nghi ác kiến, tức là tham lam, giận dữ, si mê, kiêu mạn, đa nghi, ác ý v.v… Cho tâm rộng mở, xả bỏ những quan niệm, những thành kiến chủ quan. Thế giới này có rất nhiều phiền não chỉ vì con người ta chấp theo những thành kiến mà đối xử với nhau. Bao nhiêu chiến tranh giết hại hàng triệu sinh linh trong nhân loại đều cũng khởi từ những chấp thủ nơi quan niệm, thành kiến phân biệt mà ra.
Nói đến tham sân si, ba trạng thái tâm này còn được gọi là tam độc, tức là ba thứ làm đầu độc tâm, là nhân chính khiến tâm trở nên đau khổ, bất an, và làm cho con người tạo nên những nghiệp ác. Nhưng chúng cũng rất khó buông bỏ, bởi vì chúng khởi lên từ lòng Ái Ngã, tức là lòng tự thương yêu và chấp thủ vào con người của mình, xem những gì liên hệ và thuộc về cái Tôi của mình là quan trọng nhất trên đời . Muốn bỏ được sự chấp thủ vào cái Tôi ấy của mình phải đi vào tận gốc, tức là phải tập quán chiếu đến sự vô thường giả tạm trong sự hiện hữu của mình cũng như của mọi người mọi vật, thấy tất cả đều vốn là Không, không có thực thể thường hằng, lúc đó mới có được trí tuệ để buông bỏ.
Nhựng để có được trí tuệ buông bỏ không phải là điều dễ dàng. Hiểu biết về giáo lý Đức Phật không chưa đủ, còn phải thực hành để áp dụng vào cuộc sống. Trí tuệ của Pháp Phật không phải do những kiến thức từ bên ngoài, mà do sự hiểu biết bản thân mình trước hết, thấy rõ thực chất bản tánh con người của mình, và từ đó có cái nhìn bao quát và khách quan đối với những hiện tượng và hoàn cảnh xảy ra. Thực hành đạo Phật có nhiều pháp tu tùy theo căn cơ và trình độ mỗi người, nhưng hầu hết đều đặt trên căn bản Giới, Định, Tuệ. Giới Định Tuệ có nghĩa là: hành trì giới luật để tâm được an định, và tâm an định rồi thì phát sinh trí tuệ. Tất cả đều là những phương tiện để đối trị và điều ngự tâm. Tâm con người như con trâu hoang, nếu không kiểm soát và chế ngự sẽ dễ dàng bị những vọng động cảm xúc lôi cuốn vào những hành động tạo tác gây phiền não khổ đau. Nhưng những vọng tưởng tự chúng cũng vốn là vô thường, huyễn ảo, nên theo kinh, Tham Sân Si bản chất cũng vốn là Không. Vì vậy, khi tâm tam độc chuyển hóa từ u mê ám chướng thành trong sáng thanh tịnh, thì tham sân si sẽ trở thành giới định tuệ, và phiền não sẽ trở thành sự an lạc của Bồ Đề Tâm.
Trong cuôc sống đời thường, có rất nhiều liên hệ ràng buộc cũng như những hoạt động hàng ngày để đáp ứng nhu cầu của bản thân cũng như gia đình. Chúng ta phải tập xả bỏ những ý kiến chủ quan của mình, biết lắng nghe người khác để có một cái nhìn toàn diện hơn trong nhiều vấn đề. Xã hội càng văn minh, con người càng trở nên bận rộn hơn, nhiều khi cảm thấy không có được một giây phút nào nhàn hạ. Nhưng người xưa có câu: “Biết đủ tức là đủ, biết nhàn tức là nhàn”. Biết đủ, biết nhàn không có nghĩa là bỏ hết mọi việc, mà là có cái tâm “biết đủ, biết nhàn” ngay trong những công việc phải làm - điều đó có nghĩa là phải có một tâm buông xả ngay trong những hoạt động. Tâm buông xả ấy có được là do sự bồi dưỡng tâm linh. Xã hội ngày nay có quá nhiều nhu cầu vật chất, quá nhiều những hoạt động ngoại vi. Người ta bị cuốn hút theo những hoạt động không ngừng của công việc, để rồi lại chạy theo những hoạt động giải trí để làm cho tâm hồn bớt căng thẳng, nhưng những thú vui trong giây lát đó không làm dứt được phiền não trong tâm, và đôi khi lại càng làm cho thêm mệt mỏi. Thay vì cứ miên man chạy theo những hoạt động, nếu biết bỏ một ít thì giờ trong ngày để tịnh dưỡng tâm hồn, xả bỏ mọi toan tính, mọi âu lo để trở về với chính mình, thì chỉ một ít thời giờ trong ngày đó cũng đủ để cho có một nguồn năng lượng tích cực, và sẽ có sự sáng suốt để thấy những gì cần phải làm, cái gì cần phải xả bỏ đi. Ngay cả những quan hệ không cần thiết và có thể đem lại sự phiền toái cũng nên xả bỏ. Người Mỹ với tinh thần thực tế đã nghiên cứu đủ mọi vấn đề, gần đây có một quyển sách mới ra có tựa đề “Bỏ chúng đi” (Dump ‘em), chỉ cách buông bỏ những quan hệ có thể gây phiền não, dù chỉ là những quan hệ lặt vặt như là quan hệ với người làm tóc, với mẹ của bạn v.v…
Trong những quan hệ gần gũi như vợ chồng, như cha mẹ với con v.v.. lại cần phải tập xả rất nhiều, vì càng thân cận lại càng có những ý tưởng sở hữu, coi người kia là của mình và muốn người ấy phải theo như ý mình muốn. Nhưng con người đến với nhau vì duyên nghiệp, không có ai là thuộc về ai cả. Tất cả đều như những nguời đồng hành đi trên một chuyến tầu, và đến một lúc nào đó, mọi người sẽ lần lượt rời đi và chuyến tầu đó sẽ không còn lại ai. Những gì do duyên hợp đều sẽ do duyên tan, không có gì có thể nắm giữ được. Phật nói đến 12 nhân duyên đưa đến luân hồi sinh tử, trong đó khởi đầu là vô minh, rồi đến những yếu tố tạo thành con người như hành thức, danh sắc, cảm thọ v.v. và khi có Ái thì cũng có Thủ, cho nên càng luyến ái lại càng muốn nắm giữ, và càng nắm giữ lại càng là nhân cho phiền não. Thường người ta hay bám víu lấy hạnh phúc, hay niềm vui, vì thế khi niềm vui hay hạnh phúc ấy bay đi thì cảm thấy đau khổ vô cùng. Vì vậy phải biết buông xả sự chấp chặt vào niềm vui hay hạnh phúc trong hiện tại cũng như quá khứ. William Blake đã nói rất hay về sự buông xả những ràng buộc trong niềm vui và hạnh phúc như sau:
Kẻ đem niềm vui trói buộc
Sẽ gục ngã với đôi cánh đời
Hôn niềm vui, cho nó nhẹ bay xa
Đời sẽ là một bình minh vô tận
Nói về Ái , Ái có nghĩa là yêu, nhưng cũng có nghĩa là ghét, vì yêu và ghét thường đi đôi với nhau. Yêu và ghét đều ám ảnh, ràng buộc tâm mình với đối tượng. Cho nên khi yêu không nên nắm giữ, mà khi ghét lại càng phải xả sự ràng buộc trong tâm với những gì mình ghét hay không ưa thích, vì mọi phiền não đều phát xuất từ đó. Dù hoàn cảnh đến thế nào, cũng không nên ôm chặt lấy những nỗi buồn, nỗi đau mà phải biết xả bỏ chúng đi. Kinh Pháp Cú nói: “Không đau khổ giữa những người đang đau khổ”, tức là dù ở giữa hoàn cảnh đau khổ thế nào cũng phải có một tâm bất động, xa lìa sự đau khổ đó qua sự buông xả và gạt bỏ những tư tưởng bi quan, tiêu cực trong tâm. Cầu nguyện hay niệm Phật cũng là một cách để buông xả và thanh lọc tâm, do đó chuyển được nghiệp xấu. Một cách xả bỏ tích cực khác là làm những việc có ý nghĩa, quên mình đi để nghĩ đến người khác. Lúc đó lòng từ bi đóng một vai trò quan trọng để xả bỏ những hận thù, đem lại một sự chuyển hóa tích cực trong tâm. Ở Mỹ, có những người đã từng là nạn nhân hay có người thân là nạn nhân của những tội ác khủng khiếp đã tìm cách xả bỏ hận thù của mình qua việc tích cực hoạt động trong những hội tương trợ để giúp ngăn ngừa những tội ác đó tái phạm, đó là một thái độ đem ích lợi cho bản thân và cho người khác, tự lợi và lợi tha.
Đối với những người tu, Xả lại càng đóng vai trò quan trọng, có thể nói, Tu chính là tập buông xả.
Trong kinh Pháp Cú, câu đầu tiên là: “Trong tất cả mọi sự, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. “ Hay nói đúng hơn, những ý tưởng khởi lên trong tâm là tác nhân chính cho mọi nghiệp thiện, nghiệp ác xẩy ra với chúng ta. Cho nên khi được hỏi về đại ý của Phật Pháp, tổ A Nan đã nói như sau:
Buông mọi niệm ác
Năng giữ niệm lành.
Giữ thân tâm thanh tịnh
Đó là lời Phật dạy
.
Như thế, người tu phải luôn luôn quán sát những ý tưởng, khởi niệm trong tâm mà buông bỏ, đầu tiên là buông bỏ những niệm ác, tiêu cực, rồi lần lần buông hết mọi niệm, đi đến chỗ nhất niệm như khi niệm Phật, hoặc vô niệm như khi thiền định. Vô niệm không có nghĩa là trống không, mà là không trụ vào đâu cả, nên không bị vướng mắc, không còn thấy phiền não. Tâm đạt đến nhất niệm hay vô niệm sẽ trở nên thanh tịnh, có được sự an định và do đó trí tuệ sẽ phát sinh.
Trong kinh Phật có kể câu chuyện một vị thiên nhân muốn đi gặp Phật để hỏi về Phật Pháp, trên đường đi ông thấy không có gì đem cúng dường, bèn nhổ hai cây ngô đồng đang trổ hoa thật đẹp đem theo. Khi gặp Phật, Đức Phật bảo ông : « Bỏ xuống ! » Ông bèn bỏ một cây ngô đồng xuống. Phật lại nói : « Bỏ xuống ! », ông bỏ nốt cây ngô đồng còn lại. Phật vẫn nói : « Bỏ xuống ! » Vị thiên nhân ngạc nhiên hỏi : « Nhưng con đã bỏ hết hai cây ngô đồng xuống rồi ! » Phật bảo : « Tôi không bảo ông bỏ hai cây ngô đồng, mà bảo ông bỏ cái tâm chấp trước đi ! »
Có những người có ít nhiều kiến thức Phật Pháp thường hay bị một căn bệnh gọi là sở tri chướng, tức là bị chướng ngại bởi chính kiến thức của mình. Càng biết nhiều, học nhiều lại càng dễ lạc vào đám mây mù của kiến chấp, quên đi rằng sự đoạn trừ phiền não, thoát ly sinh tử, tức cứu cánh của Phật đạo, là không thể đạt được qua kiến thức, mà chỉ có thể đạt được qua sự giác ngộ chân tánh hay Phật tánh nơi bản thân. Phật tánh hay Bản Lai Diện Mục chỉ có thể hiển lộ nơi sự không rỗng, không lặng của một tâm buông xả. Có một câu chuyện Thiền được kể như sau :
Một học giả nghiên cứu về Phật Pháp nghe tiếng một vị thiền sư nọ, bèn đến yết kiến để xin học đạo. Thiền sư đưa chén trà, rồi rót trà vào đó cho đến đầy tràn, mà vẫn tiếp tục rót. Học giả kêu lên :
- Chén đã đầy, sao Thầy còn rót mãi làm gì ?
Thiền sư nói :
- Thì cũng như kiến thức đã đầy trong tâm ông, nếu không biết buông đi thì làm sao tiếp nhận được cái mới ?
Như Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói trong “Ngộ Tánh Luận” : “không biết buông xả trí tuệ là ngu si”, nếu còn chấp vào trí tuệ của mình, còn thấy mình thông thái, thì trí tuệ đạt được vẫn còn có sự chấp ngã, vẫn còn có tâm phân biệt. Cho nên khi buông xả không những là phải xả thân, tức là xả những chấp thủ, những nắm giữ vào thân vô thường huyễn ảo của mình, mà còn xả luôn cả tâm nữa, tức là xả bỏ mọi ý niệm, mọi ý thức phân biệt trong ngoài. Xả bỏ toàn diện được là có sự thấy biết không rỗng, vô tâm, vô tướng của hàng Bồ Tát. Cho nên theo như kinh Kim Cang, Bồ Tát bố thí mà không thấy có bố thí, độ ngưòi mà không thấy có độ người. Và từ sự buông xả toàn diện đó, mới khởi phát lòng Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả để cứu độ muôn loài.
Phải chăng, đó cũng là một lý do để Xả (Bố Thí) đứng đầu tiên trong Lục Độ Ba Ma Mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ), sáu hạnh chính người tu phải hành trì để siêu vượt từ bờ mê qua bến giác ngộ giải thoát?

Ngọc Bảo
 

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Tập quán lì xì của người Việt chúng ta thực sự bắt nguồn từ một truyền thống lâu đời của Trung Quốc, và không nhất thiết là chỉ dành riêng cho trẻ con vào dịp Tết mà còn cho cả người lớn trong các dịp lễ lạc và giao tiếp xã hội quanh năm. Chịu ảnh hưởng văn minh Trung Quốc từ lâu nên không những ở nước ta mà còn ở nhiều nước châu Á thì tập quán này cũng rất phổ biến và dường như ngày nay lại càng được thực thi rộng rãi.
Hai chữ "lì xì" bắt nguồn từ tiếng Hán là "lì shi" (利市), dịch sang Hán Việt là "lợi thị", có nghĩa là tốt lành, may mắn, thu được nhiều lợi lộc và "lì shi" lại cũng còn được gọi là "hồng bao" (紅包), tức là chiếc bao màu đỏ. "Li shi" hay "lợi thị" là một từ ghép gồm hai chữ lợi và thị, và nếu tra cứu các quyển tự điển Hán Việt thì tất chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa của chữ lì xì hay lợi thị là gì.

Chữ "lợi" (利) có nhiều nghĩa:

- sắc bén, chẳng hạn như lợi khí (利器) hay binh khí sắc bén, có nghĩa là một phương tiện hữu hiệu.
- thích nghi, thuận lợi, chẳng hạn như đại cát đại lợi (大吉大利), có nghĩa là thật tốt lành và thuận lợi.
- Có lợi ích, chẳng hạn như "ích quốc lợi dân" (益國利民), có nghĩa là có ích cho đất nước và có lợi cho người dân.
- tiền lời hay tiền lãi sinh ra từ tiền vốn, chẳng hạn như lợi thị tam bội (利市三倍), có nghĩa là tiền lãi gia tăng gấp ba.
- lợi dụng (利用), có nghĩa là mượn dịp hay thừa dịp để tìm kiếm lợi lộc.
Chữ Thị (是) cũng có nhiều nghĩa:
- chính sách, kế hoạch, chẳng hạn như quốc thị (國是), có nghĩa là kế hoạch quốc gia hay chính sách nhà nước.
- thuận tiện, tốt đẹp.
- có lợi ích, có công dụng tốt, chẳng hạn như ngư ông đắc lợi (漁翁得利).
Tóm lại thật rõ ràng lì xì không phải chỉ là một tập tục trong mấy ngày Tết mà còn là một phương tiện hữu hiệu hay một sách lược hầu mang lại sự lợi lộc cho tất cả mọi người. Đối với dân làm ăn sành sỏi thì lì xì là một lợi khí giúp hoạch định các kế hoạch kinh doanh, họ cân nhắc chiếc "hồng bao" như thế nào cho vừa đủ, không quá hụt cũng không quá hời, hầu có thể đạt được chỉ tiêu lợi thị tam bội tức là tiền lãi thâu về phải đạt gấp ba tiền vốn. Thế nhưng trong việc làm ăn thì cũng khó tránh khỏi rủi ro vì có thể sẽ mất cả chì lẫn chài mà lại không đuợc việc gì. Chỉ đáng buồn cho những gia đình nghèo khó, vì lì xì là cả là một nỗi khổ tâm và lo âu khi ngày Tết gần kề. Trên đây chỉ là hai khía cạnh kém sắc thắm của chiếc hồng bao. Nếu nhìn vấn đề này một cách bao quát hơn thì nào là ma chay, cưới hỏi, công ăn việc làm, giấy tờ, phường khóm, nhà nước... không biết bao nhiêu chiếc "hồng bao" đã và sẽ được chuyển tay.
Thật ra tập tục trao đổi và luân lưu những chiếc "hồng bao" của xã hội còn che giấu những khía cạnh thật tinh tế mà chúng ta ít khi quan tâm đến. Mỗi khi có một người nào đó cho tiền vào chiếc "hồng bao" thì ắt không tránh khỏi kèm theo các xúc cảm của mình. Các xúc cảm ấy có thể là một niềm vui, một sự hãnh diện, nếu là một người có chức phận và giàu sang, hoặc cũng có thể là một sự tính toán và cầu mong nếu là những người làm ăn sành sỏi, hoặc nếu những người dân bình dị bị ép buộc phải… lì xì, thì chắc hẳn cũng khó che dấu được các xúc cảm thù hận, khinh bỉ và đau buồn gói ghém trong những cái bao đỏ ấy. Người nhận khi mở chiếc "hồng bao" để lấy những gì trong đó thì cũng sẽ kéo theo những xúc cảm kèm với chiếc "hồng bao" ấy để mà biến chúng thành những niềm hân hoan và vui sướng trong lòng mình.
Chìa tay đưa chiếc "hồng bao" hay đút chiếc "hồng bao" vào túi đều là các động tác mang tính cách chủ tâm. Theo Phật Giáo thì bất cứ một hành động hay một động tác chủ tâm nào cũng đều tạo ra nghiệp. Nếu chiếc hồng bao biểu trưng cho một sự tính toán hay một niềm vui sướng thì nghiệp đưa đến sẽ mang cùng một bản chất với nó, tức là sự bám víu, tham lam và thèm khát, một thứ nghiệp buộc chặt mình trong thế giới luân hồi. Nếu chiếc "hồng bao" là một sự oán hận, khinh bỉ và u buồn thì nghiệp tạo ra sẽ là hận thù, và đến một lúc nào đó nghiệp ấy sẽ biến thành quả gây ra tác hại cho mình và cho cả người đút chiếc "hồng bao" vào túi.
Sự luân lưu của những chiếc "hồng bao" trong cuộc sống có vẻ như là một động cơ thúc đẩy sự sinh hoạt và tạo ra các điều kiện thuận lợi trong các mối giao tiếp trong xã hội, thế nhưng thật ra sự luân lưu ấy dù là theo chiều hướng nào, hân hoan, hận thù hay mưu mô, đều tạo ra những mối dây trói buộc đày đọa con người. Thật ra sự trói buộc ấy cũng chỉ là sự vận hành tự nhiên của quy luật nguyên nhân hậu quả, không sơ hở cũng không nhân nhượng một ai cả, chỉ tiếc là không mấy người nhận thấy được sự vận hành của quy luật thật đơn giản ấy mà thôi.
Cách nay đã khá lâu tôi có dịp ghé thăm một cô giáo cấp 1. Cô ấy mời tôi ăn bánh trung thu và nói: "Anh biết không, cứ mỗi dịp Trung Thu thì học trò thay nhau biếu em có đến vài chục hộp bánh trung thu. Em thì không thích ăn bánh thập cẩm, thế nhưng gần như hộp nào cũng gồm toàn là thứ bánh ấy, đến độ em phải nhắc khéo với bọn trẻ con là em chỉ thích bánh nhân hạt sen hay là bánh dẻo". Cầm miếng bánh dẻo trên tay tôi bâng khuâng và nghĩ ngợi rất nhiều, không biết mẫu bánh tôi đang cầm là được một gia đình khá giả mua biếu cô giáo, hay là của một gia đình phải chạy nợ để mua. Thiết nghĩ phàm làm một điều gì - dù chỉ ăn một miếng bánh - người Phật tử chúng ta cũng nên ý thức đuợc nguyên nhân và hậu quả của nó có thể mang lại cho mình và cho người khác. Tất cả chúng ta đều trực tiếp hay gián tiếp tập cho các em tập tục "hồng bao" từ thuở nhỏ, vì thế đôi khi phải nhìn vào cách hành xử của chính mình mà không nên chỉ biết nhìn vào kẻ khác để chỉ trích họ là tại sao lại tận dụng quá đáng phương tiện sắc bén của chiếc "hồng bao".
Suy đi nghĩ lại tất chúng ta cũng phải thú nhận rằng người Phật Giáo cũng thực thi tập tục trao đổi ấy rất tích cực, thế nhưng có một sự khác biệt thật căn bản: họ không bao giờ chờ đợi một sự hồi đáp nào từ bàn tay xòe ra của họ, dù họ có trao những chiếc "hồng bao" thì đấy không phải là một sự ép buộc mà chỉ là một cách gói ghém thật kín đáo lòng từ bi của mình mà thôi. Thật vậy bản tính con người là sống tập thể, không có ai tự sống một mình được, tất cả đều nương tựa vào nhau để cùng tạo ra xã hội, vì thế truyền thống "hồng bao" gói ghém một chút tương trợ và tình thương yêu thật hết sức cần thiết cho sự tồn vong của nhân loại. Nhân đây chúng ta hãy cùng đọc một câu chuyện thiền thật đơn giản liên quan đến cái truyền thống "hồng bao" ấy.
Câu chuyện được trích từ một quyển sách tiếng Nhật mang tựa "101 Câu chuyện thiền Zen", góp nhặt một số các công án thiền vào thế kỷ XIII và thế kỷ XX, và đã được xuất bản ở Nhật năm 1919. Bản dịch đầu tiên sang tiếng Anh được xuất bản ở Mỹ năm 1940, tức là vào một giai đoạn căng thẳng khởi đầu Thế Chiến Thứ Hai. Một điều khá thú vị là ít nhất đã có bốn bản Việt dịch của quyển sách này: Ngô Tằng Giao (2004), Trần Trúc Lâm (2010), Nguyễn Minh (2009), Trần Đình Hoành (?), và cả bốn bản dịch xuất hiện đồng loạt trong vòng vài năm và cùng được dựa vào bản dịch tiếng Anh của Paul Reps xuất bản hơn sáu mươi năm trước đó.
Câu chuyện được trích dẫn dưới đây là câu chuyện thứ 33 trong sách và mang tựa là "Bàn Tay của thiền sư Ma Tuyến" ("Mokusen' s Hand"). Mokusen Hiki (1846-1920) là một vị thiền sư thuộc học phái Tào Động và cũng là vị chính thức thừa kế của dòng truyền thừa này. Kinh sách Hán ngữ dịch âm tên ông là Moxian (魔线), chuyển sang tiếng Hán Việt là Ma Tuyến. Tào Động là một học phái Thiền của Trung Quốc được Đạo Nguyên (1200-1253) mang về Nhật, khai triển thêm và truyền bá trong quốc gia này. Năm 1244 Đạo Nguyên xây dựng một ngôi chùa nhỏ toàn bằng gỗ trên hòn đảo Honshu, miền nam nước Nhật. Chùa mang tên là Eihei-ji, và nhà sư Ma Tuyến đã trụ trì ngôi chùa này khi xảy ra câu chuyện bàn tay mang tên ông như sau:
"Thiền sư Ma Tuyến sống trong một ngôi chùa ở thị trấn Tamba. Một hôm có một đệ tử tâm sự với ông về người vợ quá ư keo kiệt của mình. Ma Tuyến bèn đích thân tìm đến nhà người này để gặp vợ anh ta. Khi gặp bà này ông nắm chặt bàn tay của mình lại và đưa ra trước mặt bà này rồi cất lời hỏi như sau:
- "Nếu như bàn tay của ta cứ nắm chặt lại như thế này mà không sao mở ra được nữa, thì bà nghĩ thế nào?"
Người phụ nữ khá sửng sốt vì câu hỏi bất ngờ ấy, vội đáp rằng:
- Nếu thế thì bàn tay của ông bị khuyết tật rồi!
Vị thiền sư bèn xòe bàn tay ra và lại hỏi:
- Thế nhưng nếu nó cứ xòe ra như thế này mà không còn nắm lại được nữa thì nghĩa là gì?
Người đàn bà lại đáp:
- Thế thì nó cũng lại bị khuyết tật chứ gì nữa!
Vi thiền sư bèn nói với người đàn bà rằng:
- Vậy thì khi nào bà hiểu được ý nghĩa sâu xa của những lời mà bà vừa nói, thì tất bà sẽ trở thành một người vợ xứng đáng.
Nói xong vị thiền sư quay về chùa. Ít lâu sau người ta thấy người phụ nữ, một mặt rất tích cực giúp chồng bố thí, một mặt thì biết chi tiêu tiện tặn trong gia đình.
Khó có ai nghèo hơn Đức Phật được. Ngài đi chân đất, trên người chỉ có hai chiếc áo cà-sa thay đổi, khâu bằng những mảnh vải vụn nhặt được ở vệ đường hay trong các bãi tha ma, và trên tay chỉ có một chiếc bình bát để khất thực. Thế nhưng hai bàn tay của Ngài lúc nào cũng để ngửa là mang đến cho chúng ta những gì? Món quà quý giá nhất mà Ngài đã ban cho chúng ta là sự thật. Sự Thật của cả một Con Đường.

Bures-Sur-Yvette, 02.01.2015

Hoang Phong

ẤM ÁP LÀ KHI...

Ấm áp không phải là khi
Ngồi cận kề bên bếp lửa,
Mà là lúc ta ngồi giữa
Một bầu không khí thương yêu?!


Ấm áp đâu phải mặc nhiều
Một lần hai, ba chiếc áo.
Là khi giữa trời mưa bão
Đằng sau.. choàng áo cho mình.

Ấm áp là.. sống hữu tình
Biết trao ánh nhìn thông cảm,
Một que diêm bừng lửa sáng
Đẩy lùi ảm đạm mùa Đông.

Nào phải mũ len, áo bông
Mới nghe đời thêm ấm áp!
Là khi gặp được bạn lòng
Bên tách trà nồng, hương ngát.

- Được sống trong nhà Phật Pháp
Tâm hồn ngày mỗi thăng hoa
Dù đời vẫn cứ mưa sa
Vẫn thế, lòng ta ấm áp.

Đâu phải thật nhiều quà cáp
Mới thấy dào dạt niềm vui,
Ấm áp những khi.. ngậm ngùi
Có một bờ vai tin cậy.

Không phải xoa bàn tay lại
Cơn lạnh mùa Đông qua đi.
Là đường đời lúc gian nguy..
Chợt ai đến chìa tay nắm.

Thà khi '' lạnh ngoài, trong ấm ''
Đời vui, dù sống cảnh nghèo
Hơn là '' ấm ngoài, trong lạnh ''
Sang giàu vẫn cứ cô liêu...

Thích Tánh Tuệ

Bodhgaya - India - Noel 2014


Con hẻm nhỏ đặc biệt giữa Sài Gòn - nơi cái gì cũng được dùng miễn phí!

Từ tủ thuốc treo ngay ở đầu hẻm, bình nước uống hay xe ôm, vá xe... cho đến cả dịch vụ mai táng, cái gì trong con hẻm nhỏ này cũng đều được ghi rõ là "miễn phí". Nhờ nó mà những người nghèo khổ, những người khuyết tật khó khăn, mỗi khi đi qua đây lại thấy ấm lòng hơn...Những ai đi ngang qua con hẻm 96 (đường Phan Đình Phùng, phường 2, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh) sẽ không khỏi bất ngờ với hình ảnh chiếc tủ thuốc từ thiện được treo ngay đầu hẻm.
Chiếc tủ thuốc này đã xuất hiện ở đây hơn 10 năm nay, do người dân trong hẻm chung tay, góp sức dựng nên. Người có tiền thì góp dăm ba chục nghìn, người không có tiền thì góp vỉ thuốc, chai dầu gió, cuộn băng keo y tế... Tuy đơn sơ, giản dị nhưng nhờ chiếc tủ thuốc này mà có biết bao người đi đường được giúp đỡ kịp thời.

Con hẻm nhỏ đặc biệt giữa Sài Gòn - nơi cái gì cũng được dùng miễn phí! 1
Tủ thuốc từ thiện được người dân treo ngay đầu hẻm để cứu giúp những người chẳng may gặp nạn.

Bác Đỗ Văn Phúc (SN 1965, chạy xe ôm ở con hẻm này đã hơn 30 năm) cho biết: “Con hẻm nằm đối diện chợ Phú Nhuận nên hằng ngày có rất đông phương tiện giao thông qua lại. Vì thế, có nhiều trường hợp bị tai nạn, người thì trầy tay, xước chân, xây xát mặt mũi, người thì bị xỉu ngay tại chỗ. Những trường hợp như thế đều được mọi người dìu vào hẻm này sơ cứu, bôi thuốc sát trùng, cầm máu trước khi chuyển đến bệnh viện”.

Con hẻm nhỏ đặc biệt giữa Sài Gòn - nơi cái gì cũng được dùng miễn phí! 2
Bình nước uống miễn phí và tấm biển bơm vá xe miễn phí cho người khuyết tật.

Bác Phúc cho biết thêm, không chỉ người bị tai nạn mà cả những người buôn gánh bán bưng, chạy xích lô, bán vé số…đi ngang qua đây chẳng may bị xỉu vì bị trúng gió, cảm nắng cũng được người dân dìu vào hẻm để cạo gió, xoa dầu, nghỉ ngơi một lát cho khỏe lại rồi lại tiếp tục công việc của mình.

Con hẻm nhỏ đặc biệt giữa Sài Gòn - nơi cái gì cũng được dùng miễn phí! 3Hàng ngày, rất nhiều người qua đường đã ghé lại đây để uống nước. Em Long (16 tuổi) chia sẻ: “Nhà em có 5 anh em. Mỗi ngày, hai anh em em đều chở nhau trên chiếc xe đạp đi bán vé số mưu sinh. Nhiều lúc khát khô cả cổ nhưng không dám ghé mua chai nước vì sợ tốn tiền. Em còn phải để dành tiền để lo cho mấy đứa em ở nhà nữa. Nhìn thấy bình nước đá lạnh miễn phí ở hẻm này thì mừng lắm, nhẹ cả người. Vậy là khỏi phải tốn tiền mua nước”.
Người dân trong hẻm này đa số cuộc sống còn khó khăn, vất vả nhưng dường như với họ, tinh thần “lá lành đùm lá rách” đã ngấm vào máu thịt. Cứ thấy tủ thuốc vơi đi là không ai bảo ai, họ đều tự nguyện bổ sung vào để thuốc không bao giờ bị hụt.
Anh Nguyễn Minh Hùng (SN 1967, thợ sửa xe ở con hẻm này) cười bảo: “Mọi người ở đây tuy nghèo nhưng tình nghĩa lắm. Ai có nhiều góp nhiều, ai có ít góp ít, có người chỉ bỏ công. Nhưng chủ yếu là tấm lòng thiện nguyện, họ sẵn sàng nhịn ăn để lấy tiền mua vài vỉ thuốc ủng hộ, giá trị của tình người, của tinh thần tương thân tương ái còn cao hơn nhiều lần so với giá trị vật chất”.
Con hẻm nhỏ đặc biệt giữa Sài Gòn - nơi cái gì cũng được dùng miễn phí! 4Bác Phúc (SN 1955), hành nghề xe ôm ở hẻm 96. Trong suốt 30 năm chạy xe ôm, bác đã chở miễn phí cho không biết bao nhiêu người tàn tật.

Chỉ tay vào góc đường, nơi có bình nước miễn phí, anh Hùng cho biết, hằng ngày có rất nhiều người nghèo khổ đi qua đây uống nước. Mỗi ly nước chỉ vỏn vẹn 2.000 đồng nhưng với những người lao động nghèo khổ đó lại là số tiền không hề nhỏ bởi họ phải cố chắt chiu từng đồng bạc lẻ để lo cho gia đình. Nếu như còn mua nước nữa thì sẽ thâm hụt tiền, chiều về sẽ không có tiền đong gạo. Ngoài ra, trong con hẻm này, còn có một đội xe ôm tình nguyện chở miễn phí cho người già, người khuyết tật cần di chuyển trong nội thành bất kể mưa nắng. Với họ, công việc đó là niềm vui, là trách nhiệm.


Anh Hùng (SN 1967) làm nghề vá xe ở đầu hẻm và kiêm luôn việc trông coi bình nước miễn phí. Hằng ngày, anh vá xe miễn phí cho rất nhiều người khuyết tật.
Tấm biển của người đàn ông nghèo giàu lòng thiện nguyện

Cũng tại hẻm này, nhiều người ngạc nhiên xen lẫn tò mò với một tấm biển có nội dung: "Vạn Phúc - Điểm giúp hòm từ thiện, trợ táng miễn phí phục vụ 24/24, kể cả ngày lễ, tết và Chủ nhật". Thấy chúng tôi khá tò mò, một người dân ở đây đã nhiệt tình dẫn chúng tôi đến gặp “chủ nhân” của tấm biển ấy. Đó là anh Nguyễn Văn Úc (SN 1963) và hiện đang làm nghề xe ôm.


Nhờ vào lời “rao” của anh Úc mà hàng chục người đã có “nơi yên nghỉ” đàng hoàng.
Khi chúng tôi đề cập đến tấm biển, anh nhớ lại: “Lúc xưa, tôi làm nghề xe ôm, trong một lần chở khách đi xa về thì gặp cướp. Bọn chúng đánh tôi ngã xuống, tụ máu trong não. Lúc đó, vì nhà quá nghèo, không có tiền đi bệnh viện nên tôi cứ để mặc cho số phận. Nhưng đầu tôi càng ngày càng đau, không làm được việc gì cả. Sau đó, gia đình tôi cố vay mượn để tôi đi bệnh viện. Bác sĩ kết luận tôi bị tụ máu bầm trong não, tôi còn sống là một may mắn lớn. Từ đó về sau, tôi nguyện suốt đời làm việc thiện để giúp đỡ người khác”.
Anh Úc cho biết, ở khu vực này, người dân nghèo vô gia cư hay đến xin ăn ngủ ở vỉa hè, sống lê lết ngoài đường. Có nhiều trường hợp nửa đêm đột tử mà không có họ hàng thân thích đứng ra lo liệu, anh không đành lòng nhìn thấy cảnh thân xác của những người này bị công ty môi trường đến dọn dẹp, nên đã nảy ra ý nghĩ lo chuyện hậu sự cho họ.


Anh Úc với công việc chạy xe ôm hàng ngày để kiếm sống. Mặc dù cuộc sống còn nhiều vất vả, nhưng đối với anh, có thể mang lại hạnh phúc cho người khác là một niềm vui lớn.
Vì chưa có điều kiện, anh Úc không ngại vất vả, đi vận động từng cơ sở trại hòm. Thấy được tấm lòng lương thiện của người đàn ông khắc khổ, nhiều cơ sở đồng ý giúp anh. Từ đó đến nay, anh cũng đã lo chuyện hậu sự cho hơn chục trường hợp. Đối với những người già neo đơn, hoàn cảnh khó khăn thì anh giúp đỡ họ bằng chiếc hòm, có khi đưa đi hỏa táng luôn. Với người vô gia cư, anh Úc lo từ đầu tới cuối, giúp họ sớm được siêu thoát.

“Họ cơ cực một đời rồi, khi chết đi cũng cần tử tế, bình yên để về với đất mẹ. Tôi nghĩ công việc này rất bình thường. Ai có tấm lòng thiện nguyện đều cũng sẽ làm như tôi. Tuy việc làm nhỏ nhoi, nhưng tôi cảm thấy lương tâm thanh thản là được rồi. Tôi vẫn sẽ làm công việc này cho đến khi nào không còn sức lực nữa mới thôi”.


Theo http://kenh14.vn/