Hiển thị các bài đăng có nhãn HỎI ĐÁP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỎI ĐÁP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Thấu hiểu tận nguồn tình yêu và chuyển hóa lời thề độc

Trình bạch thầy,
Con là một người bướng bỉnh và hơi quá trong chuyện tình cảm. Cũng vì con đã gặp và yêu 1 người quá yêu con nên con bị ảo tưởng hơi quá về tình cảm mà người đó dành cho mình. Trong tâm trí con, con luôn nghĩ người đó coi trọng con nhất trên cõi đời này. Cũng chính vì sau những lần cãi nhau với người đó con rất giận và không làm chủ được bản thân. Khi người đó đi chơi với bạn, con đã thề độc là nếu người đó không trở về ngay với con thì sau này con sẽ không có bất cứ quan hệ gì với người ấy nữa, nếu làm sai thì con sẽ "..." (là một lời thề độc mà con xin phép không nói ra đây).

Nhưng khi lâu quá người đó không trả lời lại điện thoại của con, con chịu không được nữa nên gọi cho bạn người ấy rồi bắt người ấy phải về với con, cuối cùng người ấy cũng phải nghe con. Liệu như vậy có được tính là người ấy đã nghe theo lời con không (vì con đã ép người ấy & thực hiện điều đó hơi trễ). Con thấy người ấy khóc lóc xin con tha thứ con cũng không đành lòng. Nhưng nếu mềm lòng tha thứ cho người ấy sau này lời thề có thể sẽ thành sự thật, con thực sự rất đau lòng và dằn vặt.
Bạch thầy từ bi, xin cho con 1 lời khuyên để tâm hồn con được thanh thản, cũng chỉ tại con quá tin tưởng vào tình cảm của người đó, con thấy vô cùng hối hận vì đã làm điều dại dột này. Xin thầy tiếp nhận lời sám hối của con và cho con 1 lời khuyên để được giải thoát, con xin chân thành cám ơn!

Trả lời:


Tình yêu là một trong những điều cần phải thấu hiểu tận nguồn, nếu không chỉ tự đánh lừa mình và đánh lừa người khác. Trong tình yêu có quá nhiều ảo tưởng do bản ngã thêu dệt, nên khó mà thấy được một tình yêu đích thực. Bản ngã trong tình yêu càng lớn thì độ ích kỷ càng cao, nghĩa là sự trói buộc lẫn nhau càng nhiều, hậu quả tất nhiên là khổđau và mâu thuẫn. Trong tình yêu người ta muốn được hạnh phúc và đem hạnh phúc đến cho người mình yêu, hay đó chỉ là ảo giác do nội tiết tố adrenaline tạo ra khi hưng phấn, vì trên thực tế người ta đem đau khổ cho nhau bằng cách trói buộc lẫn nhau thì đúng hơn. Tình yêu chẳng lẽ là một chốn đọa đày đến thế sao, nếu vậy, có tình yêu thực sự không, hay đó chỉ là lòng ham muốn sở hữu để thỏa mãn tính dục và lòng tự ái quá khích của bản ngã? Qua bài học mà con vừa trải nghiệm trong cái gọi là tình yêu, hy vọng con thấy ra chính mình và bản chất đời sống để không còn làm khổ mình khổ người nữa. .

Chuyển hóa lời thề độc

Khi nhận thức sai thì hành vi (thân, khẩu, ý) xấu là lẽ đương nhiên. Nhưng nếu qua sự sai xấu này mà biết chiêm nghiệm học hỏi để tự điều chỉnh nhận thức và hành vi cho đúng tốt thì đó chính là sự tiến hóa trong trí tuệ và đạo đức. Thấy được sự sai xấu là đã có lương tâm. Lương tâm giúp con ăn năn, chừa cải, đó là hướng thiện; còn bản ngã thì ray rứt, hối tiếc, sợ hãi, lo âu, đó là hướng bất thiện.

"Thề độc" chỉ là biểu hiện sự nóng giận nhất thời thiếu chín chắn do bản ngã bị va chạm, nên thực ra nó chỉ là lửa rơm bùng lên rồi vụt tắt chẳng có hiệu ứng gì nhiều. Trừ phi con ôm giữ, ghi khắc nó trong lòng như "mối hận ngàn thu" thì nó mới trở thành độc tố âm ỉ gặm nhắm chính thân tâm con, chứ không chắc gì đã hại được ai. Thí dụ, con ganh tỵ với một người bạn học giỏi hơn mình và thề độc cho người bạn đó học kém đi, nhưng người bạn ấy vẫn chăm chỉ học hành thì làm sao mà kém đi được, chỉ là lòng ganh tỵ tự hại con thôi.
Vậy vấn đề không phải là lo sợ, bứt rứt mà là nhận ra sự sai xấu để tự chuyển hóa nhận thức và hành vi nơi chính mình. Đừng sợ sai lầm mà chỉ sợ không nhận ra sự sai lầm của mình để chuyển hóa. Trí tuệ và đạo đức đích thực có được chính là nhờ nhận ra điều sai xấu. Con đã nhận ra được sự sai lầm, đó chính là một bước chuyển hóa lớn trong nhận thức bản thân. Bước thứ hai là chuyển hóa hành vi, con chỉ cần hành động, nói năng, suy nghĩ hướng ngược lại với lỗi lầm trước đây là được. ...

Theo mục Hỏi Đáp TRUNG TÂM HỘ TÔNG

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

CHƯ THIÊN

Thiên (zh. 天, sa., pi. deva) với nguyên nghĩa Phạn deva là "người sáng rọi", là danh từ chỉ chư thiên, chỉ những chúng sinh sống trong thiện đạo (Lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong Luân hồi (sa.saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.

Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (sa, pi. kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (sa., pi. rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (sa., pi. arūpaloka, arūpadhātu, xem Tam giới, sa. triloka).
Trong Dục giới có:
Tứ thiên vương (zh. 四天王, sa.caturmahārājika-deva), sống gần núi Tu-di;
Tam thập tam thiên (zh. 三十三, sa.trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di;
Dạ-ma thiên (zh. 夜摩, sa. yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu;
Đâu-suất thiên (zh. 兜率天, sa. tuṣita-deva), cõi của thiên nhân "có niềm vui thầm lặng", chỗ Bồ Tát Di-lặc đang giáo hoá;
Hoá lạc thiên (zh. 化樂天, sa. nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá;
Tha hoá tự tại thiên (zh. 他化自在天, sa.paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt...

    Đức Phật thường dạy rằng những ai thương tưởng các vị Chư Thiên thì các vị Chư Thiên sẽ thương tưởng lại. Đây là một điều rất quan trọng và các bạn thỉnh thoảng được nghe chư Tăng đề cập đến . Vậy khi chúng ta hồi hướng đến chư Thiên, nghĩ đến chư Thiên thì chư Thiên sẽ nghĩ đến chúng ta và phù hộ cho chúng ta. Đạo Phật tuy không coi trọng, không đề cao một cách tuyệt đối về những năng lực ngoại tại tức là năng lực ở bên ngoài, nhưng chúng ta đừng quên một điều rằng, sống trên đời này, ngay cả ở trong thế giới nhìn bằng con mắt thịt của chúng ta, những người chung quanh cũng có ảnh hưởng đến chúng ta rất lớn. Muốn đạt được những gì mà mình mong mõi, dĩ nhiên chúng ta phải cố gắng, phải nỗ lực hết sức mình, nhưng đừng quên rằng trên con đường dẫn đến sự thành đạt đó, phải cần rất nhiều trợ duyên, trợ lực của những người chung quanh. Thí dụ, chúng ta đi học, nếu thầy của chúng ta có cảm tình với chúng ta, vị thầy đó sẽ tận tình giúp đỡ chúng ta, với sự giúp đỡ của thấy chắc chắn chúng ta sẽ học khá hơn. Sống trong xóm làng, nếu được người chung quanh thương mến, tối lửa tắt đèn có nhau, thì vẫn tốt hơn là không có ai yêu mến chúng ta cả. Có thể những người chung quanh không có điều kiện để lo cho chúng ta được nhiều, nhưng tấm lòng thương mến của họ rất có ý nghĩa đối với chúng ta rất nhiều trong những lúc gặp cảnh khó khăn, vì vậy nếu có thiện sự nào chúng ta làm thì chúng ta rất nên hồi hướng cho họ. Và hồi hướng cho chư Thiên sau khi cúng dường cho chư Tăng hay làm một phước sự cũng không nằm ngoài ý nghĩa này.

    Sưu tầm

    Hỏi: Kính bạch thầy cho con hỏi, cảnh giới chư Thiên như thế nào ạ?
    Trả lời: Chư thiên cũng giống như loài người nhưng có cấu trúc thân tâm cao cấp hơn.


    Theo mục hỏi đáp Trung Tâm Hộ Tông

    Ảnh chư thiên bên cạnh tháp xá lợi Đức Phật?


    Tại một tháp thờ xá lợi răng của Đức Phật, một vị sư người Sri Lanka đã chụp được hình ảnh được cho là hai vị chư Thiên đứng bên phải và bên trái của Tháp khi Tháp phát sáng.
    Chưa xác minh được đây là ảnh chụp có qua xử lý kỹ xảo hay không.
    Ảnh do Đại đức Thích Tỉnh Thiền - Thiền viện Sùng Phúc cung cấp.








    Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

    Bùa ngãi và cách hóa giải

    Kính gửi thầy, xin thầy cho con hỏi Đức Phật Gotama có nói gì về bùa ngải hay những thứ gần giống như vậy không? Con nghe nhiều người nói về chuyện người này người kia bị thư, ếm, không biết là theo đúng lời Phật dạy thì những bùa ngải có tác dụng xấu lên những người bị bỏ bùa không và làm sao để tránh được những điều xấu đó? Xin thầy chỉ dạy cho con.

    Trả lời:

    Bùa ngải, chú thuật, thư ếm... là những hiện tượng có thật và phần lớn là dùng để hại nhau. Những bùa phép này thực hiện được do có oan trái với nhau và ảnh hưởng đến người thiếu chánh niệm tỉnh giác. Vì vậy tốt nhất là đừng gây oan trái, thường chánh niệm tỉnh giác và có lòng từ bi hỷ xả với mọi người mọi vật thì mới có thể tránh được bùa ngải thư ếm.

    Theo mục HỎi ĐÁP TRUNG TÂM HỘ TÔNG

    TÌM HIỂU VỀ BÙA NGẢI 

    Từ xưa đến nay trong dân gian luôn đồn đại những câu chuyện về bùa ngải, thư, trù ếm. Trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại các thầy bùa, thầy ngải làm những điều bất nhân, thất đức, gây tai họa cho mọi người. Có những người trên đường đi chỉ vì vô tình nghe lời nói của người khác như hỏi thăm đường đi mà tiền mất tật mang. Cuộc trò chuyện chỉ một vài phút nhưng hậu quả để lại thật nặng nề. Người được hỏi thăm tự động móc hết đồ đạc, tài sản của mình đưa cho người hỏi thăm. Người ta gọi là bị ngải hay bị bùa mê, thuốc lú. Vậy bùa ngải, thư ếm, trù có thật hay không?
    TÌM HIỂU VỀ BÙA NGẢI VÀ CÁCH GIẢI BÙA NGẢI
    1. Bùa ngải, thư ếm là gì?
    Lời dẫn
    Từ xưa đến nay trong dân gian luôn đồn đại những câu chuyện về bùa ngải, thư, trù ếm. Trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại các thầy bùa, thầy ngải làm những điều bất nhân, thất đức, gây tai họa cho mọi người. Có những người trên đường đi chỉ vì vô tình nghe lời nói của người khác như hỏi thăm đường đi mà tiền mất tật mang. Cuộc trò chuyện chỉ một vài phút nhưng hậu quả để lại thật nặng nề. Người được hỏi thăm tự động móc hết đồ đạc, tài sản của mình đưa cho người hỏi thăm. Người ta gọi là bị ngải hay bị bùa mê, thuốc lú. Vậy bùa ngải, thư ếm, trù có thật hay không? Chúng tôi xin trình bày nội dung bài viết này theo trình tự từ khái niệm từng loại đến cách luyện, cách thư ngải vào người khác, cách gỡ bùa ngải. Sau đây là phần cụ thể.
    Bùa: là một loại chữ viết trên giấy, có thể chứa dấu ấn của một vị nào đó theo tông phái với mục đích bảo vệ cho người giữ lá bùa (ví dụ: bùa bình yên). Nó như một lời xác nhận rằng “đây là người của tôi, vuốt mặt phải nể mũi”, nhằm chống lại sự quấy rối của một thế giới tâm linh khác. Sau này người Việt Nam còn mở rộng thêm, xem bùa như là một sự điều khiển vô hình đối với người nhận bùa (ví dụ: bùa mê).
    Ngải: dùng nhiều trong cộng đồng người thiểu số, cao cấp nhất là loại ngải “Thiên Linh Cái”, người ta dùng một loại ngải, nuôi trồng, phù phép, sử dụng cho nhiều trường hợp và mục đích khác nhau với mong muốn điều khiển người khác theo ý mình, hay dùng nó bảo vệ người chủ.
    Ếm: có nghĩa là trấn áp, đè nén một vong hồn hay một tâm linh, không cho xuất hiện. Người ta còn bày vẽ chỉ cần lấy một món đồ vật của người muốn ếm như: Đồ dùng, hình, tóc, vật dụng, của người để ếm tức là trấn áp đi thần trí của người đó.
    Thư: là cấy một vật gì đó như cái kim, cục sắt vào cơ thể người khác nhằm làm hại họ hay buộc họ phải cầu cạnh mình để giải.
    Trù (nguyền): là cách làm phép, cầu cho người nào đó sẽ bị một cái gì xui xẻo, tai nạn theo ý mình. Tuy nhiên để cân bằng phù phép thì người làm phép trù phải nhận một hình phạt như giảm thọ, giảm đức. Đồng thời phải phụ chú vào đó một điều kiện để có thể giải lời nguyền đó.
    Ngoại trừ Ngải và Thư, các phép còn lại đều xuất hiện nhiều trong truyện Phong thần nhưng thực tế thì những phép này công hiệu đến đâu thì có lẽ người nào bị rồi thì mới rõ. Riêng với “bùa bình yên” thì có thể nói đó là sự an ủi tốt cho dù linh hay không.
    Thường các loại ngải để làm bùa có khoảng 100 loại. Các loại này nằm rải rác trên thế giới trong rừng sâu núi thẳm bởi nó là loại cây có những tính chất đặc biệt, lại tồn tại lâu năm trong những nơi chướng khí ngút ngàn, nên Ngải này có tính Linh (ma tính), là nơi mà các loài yêu ma quỷ quái rất thích cư ngụ ẩn náu. Cũng giống như là các Vong linh rất thích cư ngụ trên cây chuối hoặc nơi có vườn chuối (bởi vậy trong các lễ chiêu hồn, lập bàn thờ tang cho người mới mất người ta thường bày cây chuối là theo lý này). Những cây cổ thụ như cây đa, cây si thì ma quỷ thường cư ngụ nên người nào chặt cây hay chặt cành đi sẽ gặp tai họa như ốm đau, bệnh tật có thể chết.
    Ngải là một loại cây giống như bình thường như những loại cây khác nhưng đặc biệt là nó mọc ở nhừng nơi hiểm trở của sông núi hay những nơi mà có rất nhiều người chết oan, chết bất đắc kỳ tử, những nơi xảy ra chiến tranh đẫm máu. Sau khi người chết oan thì hồn còn lưu luyến trần gian nên không siêu thoát. Hồn của những người này không tan biến bởi rất nhiều lý do như:
    -Thứ nhất là tuổi thọ ở dương thế họ vẫn còn.
    - Thứ hai là người này có một oan ức gì đó nên muốn ở lại để trả thù rửa hận cho họ.
    - Thứ ba, những người này không có nơi chôn cất hay cư ngụ đàng hoàng nên mới biến hồn mình nhập vào một cái cây nào đó mà sống qua ngày tháng chờ ngày trở mình.
    Bất cứ cây nào mà nó đã mọc trên xác chết của con người hay con vật nào đó hay đã từng hút máu tanh thì hồn của những người chết này có thể nhập vào thân cây đó và cây đó biến thành cây ngải mà chúng ta gọi là “Ngải” hiện nay .
    Đã nói đến Bùa chú thì dù là bất cứ loại Bùa chú nào cũng phải nhờ có lực lượng Âm binh giúp sức mới thành công. Ở đây ta hiểu đối với một số người dùng Bùa Ngải vào việc vô đạo thì lực lượng âm binh này chính là các loài yêu quỷ. Đối với yêu quỷ thì một đặc tính cơ bản của chúng là làm hại người. Nếu chúng giết được càng nhiều người thì bản thân chúng cũng được tăng thêm sức mạnh siêu nhiên. Chính vì vậy chúng rất thích những người thường kêu gọi và nhờ vả đến chúng để làm việc bất nhân thất đức. Chúng ám nhập, kích động, điều khiển người đã kêu gọi chúng phải tuân theo tinh thần và ý chí của chúng.
    Như vậy thì Bùa Ngải cũng được hiểu rõ ràng như sau: Bùa Ngải là loại Bùa được làm từ các loại Ngải lâu năm, dùng để kêu gọi các thế lực siêu nhiên hắc ám làm theo tôn chỉ, mục đích Thần chú của người đã tạo ra nó.

    2. Cách nuôi ngải


    Muốn cho ngải linh nghiệm và cây này phục tùng mình thì người nuôi ngải phải hội đủ các điều kiện sau đây:
    Thứ nhất, phải có tay ấn cao hơn người khác (không phải người nào cũng có thể sai khiến được âm binh). Những ông thầy chuyên nghiệp sẽ đi tìm và biết cây ngải này ra sao. Sau đó, ông ta sẽ đem cây này về nhà và nuôi sống nó bằng máu tươi của mình trong vài tuần lễ đầu tiên.
    Thứ hai, sau thời gian đó thì thay vì tưới nước như cây thường thì ông phải tưới cho nó bằng máu của gà, vịt hay chó gì đó. Nói chung là phải lấy mà máu tưới còn không thì nó không linh nghiệm. Nếu để cây đó héo thì người thầy đó cũng sẽ không sống yên với nó đâu. Sau khi nuôi dưỡng nó 149 ngày từ khi đem về thì ông đó bắt đầu làm phép (đọc thần chú) và bắt con ma đó làm theo lời ông ấy căn dặn. Từ đó, nó có thể làm bất cứ chuyện gì trên thế gian nhưng nó không thể hiên ngang giết người. Ví dụ như đem dao chém người ta (vì nó không phải là vật chất). Nó có thể biến sắt thép hay cát sạn vào người mà chủ nó căn dặn đó gọi là “THƯ”. Nếu là người nuôi con ngải hay người có tay ấn mạnh hơn thì có thể giải phá được nó.
    3. Cách thư, ếm ngải vào người khác
    Theo sự hiểu trên thì Bùa Ngải này không cần phải đưa cho người bị hại. Người luyện Ngải và làm ra Bùa Ngải chỉ cần biết rõ thông tin về bản thân người bị hại như là Họ tên, tuổi, địa chỉ nơi ở (nếu có cả ảnh chụp khổ chủ thì càng tốt) là đã có thể tiến hành làm Bùa Ngải gây tai bay vạ gió cho đối thủ. Trong trường hợp khác thì chỉ cần biết rõ địa chỉ của một ngôi nhà nào đó, cũng có thể làm Bùa Ngải, nhờ yêu quỷ đánh phá nhà đó khiến toàn thể những người có liên quan phải gặp nhiều tai tật lạ lùng, bí ẩn.
    Như vậy người biết Bùa Ngải muốn thư ếm làm hại một ai đó thì nhất định phải có những thông tin như:
    - Họ tên và tuổi;
    - Địa chỉ nơi ở;
    Nếu có ảnh chụp của người đó nữa thì càng tốt. Không có ảnh thì Thầy Bùa sẽ cắt giấy thành hình người, rồi ghi họ tên, tuổi, địa chỉ nơi ở của người đó lên hình nhân đó.
    Tiếp theo Thầy Bùa đăng đàn, đọc Thần Chú, làm pháp, kêu gọi Ma Quỷ dùng năng lực thần thức siêu nhiên của chúng để đi đánh người vào những giờ nhất định trong ngày. Thường thì phải dùng Chính giờ thì linh lực phá hoại mới mạnh. Giờ xung, hình, hại với tuổi của người bị hại. Ví dụ người tuổi Mão thì giờ xung là giờ Dậu…
    Thầy Bùa khi đó sẽ đốt Ngải khô hun khói xông vào hình nhân (cắt giấy thành hình người) hoặc là vào ảnh của nạn nhân. Mồm đọc Thần Chú để kêu gọi Ma Quỷ hành hạ nạn nhân. Bọn Ma Quỷ đó sẽ dùng các đồ vật, vũ khí đánh vào người bị hại thành thương (không thành vết thương mà thành nội thương, tà khí xâm nhập vào trong cơ thể). Lâu dần bệnh trạng nặng lên, nếu không biết và hóa giải thì có thể chết.
    Cách khác nữa là Thầy Bùa dùng 1 lư hương, bên trong có bài vị ghi tên, tuổi, nơi ở của người cần hại. Nam thì dùng 7 nén hương, Nữ thì dùng 9 nén hương cắm vào lư hương đó, phía trên treo hình nhân người muốn yếm để khói hương xông,ám vào hình và đọc Thần Chú kêu gọi ma quỷ đi đánh phá hại người.
    Những người bị Bùa Ngải thư ếm như thế, thường trong một ngày vào những giờ nhất định sẽ bị đau yếu, mỏi mệt vô cùng, tinh thần bất định hoảng hốt, lòng áy náy lo lắng không yên, sợ hãi vô cớ... Sau giờ đó lại hết triệu chứng trên hoặc nhẹ đi hẳn. Ngày qua ngày nếu không biết bệnh sẽ nặng dần lên mà không biết do nguyên nhân gì, đi khám bác sĩ cũng chẳng tìm ra bệnh.
    Rất nhiều người có khả năng sử dụng tà thuật trù ếm, nhưng tác động và hậu quả còn tùy thuộc bản lĩnh và quyền năng của từng phù thủy, thầy bùa, thầy phép được chiêu cầu. Phải là hạng cao tăng, sư thầy, giáo chủ, với đầy đủ quyền lực huyền bí mới thật sự đạt tới công lực cực kỳ lợi hại và nguy hiểm.
    Thông thường những người nghèo khổ, bệnh hoạn, bất hạnh nhất của xã hội là những người hay cầu thầy để tìm công lý hay sự trả thù. Tự họ cũng có thể trù ếm nguyền rủa người khác, hiệu lực ghê gớm nhất là lúc họ trăng trối trước khi chết.
    Khi đối tượng bị trù ếm biết rằng họ đang bị ếm, sức khoẻ và tâm thần họ càng bị suy sụp trầm trọng. Chính sự lo sợ của người bị trù ếm khiến cho họ đau khổ và hoang mang gấp bội.
    Tuy nhiên, trong trường hợp bị phù thủy cao tay ấn dùng tà thuật ếm, dẫu đối tượng không biết mình bị trù dập, kết cuộc cũng có thể bi đát y như họ biết. Nếu đối tượng cảm nhận rằng họ bị ếm, họ có thể tìm đến các thầy phép khác để gỡ bùa, diệt trù, và thường thì phải hao tốn một số tiền lớn để đối phó. Có khi người thầy mà họ cầu, chính là người đã trù ếm họ. Nếu là hai lực lượng khác nhau đối chọi, một cuộc chiến tà thuật gay go có thể xảy ra. Bên nào quyền thế hơn sẽ chiếm ưu thế. Phương pháp gỡ bùa, diệt trù rất là quyền biến, không thể bàn hết ở đây.
    Một điểm đặc biệt lưu ý, những đêm rằm sáng trăng là lúc quyền năng trù ếm mãnh liệt nhất. Ngược lại, những đêm trăng khuyết là lúc để đối phó trừ diệt bùa phép, trù ếm, hiệu lực nhất.
    4. Cách giải hay đối phó với các loại Bùa Ngải
    4.1. Cách thử xem có bị bùa ngải không?
    Muốn kiểm tra xem mình có bị bùa ngải không ta làm như sau: Dùng một quả trứng gà luộc chín, bóc vỏ rồi đem lăn lên người (bất kể vị trí nào). Một lát sau thì bẻ đôi quả trứng ra. Nếu lòng đỏ trứng biến thành màu đen tức là đã bị Bùa Ngải. Nếu lòng đỏ trứng có màu máu đỏ tươi tức là bị Bùa Ngải đã lâu, phải mau chữa trị hóa giải nếu không sẽ chết.
    4.2. Cách giải bùa ngải
    Cách giải thứ nhất
    - Dùng Bùa hộ thân đeo trên người 24/24 giờ (để chống Ma Quỷ tiếp tục đánh vào người)
    - Dùng trứng gà luộc, bóc vỏ rồi lăn lên toàn bộ cơ thể, mọi nơi trên người. Mỗi một lần phải dùng đủ 3 quả trứng và cũng làm vào những giờ nhất định (giờ bị hành) tương ứng để hút hết tà khí nội thương trong thân thể ra ngoài. Khoảng 3 ngày hoặc 1 tuần, sau khi lăn trứng xong sẽ bẻ đôi trứng ra để kiểm tra. Nếu thấy vẫn còn màu đen là chưa khỏi, phải tiếp tục làm tiếp. Làm cho đến khi nào bẻ trứng ra không còn màu đen nữa thì thôi. Tức là bệnh đã khỏi.
    Chú ý là không được bẻ trứng ra để xem thường xuyên, làm như vậy thì việc chữa trị sẽ phải lâu dài.
    Trứng đã lăn xong sau khi điều trị thì phải đem bỏ vào thùng rác, không được ăn và không được cho ai ăn. Ai ăn phải thì sẽ bị Bùa Ngải xâm nhập mà thành bệnh. Sau khi đã khỏi bệnh thì người bị hại vẫn phải đeo Bùa hộ thân thường xuyên để tránh bị Thầy Bùa tiếp tục làm hại.
    Cách giải thứ hai
    Có thể dùng cành liễu đã được khai quang trì chú để tiến hành khai quang Thân cho người bị Bùa Ngải.
    Pháp này dùng cành liễu đập nhẹ vào người 61 cái từ trên xuống dưới, khắp người. Người vừa đập vừa phải niệm Lục Tự Thần Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng” để tăng thêm pháp lực. Người có tâm thành, lương thiện, có đức tin ở nơi tâm linh mà làm việc này sẽ rất hiệu nghiệm. Cũng phải làm vào những giờ nhất định tương ứng với “giờ bị hành”.
    Sau khi đập xong 61 cái thì người bị Bùa Ngải cầm cành liễu đó mà quật tứ tung trong không gian trong nhà, từ trong ra ngoài. Tiếp đến treo cành liễu đó ngoài cửa ra vào. Đó là công việc làm điều trị của một giờ bị hành, thường trong ngày có hai giờ nên phải làm hai lần như vậy.
    Khi nào thấy cành liễu bị héo thì phải thay cành liễu mới. Làm như vậy cho đến khi nào thấy thân thể nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái, trở lại bình thường thì thôi. Trong thời gian này, người bị Bùa Ngải cũng nên đi lễ chùa thường xuyên.
    Trong trường hợp người bị Bùa Ngải biết được rõ ràng Thầy Bùa làm hại mình (Biết họ tên, tuổi, nơi ở) thì có thể nhờ đến Pháp sư chánh đạo để phá hủy Bùa Ngải của ông thầy Bùa Ngải kia, khiến cho Ma Quỷ quay lại đánh ngay Thầy Bùa, ông Thầy này sẽ phải lãnh đủ tai họa thảm khốc. Mới hay “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn” và thế nào là “Gậy ông đập lưng ông”.
    Để giải thư ếm chủ yếu người ta dùng pháp cầu Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Thất Cu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương Bồ Tát.


    Theo gscaongoclan.com

    Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

    Học cách dạy trẻ



    Kính bạch thầy!

    Xin thầy hướng dẫn cho con cách dạy một đứa trẻ, một đứa trẻ hồn nhiên vui tươi, không làm cho trẻ sợ, không làm cho trẻ dại, vì trẻ là mầm non, nên dạy thận trọng, dạy sai trẻ đi theo đường sai, dạy đúng thì trẻ mới đi theo đường đó. Phải cho trẻ môi trường như thế nào, để trẻ thích nghi. Nhiều người nói cha mẹ sanh con trời sanh tánh, nhưng theo con nghĩ, đó là một lí do nghiệp trước của trẻ, nhưng hiện tại mới làm thay đổi quá khứ và tương lai. Thật sự con không biết hướng dẫn trẻ phải sống sao. Bạch thầy chỉ giúp con.


    Trả lời:

    Con trẻ giống như một mầm non đang phát triển, cha mẹ cần học cách bảo vệ và nuôi dưỡng cho trẻ phát triển hơn là uốn nắn trẻ theo mẫu mực của mình. Đến 4 tuổi trẻ đã học được một cách tự nhiên 50% nhận thức cơ bản trong đời sống, về sau nhờ học hỏi, trải nghiệm bản thân trong đời mà hoàn thiện nhận thức và hành vi của mình. Thực ra giáo dục nhà trường phần lớn dạy về những quy ước xã hội và những kỹ thuật hay phương tiện sống bên ngoài hơn là nhận thức bản thân, hoàn cảnh và nghệ thuật sống. Sinh ra trong gia đình và xã hội nào thì đành sống theo khuôn khổ của hoàn cảnh đó, vì vậy nên tính tự do sáng tạo đã bị bóp chết ngay từ khi còn non dại.
    Mỗi đứa trẻ có một duyên nghiệp riêng nên cũng có tính cách và khuynh hướng riêng, mà cha mẹ cần hiểu trẻ để hướng dẫn hơn là áp đặt nguyên tắc. Cha mẹ nên giúp trẻ tự biết nhận thức điều đúng điều sai, điều lợi điều hại,điều tốt điều xấu bằng cách gợi ý, đặt câu hỏi để trẻ biết vận dụng trí tuệ của mình, nếu trẻ trả lời sai vì chưa thấy ra thì nên đặt nhiều tình huống khác nhau hoặc ngược lại để trẻ mở rộng tầm nhìn. Không nên nhồi nhét kiến thức và kinh nghiệm của cha mẹ vào đầu óc con trẻ, nên để trẻ tự khám phá học hỏi bằng cách để cho chúng tự trải nghiệm cuộc sống. "Đi cho biết đó biết đây / Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn" là vậy. Hành trang của trẻ chỉ cần là biết thận trọng, chú tâm, quan sát cũng đủ để sống và phát huy và hoàn thiện năng lực bản thân. 


    Theo mục hỏi đáp TRUNG TÂM HỘ TÔNG





    Phương pháp dạy học: Bí quyết dạy con


    Trong cuộc sống bận rộn, không phải cha mẹ nào cũng có thời gian chăm sóc và dạy dỗ con cái thường xuyên. Chúng ta vẫn luôn đặt ra câu hỏi: “Tại sao mọi đứa trẻ sinh ra đều như nhau, mà lớn lên lại có đứa hư hỏng, khó bảo, nghích ngợm…?” Tất cả đều phụ thuộc vào phương pháp dạy con của cha mẹ.
    Mỗi bậc phụ huynh lại có bí quyết dạy con riêng, và để có thể dạy con ngoan, cha mẹ không nên chỉ dạy kiến thức, ép các con học thật nhiều ngay từ khi còn nhỏ. Cổ nhân xưa có câu “ Tiên học lễ, hậu học văn”. Mọi sự học đều phải bắt đầu bằng việc học đạo đức, lễ nghĩa, học cách làm người. Mà trong đó, cha mẹ nên dạy con từ những kỹ năng sống đơn giản nhất ngay từ khi các con còn nhỏ. Có thể nói việc học kỹ năng sống sẽ trang bị cho các con ba kỹ năng nền tảng không thể thiếu ở trẻ em.

    Kỹ năng tự chăm sóc bản thân

    Một em bé sinh ra ở nông thôn có thể tự chăm lo cho mình những lúc bố mẹ vắng nhà, đi làm xa, hoặc những lúc ở nhà với ông bà. Các em sẽ làm rất tốt những công việc cá nhân như: tự ăn cơm, tự mặc quần áo, thậm trí ở nhà một mình. Tuy nhiên, kỹ năng này lại rất thiếu ở trẻ em sinh ra tại các thành phố lớn. Đặc biệt ở một số gia đình có điều kiện tốt về kinh tế, cha mẹ luôn chăm lo cho con từ những điều nhỏ nhặt nhất. Trẻ không ý thức đó là việc cá nhân, do đó tạo thành thói quen ỷ lại. Trẻ gặp khó khăn cả với những công việc nhỏ nhất của bản thân như tìm quần áo, rửa tay trước bữa ăn…
    Tập cho trẻ thói quen tự chăm sóc bản thân, cũng là cách để các con của bạn rèn luyện tính tự lập trong cuộc sống ngay từ khi còn nhỏ.

    Kỹ năng kiềm chế cảm xúc


    Trẻ em ở các độ tuổi khác nhau lại có những cảm xúc và tâm lý khác nhau. Tuy nhiên đa số cảm xúc của trẻ rất thất thường, trẻ chưa tự ý thức được đúng, sai trong hành động của mình. Trẻ hay nổi cáu, giận dỗi và dễ bị kích động cảm xúc. Cha mẹ cần phải biết được tâm lý riêng của con mình để từ đó có hướng điều chỉnh, giúp trẻ hiểu được hành vi cư xử đẹp, tránh đổ lỗi hay làm tổn thương người khác. Việc cha mẹ luôn “chạy” theo cảm xúc của con mà không phân tích đúng sai là nguyên nhân khiến cho trẻ thiếu kỹ năng quan trọng này.
    Cha mẹ tuyệt đối không nổi giận, hay mắng mỏ con cái khi các con đang bị kích động cảm xúc, bởi trong những thời điểm nhạy cảm đó, nếu bị mắng, trẻ sẽ có suy nghĩ cha mẹ ghét bỏ mình. Đồng thời, nếu cha mẹ không phân biệt đúng sai trong hành vi cảm xúc của trẻ sẽ khiến trẻ không rút ra được những bài học về kỹ năng sống.
    Tốt nhất, bạn nên dạy bé cách cư xử tốt đẹp hơn trong những lần tiếp theo hoặc mỗi khi bé cảm thấy thất vọng, tức giận... Bên cạnh đó, khi nói chuyện với bé, bạn hãy tạo không khí thoải mái, gần gũi nhưng vẫn nghiêm túc, không nên cười cợt hay có những cử chỉ không hay. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu tới hành vi của bé sau này.
    Kỹ năng giải quyết vấn đề:
    Trẻ em hiện nay đang được hưởng nền giáo dục rất tốt của cả gia đình, nhà trường, và xã hội. Điều đó giúp trẻ cư xử văn minh hơn trong các mối quan hệ với mọi người. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều rằng, bên cạnh các bé ngoan thì vẫn còn rất nhiều trẻ em có hành vi tiêu cực như: Ích kỷ, luôn coi bản thân là số 1, cãi lời người lớn, bắt nạt bạn. Hoặc có những trẻ bị bạn bắt nạt, không biết ứng phó trong các tình huống bất ngờ xảy ra với mình… Tất cả những điều đó đều xuất phát từ việc trẻ thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề.
    Để thay đổi điều này, ba mẹ nên trang bị cho bé những phương pháp hiệu quả để đối phó với những vấn đề con có thể gặp phải. Quan trọng hơn, bạn cần giúp bé hiểu rằng, những rắc rối là một phần của cuộc sống, chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vì vậy, chúng ta luôn phải bình tĩnh và tỉnh táo để tìm ra phương pháp và bí quyết dạy con riêng cho mình.
    Việc trang bị kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng cần thiết. Qua đó giúp các con hình thành được những thói quen và phản xạ nhanh nhạy trong mọi tình huống, đồng thời có một tâm thế vững vàng trong học tập, công việc và cuộc sống tương lai.

    Theo:
    Phương pháp dạy học

    Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

    Quan điểm của Đạo Phật về duy tâm và duy vật


    Thưa Sư, con có thắc mắc quan điểm của Đạo Phật về duy tâm và duy vật. Đức Phật giảng dạy giáo lý duyên khởi, vậy có phải quan điểm Đạo Phật từ lý duyên khởi. Con còn hoang mang vấn đề này mong Sư khai thị cho con. Xin Sư cho con ví dụ cụ thể. Con xin cảm ơn Sư.

    Trả lời:


    Đạo Phật không phải duy tâm cũng không phải duy vật theo nghĩa nhị nguyên. Tuy tâm và vật - hay còn gọi là danh và sắc - đều có tánh tướng thể dụng khác nhau nhưng sự sống của chúng sinh là sự kết hợp giữa danh và sắc gọi là duyên sinh hay duyên khởi. Giống như nguyên lý Dịch lý là "Cô âm bất sinh, cô dương bất trưởng" nên trong mọi sự mọi vật đều có âm dương hoà hợp, đó cũng chính là lý duyên khởi. Thí dụ như trong cái thấy, cái nghe, cái biết đều là những tiến tình tâm sinh vật lý: Sắc là vật lý, mắt là sinh lý và nhãn thức là tâm lý. Sự tương giao của 3 yếu tố thuộc danh và sắc này tạo ra một tiến trình tâm qua con mắt gọi là cakkhudvàra vithì, đó chính là một sự vận hành duyên khởi. Trong 2 yếu tố danh và sắc nếu thiếu một yếu tố nào thì cũng không thể hình thành sự nhận thức hay nói rộng hơn là sự sống. Vì vậy không thể duy tâm, cũng không thể duy vật đơn thuần được.

    Theo mục hỏi đáp TRUNG TÂM HỘ TÔNG


    Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

    Có 2 loại phiền não

    Kính bạch Thầy, đầu tiên con kinh chúc Thầy được nhiều sức khỏe. Dạ Thầy cho hỏi làm sao là người con hiếu thảo nhưng lại bị phiền não trong cuộc sống? Kính mong thầy chỉ dạy cho con.


    Trả lời:


    Hiếu thảo là một chuyện mà phiền não lại là một chuyện khác, hiếu thảo thì cứ hiếu thảo như bổn phận đương nhiên của con cái đối với cha mẹ, không nên đòi hỏi được đền đáp nào đó ở đời.
    Phiền não có hai loại: 
    Thứ nhất là phiền não do thái độ nhận thức và hành vi sai (nhân tham sân si) của con đối với việc đời. Dù con là người tốt nhưng tâm con bị chi phối bởi pháp thế gian (như được - mất, hơn - thua...) thì vẫn khổ. 
    Thứ hai là phiền não do duyên quả của nghiệp quá khứ bây giờ con phải trả, nếu con chấp nhận được với tâm bình thản như bài học để giác ngộ bản chất cuộc sống thì tuy khó chịu nhưng con không bị cái khổ tâm lý như loại thứ nhất. Con chỉ cần thay đổi thái độ với cuộc đời và biết nhẫn chịu để học ra bài học giác ngộ thì con sẽ thấy "phiền não tức bồ đề" mà.

    Theo hỏi đáp TRUNG TÂM HỘ TÔNG

    Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

    Mục đích sống

    Có hai mục đích sống:
    Một là sống phấn đấu để đạt được điều mình muốn đạt, như được giàu sang phú quý, địa vị cao trọng, gia đình hạnh phúc, tài năng xuất chúng, kiến thức uyên thâm, tiếng tăm lẫy lừng v.v..
    Hai là sống trung thực để học ra bài học sự thật về cuộc sống. ..




    Con xin kính chào thầy. Lá thư con vừa gửi là hỏi thầy về vấn đề tu tập. Hiện tại con vẫn có 2 vấn đề thắc mắt nhờ thầy chỉ dẫn giúp con. 1. Thưa thầy như con biết và con tin là mỗi người ai cũng có một số mệnh được an bài. Và con thấy nhiều người vì muốn đạt được sự giàu có mà họ cãi mệnh bằng cách lấy vợ hợp tuổi, sinh con hợp tuổi, xây nhà hợp phong thủy... Sự may mắn là yếu tố rất quan trọng đối với một doanh nhân như con, con lấy vợ không hợp tuổi nếu xét theo tử vi là rất xung khắc làm ăn thất bại. Nhưng có điều lạ là con lại thấy vận may của con có liên quan mật thiết đến sự tu tập của con. Khi sự tu tập của con có tiến bộ thì những sự không may ít đi rất nhiều và sự may mắn lại đến nhiều hơn. Đến giờ này thì con thấy mọi chuyện cứ thuận dòng mà trôi, muốn cũng không được. Thưa thầy những vận may từ bên ngoài đưa đến có liên quan gì đến sự tu tập hay không và câu nói: " Đức năng thắng số nghĩa là gì". 2. Thưa thầy gần đây con làm việc hiệu quả hơn trước, rất ít suy nghĩ, lo lắng. Tính việc và làm việc tương đối nhẹ nhàng nhưng công việc của con hơi đặc biệt nên có lúc ngồi không, không có gì làm, không kiếm ra tiền. Con liền nghĩ đến cần làm thêm gì đó, nhưng khi tâm con tĩnh lặng quan sát thì con thấy ra mong muốn của con là có vấn đề và hoàn cảnh hiên tại thì không nên làm gì vì nếu đầu tư bậy bạ thì chẵn những không có hiệu quả mà còn rắc rối hỏng việc. Thưa thầy con thấy thái độ tâm của con thì ổn, nhưng hoàn cảnh công việc thì không ổn. Thưa thầy cái thấy của con về nên hay không nên làm thì không sai, nhưng cứ an nhiên sống theo cái thấy của con như vậy mà không làm thêm gì hay nghĩ hướng mới trong lúc công việc đang nhàn rỗi thế này thì có ổn không thầy?. Nếu tương lại không nghĩ bàn mà cứ nhàn nhạ do hoàn cảnh công việc phải thế thì có nguy hiểm không thầy, vì con là người duy nhất kiếm ra tiền trong gia đình. Con xin cám ơn thầy. Con chúc thầy khỏe.

    Trả lời:

    Có hai mục đích sống:

    - Một là sống phấn đấu để đạt được điều mình muốn đạt, như được giàu sang phú quý, địa vị cao trọng, giađình hạnh phúc, tài năng xuất chúng, kiến thức uyên thâm, tiếng tăm lẫy lừng v.v... thì đương nhiên cầnnhiều điều kiện, khả năng để thành công, và cũng cần sự trợ lực của phong thủy, thiên thời, địa lợi, tử vi, bói toán, kể cả cầu xin, đút lót v.v... để được như ý. Muốn vậy thì cứ "tận nhân lực" rồi "tri thiên mệnh"thôi, chứ đâu có ai biết được số mệnh mình ra sao.

    - Hai là sống trung thực để học ra bài học sự thật về cuộc sống,
    như hiểu được ý nghĩa đích thực của khổ đau và hạnh phúc, sự tương giao và mối quan hệ, thành công và thất bại, được và mất, hơn và thua, vinh và nhục, đúng và sai, thiện và ác, lợi và hại, đâu là nguyên nhân đâu là hậu quả v.v... để biết tự hoàn thiện thái độ nhận thức và hành vi cho đúng tốt, chứ cũng không thể chỉ tin vào số mệnh đã an bài để rồi "cũng liều nhắm mắt đưa chân để xem con tạo xoay vần nơi nao"được.

    Trong cả hai cách sống trên mỗi người đều có quyền tự do tạo ra số mệnh cho mình, nhưng tốt nhất là phải "thuận thiên lập mệnh" nghĩa là phải biết sốngthuận với quy luật vận hành của trời đất (pháp) thì mới có thể "đức năng thắng số" được. Đức thắng số có nghĩa là nên ăn hiền ở lành để làm lợi mình lợi người tốt hơn là sống buông xuôi tới đâu thì tới. Tốt nhất là sống vô ngã vị tha rồi qua đó học bài học tùy duyên thuận pháp, hiểu ra bàn chất của chính mình và ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

    Theo hỏi đáp Trung Tâm Hộ Tông

    Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

    Cô đơn đích thực

    "Một bát cơm ngàn nhà
    Thân chơi muôn dặm xa
    Mắt xanh xem người thế
    Mây trắng hỏi đường qua"




    Kính bạch Thầy, Con thường vào mục "Hỏi Đáp Phật Pháp" để học hỏi vì rất sinh động và gần gũi, dễ hiểu. Con có đọc được câu hỏi của một quý đạo hữu hôm 23/8/2014 về vấn đề "cô đơn" và đề nghị Thầy giảng bài pháp về sự “Cô Đơn” cũng như đề cập đến ý định viết cuốn sách về “xây dựng môi trường tu học”. Thầy đã trả lời về nguyên lý rất rõ ràng, khúc chiết cho "hai loại cô đơn: Cô đơn hữu ngã và cô đơn vô ngã". Con cũng có cơ duyên đọc được một cuốn sách về vấn đề mà quý đạo hữu đã hỏi nên mạn phép đóng góp ở đây. Đó là cuốn "Sống chung an lạc – phương cách xây dựng tăng thân", con mua đã lâu ở ngoài nhà sách. Trong đó nêu lên tầm quan trọng của Tăng thân (Sangha) và có đề cập đến vấn đề "cô đơn" trong tăng đoàn của Phật thông qua Kinh Tư Lượng có trong tạng Pali lẫn trong Hán tạng. Trong tạng Pali, kinh nằm ở trong Trung Bộ (Majjhimanikaya, 15) mang tên là Kinh Anumana, kinh tương đương ở Hán tạng là kinh Tỳ Khưu Thỉnh. Việc xây dựng tăng thân dựa trên Luật Tạng và những nguyên tắc sống chung an lạc trong tăng đoàn của Phật ngày xưa. Sách cũng đề xuất cách xây dựng "tăng thân" ở gia đình để có được sự an lạc. Hiện con có bản in trên giấy cũng như bản bằng tập tin PDF của cuốn sách này, vì thế nếu quý đạo hữu cần con có thể cho mượn hay gửi bản PDF (bản này có thể tìm trên mạng). Con xin đảnh lễ Thầy.


    Trả lời:

    Cảm ơn con đã chia sẻ ý hay về mối quan hệ tốt đẹp. Nhưng nếu ai hiểu những gì thầy nói thì sẽ thấy rằng đó chỉ là khai mở những nguyên lý sống "tùy duyên thuận pháp, vô ngã vị tha" để mỗi người tự biết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh cô đơn đích thực ngay nơi sát-na thực tại thân tâm cảnh duy nhất "đặc thù, độc đáo, độc lập" không có sự thỏa hiệp nào với bất kỳ ai mà đức Phật gọi là "không tham ưu, không nương tựa, không bám víu hay lệ thuộc vào bất kỳ điều gì ở đời". Đó cũng chính là nguyên lý "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" mà kinh Kim Cang nói đến. Con nói về sự an lạc còn thầy đang nói đến sự giác ngộ.

    Cô đơn đích thực (vô ngã) là đang ở trong sự tương giao hài hòa và bất nhị của vạn pháp nên ở đó mọi nỗ lực thiết lập mối quan hệ hay thỏa hiệp giữa ta với người đều trở thành vô nghĩa và đáng thương! Như muốn vào "Nước Chúa" thì duy chỉ một mình đơn thân bước qua "khung cửa hẹp". Thế nhưng, Niết-bàn lại còn không có khung cửa hẹp nào để bước vào nữa kia, chỉ có thể cô đơn trở về trọn vẹn với sát-na thực tại phi không thời - không có bề dày không gian và thời gian nào cả - thì ở đó mới chợt nhận ra cái không hạn lượng: không còn đối đãi ngã nhân. Hãy thử một lần buông xuống, hoàn toàn trọn vẹn cô đơn trong cái không là gì cả thì con liền nhận ra cái tất cả đích thực là gì.

    "Một bát cơm ngàn nhà
    Thân chơi muôn dặm xa
    Mắt xanh xem người thế
    Mây trắng hỏi đường qua"


    Theo Hỏi Đáp Trung Tâm Hộ Tông

    Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

    Cô Đơn

    Khi bạn thấy cái HIỆN LÀ, bạn sẽ phát hiện nỗi cô đơn được chuyển hóa như thế nào. (Krishnamurti)
    Có hai loại cô đơn: Cô đơn hữu ngã và cô đơn vô ngã.
    ...Khi con muốn tổ chức và tiêu chuẩn hóa mọi người theo tiêu chí của con thì sự cô đơn đã hình thành trong con một cách kiên cố!
    (Viên Minh)



    Con thỉnh thoảng nghe pháp của Thầy, con nghe rồi chiêm nghiệm, khi con vướng kẹt thì con lại nghe tiếp và chiêm nghiệm tiếp. Nếu có thể, Thầy giảng một bài pháp về sự “Cô Đơn” được không Thầy? Đề tài này hầu như chưa có ai giảng cả.
    Con quan sát thấy rằng, nhiều vị xuất gia nhiều lúc rất cô đơn, lạc lõng trong chính môi trường tu của họ. Con thấy cũng tội mà không biết sao. Con rất muốn xuất gia, nhưng con đang quay về với thực tại chính mình để hiểu rõ mình và chiêm nghiệm rõ để có hướng đi đúng đắn. Đi tu là theo sự “hợp cách” như Thầy đã giảng, không phải theo sự cảm xúc nhất thời, chạy theo bản ngã được cái này cái kia thì càng đánh mất đi bản thân mình. Con nghĩ rất nhiều, và điều quan trọng con phải xem mình thật sự là đúng với người muốn xuất gia hay không, hay là đang trốn tránh sự đời. Con cũng đã đi và gặp một số người, con thấy tội quá Thầy ạ, họ như vào rồi mà không ra được, nhưng sao họ không dám dũng mạnh ra ngoài để làm ăn và trải nghiệm, sống như vậy nhiều lúc buồn quá…
    Nếu con được xuất gia, thì con rất muốn viết một cuốn sách về “xây dựng môi trường tu học” tại vì đề tài này rất ít người viết, mà có viết cũng rất sợ đụng chạm. Nhiều vị đi học, đi giảng để xây dựng cho đệ tử tinh thần tu học, nhưng lắm lúc lại quên đi phải xây dựng tổ chức trong nhà chùa, trong nhà của mình sao cho mọi người cùng nhau tu học, cùng nhau nuôi dưỡng tình yêu thương. Con không hiểu sao, con thấy đây là vấn nạn mà Phật giáo Việt Nam đang gặp phải, sự thật là cần một nơi mà sống với trọn vẹn đời người tu, hay là để cho Pháp tự vận hành theo duyên nghiệp của mỗi người, như vậy có phó thác quá cho duyên nghiệp không Thầy?
    Con xin lỗi nếu con có nói gì sai, nhưng đó là những gì con trăn trở, những cái thấy của con, làm sao mà xây dựng môi trường tu cho mọi người có được sự học tập và tu thật sự.
    Con cảm ơn Thầy nhiều.

    Trả lời:



    Có hai loại cô đơn: Cô đơn hữu ngã và cô đơn vô ngã.

    1) Cô đơn hữu ngã là khi con không cô độc nhưng lại cảm thấy cô độc lạc lõng vì không tìm được mối quan hệ hợp ý mình. Chính ý muốn "xây dựng môi trường tu học" như một tổ chức lý tưởng để thiết lập mối quan hệ hoàn hảo khiến con cảm thấy cô đơn. Biết đâu cuốn sách mà con định viết nhằm xây dựng một môi trường tu lý tưởng theo ý con lại tạo cảm giác cô đơn cho nhiều người khác!? Rồi phải chăng khi con không tìm thấy mối quan hệ lý tưởng trong môi trường tu hiện tại con lại muốn "quay về với thực tại chính mình" mà thực ra là đang trốn chạy sự tương giao hiện hữu, đang tự cô lập mình trong cảm giác cô đơn bất mãn? Khi con muốn tổ chức và tiêu chuẩn hóa mọi người theo tiêu chí của con thì sự cô đơn đã hình thành trong con một cách kiên cố!

    2) Cô đơn vô ngã là khi con sống tương giao hài hòa vô ngại với mọi người dù mỗi người là mỗi cá thể đặc thù, nói cho dễ hiểu là mỗi người một tính cách, một trình độ, một biểu hiện độc đáo, một lý lịch quá khứ riêng tư..., mà con không hề có ý muốn tiêu chuẩn hóa mối quan hệ mọi người trong một tổ chức lý tưởng theo ý mình, ngay trong thực tại đó con vẫn thương yêu, tôn trọng, hòa hợp với mọi người dù đồng hay dị mà vẫn sống độc lập, tự tại giữa họ thì đó chính là sự cô đơn vô ngã của một người giác ngộ. Người giác ngộ nhận ra rằng mỗi người đều đã và đang dựng lên cho mình một cái ngã ảo tưởng từ đó phát sinh ra sự bất đồng, và điều kỳ diệu của pháp là chính sự va chạm của những bất đồng đó lại giúp phá vỡ thành trì của bản ngã, nên sự va chạm ấy vô cùng cần thiết, trong khi ý muốn "tổ chức môi trường tu học" hoàn hảo lại chính là ý đồ nuôi dưỡng và gia cố cho cái bản ngã luôn muốn cầu toàn, vì vậy mà nó không bao giờ giác ngộ được bản chất vô thường, khổ, vô ngã của đời sống.


    Theo hỏi đáp: Trung Tâm Hộ Tông

    KRISHNAMURI nói về SỰ CÔ ĐƠN



    Bạn có biết nổi cô đơn có nghĩa là gì không và bạn có ý thức rõ về nó hay không? Tôi rất nghi ngờ về điều đó, bởi vì chúng ta đã bóp nghẹt bản thân mình trong các hoạt động, trong sách vở, trong các mối quan hệ, trong những ý niệm, mà những thứ này thực ra ngăn cản chúng ta có thức giác về trạng thái cô đơn.
    Chúng ta hiểu trạng thái cô đơn là gì? Nó là một cảm thức về sự trống rỗng, không có gì cả, một trạng thái cực kì hoang mang mờ mịt, không bến không bờ. Nó không phải là nỗi tuyệt vọng hay thất vọng, nhưng là một cảm thức về hư vô, một cảm thức về sự trống không và một cảm thức về sự ẩn ức bất toại. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều đã từng cảm thấy trạng thái đó, những người hạnh phúc lẫn những người bất hạnh, những người thật năng nổ hoạt động lẫn những người mê say kiến thức. Tất cả họ đều biết trạng thái này. Nó là sự cảm nhận nỗi đau bất tận, thực sự, một nỗi đau không thể che giấu, mặc dù chúng ta cứ cố che giấu.Chúng ta hãy tiếp cận lại vấn đề này để thấy cái gì thực sự xảy ra, để thấy bạn làm gì khi bạn cảm thấy cô đơn. Bạn cố gắng đào thoát khỏi tình cảnh cô đơn của bạn, bạn cố gắng đọc tiếp một quyển sách, bạn theo một lãnh tụ nào đó, hay bạn đi xem chiếu bóng, bạn trở nên hết sức năng nổ về mặt xã hội, bạn đi lễ bái cầu nguyện, hay bạn vẽ, bạn làm một bài thơ về nỗi cô đơn. Đấy là điều đang thực sự xảy ra. Khi bắt đầu thức giác về nỗi cô đơn, nỗi đau của nó, nỗi sợ hãi khác thường và sâu thẳm về nó, bạn tìm kiếm một lối thoát và lối thoát đó trở thành quan trọng hơn và do vậy các thứ hoạt động của bạn, kiến thức của bạn, các thần linh của bạn, những chiếc radio của bạn, tất cả trở thành quan trọng, không phải thế sao? Khi bạn đặt tầm quan trọng vào những giá trị thứ yếu, chúng đưa bạn tới bất hạnh và hỗn loạn; những giá trị thứ yếu tất nhiên là những giá trị của cảm giác; và nền văn minh hiện đại đặt nền tảng trên những giá trị ấy cống hiến cho bạn lối đào thoát này - đào thoát qua việc làm của bạn, qua gia đình của bạn, tên tuổi của bạn, việc học tập của bạn, qua việc họa vẽ v.v...; tất cả nền văn hóa của chúng ta được đặt nền tảng trên lối đào thoát đó. Nền văn minh của chúng ta được xây dựng trên đó và đấy là một sự kiện.Bạn có bao giờ thử nghiệm ở trạng thái một mình chưa? Khi bạn làm thế bạn sẽ cảm thấy nó khó khăn khác thường đến dường nào và chúng ta phải có sự thông minh khác thường đến dường nào để ở vào trạng thái một mình, bởi vì tâm thức không chịu để cho chúng ta một mình. Tâm thức trở nên náo động, lăng xăng với những cách đào thoát, vậy chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ cố gắng lấp đầy cái trống không khác thường này bằng cái biết được. Chúng ta phát hiện phải năng động thế nào, phải bặt thiệp ứng xử ra sao; chúng ta biết phải học tập như thế nào, nghe radio như thế nào. Chúng ta sẽ lấp đầy cái thực thể ấy mà chúng ta không biết bằng những thứ mà chúng ta biết. Chúng ta cố lấp đầy cái trống rỗng ấy bằng đủ loại kiến thức, các mối quan hệ, hay các đồ vật. Há không phải là thế sao? Đấy là quá trình của chúng ta, đấy là cuộc hiện sinh của chúng ta. Giờ đây khi bạn nhận chân điều gì bạn đang làm, bạn có còn nghĩ rằng bạn có thể lấp đầy cái trống rỗng đó hay không? Bạn đã cố dùng mọi phương cách nhằm lấp đầy sự trống rỗng này của nỗi cô đơn. Bạn có thành công trong việc lấp đầy nó hay không? Bạn đã cố đi xem phim ảnh và bạn đã không thành công và do vậy bạn đi theo các chân sư của bạn và những kinh sách của bạn, hoặc bạn trở thành người hoạt động rất tích cực về mặt xã hội. Bạn có thành công trong việc lấp đầy nó không hay là bạn chỉ che giấu nó mà thôi? Nếu bạn chỉ che giấu mà thôi thì nó vẫn tồn tại ở đó; do vậy nó sẽ trở lại. Nếu bạn có khả năng đào thoát hoàn toàn thì bấy giờ bạn bị nhốt vào bệnh viện tâm thần, hoặc bạn trở nên mê đần hết mức. Đấy là điều đang xảy ra trên thế giới.Liệu sự trống rỗng này, trạng thái hư vô này, có thể lấp đầy được hay không? Nếu không thể lấp đầy được thì liệu chúng ta có thể chạy trốn nó, đào thoát khỏi nó hay không? Nếu chúng ta đã từng kinh nghiệm qua và đã thấy một lối đào thoát nào đó là vô giá trị thì, do vậy há chẳng phải mọi lối đào thoát khác cũng đều là vô giá trị hay sao? Dù bạn lấp đầy sự trống rỗng ấy bằng thứ này hay thứ khác, việc đó cũng chẳng quan trọng gì. Cái gọi là thiền định cũng là một lối thoát. Thay đổi cách đào thoát của bạn, việc ấy chẳng quan trọng bao nhiêu.Vậy làm thế nào bạn sẽ phát hiện ra cái gì cần phải làm về nỗi cô đơn này? Bạn chỉ có thể phát hiện ra cái cần phải làm khi nào bạn ngưng dứt đào thoát. Chẳng phải thế sao? Khi bạn sẵn sàng đối mặt cái HIỆN LÀ - tức là bạn không được mở radio, tức là bạn quay lưng lại với nền văn minh - lúc bấy giờ nỗi cô đơn đi đến chỗ chấm dứt, bởi vì nó được chuyển hóa hoàn toàn. Nó không còn là nỗi cô đơn nữa. Nếu bạn không hiểu cái HIỆN LÀ thì bấy giờ cái HIỆN LÀ là cái thuộc về thực tại. Bởi vì tâm thức cứ luôn lẩn tránh, đào thoát, không chịu lấy cái HIỆN LÀ nên nó tạo sinh ra những chướng ngại cho chính nó. Bởi vì chúng ta có quá nhiều thứ chướng ngại ngăn cản chúng ta nhìn thấy nên chúng ta không thông hiểu cái HIỆN LÀ và do vậy chúng ta đang chạy trốn thực tại; mọi thứ chướng ngại này đã được tạo ra bởi tâm thức để không thấy cái HIỆN LÀ. Thấy cái HIỆN LÀ không những đòi hỏi nhiều năng lực hành động và thức giác trong hành động mà còn có nghĩa là quay lưng lại với mọi thứ gì mà bạn đã xây dựng nên, tài khoản ngân hàng của bạn, tên tuổi của bạn và mọi thứ gì mà chúng ta gọi là văn minh. Khi bạn thấy cái HIỆN LÀ, bạn sẽ phát hiện nỗi cô đơn được chuyển hóa như thế nào.

    Về sự cô đơn - Krishnamurti
    (theo bản dịch của Nguyễn Minh Lý)

    Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

    Những từ ngữ "Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa..."


    Kính Bạch Sư,
    Con xin chân thành cảm ơn Sư giải tỏa cho con về Đại thừa, Nguyên thuỷ.
    Từ lâu con coi Đại thừa là ngoại đạo vì những thần thông biến hoá trong kinh điển cũng như những câu chuyện thiền huyễn hoặc làm cho người nghe bối rối và mặc cảm với sự hiểu biết thông thái của các vị ấy, trong khi đó thì các vị đó coi rẻ người khác.
    Con hiểu rằng chấp Nguyên thuỷ, Đại thừa như con thì cũng gây phiền não không kém. Khi con nói Đại thừa là ngoại đạo, thì con được gọi là Phật tử không thuần thành.
    Con thành kính cảm ơn Sư đã khai mở cho con.



    Trả lời:


    Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa là những từ ngữ do người sau đặt ra để tự gán nhãn hiệu quảng cáo cho mình thôi, còn trong thời đức Phật tuyệt nhiên không có những ngôn ngữ tự thị này. Thời đó chỉ có giác ngộ chân lý, và sau khi giác ngộ thì Phật dạy mỗi người đi một hướng để khai thị đạo giác ngộ giải thoát cho mọi người, và những người giác ngộ đều bình đẳng chứ không có ai nguyên, ai tiểu, ai đại gì cả. Về sau do bất đồng trên cơ sở giáo lý mà sinh ra kỳ thị lẫn nhau mà thôi. Do đó nếu con đứng ở một Tông Phái nào mà tự tán huỷ tha cũng đều là ngã mạn cả. Tại sao chúng ta không y cứ vào sự thật sẵn có và bình đẳng nơi mỗi người để tu mà cứ kỳ thị lẫn nhau? Tâm nào tu còn tâm nào cứ lo lăng xăng kỳ thị?

    Hỏi đáp: Trung Tâm Hộ Tông

    Bài học "ta" và "của ta"

    Kính thưa thầy, mình là con, chỉ mong cha mẹ, thân nhân mình thông suốt ra để tự điều chỉnh lại chính mình nhưng con thấy bao nhiêu năm rồi, biết bao nhiêu là bài học trước mắt nhưng sao chẳng ai học được gì cả từ những bài học vô giá mà cuộc đời mang đến. Con không dám chen vào vì sẽ bị tội vô lễ, chỉ biết cầu nguyện sao cho thân nhân được sáng suốt để tự thay đổi chính mình cho bớt khổ mà sao không ai thay đổi cả thầy ạ. Con phải làm sao bây giờ?

    Trả lời:

    Thế mới biết Pháp nhẫn nại, từ bi và nghiêm khắc hơn con nhiều. Pháp cứ để căn cơ nào học theo căn cơ đó không thúc ép, học chưa được thì Pháp nhẫn nại, từ bi dạy lại một cách nghiêm khắc trong nhiều kiếp cho đến khi nào học được mới cho học bài học khác, nhờ vậy mà chúng sanh mới có chuyển hoá từ từ qua bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp. Sao con muốn họ hết khổ, trong khi khổ chính là ân sủng của pháp giúp họ học ra bài học nhân quả nghiệp báo tuyệt vời mà. Pháp vừa từ bi vừa nghiêm khắc, khi nào học thông mới hỷ xả. Xem ra con nôn nóng vì họ là "thân nhân của ta" rồi đó. Vậy chính con cũng chưa học ra bài học "ta" và "của ta" này làm sao trách họ chưa học ra bài học của họ?


    http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq

    Tại sao con lại tự dày vò?


    Con thưa thầy. Con đang có việc khó nghĩ quá xin thầy giúp con. Cách đây 7 năm con bắt đầu ăn chay hoàn toàn và ngồi thiền 3 giờ một ngày, rồi có người bạn giới thiệu cho con website trungtamhotong.org. Sau khi nghe thầy giảng con cũng hiểu nếu còn dính mắc, bám chấp thì vẫn còn bị kẹt. Thầy kể chuyện khúc gỗ nếu không bị mắc vào bờ, không bị mục nát không bị vớt lên thì cứ thế nó sẽ trôi ra biển. Cứ bình thường để không phải là tầm thường, bất thường hay phi thường. 7 năm ăn chay và ngồi thiền con có được cả hay lẫn dở. Thầy cũng dạy:

    "Tự do là ung dung trong ràng buộc,
    Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau."


    Và con cũng học được như vậy, nhưng cái dở thầy con không dạy mà con tự có là cố gắng để ăn chay, cố gắng để ngồi thiền để rồi thấy mình hay hơn, giỏi hơn mọi người, pháp tu mình cao nhất, thầy mình giỏi nhất. Bây giờ con tự thấy mình thật ngu si. Con làm trái những gì thầy con dạy, con có lỗi với thầy con. Con đã ăn mặn trở lại, con giấu điều đó với thầy con và các bạn đồng tu của con. Thầy ơi! Thầy con dạy con phải chay trường, phải đủ thời gian ngồi hằng ngày - rất đúng phải không thầy? Nhưng con vẫn muốn theo cách hướng dẫn của thầy là không cần phải ăn chay, không cần phải khoanh chân, nhắm mắt hằng ngày. Có phải vì con còn ham ăn mặn và lười ngồi phải không ạ? Nhưng thưa thầy, lười ngồi thì có, nhưng ham ăn thì không vì con đã ăn chay được 7 năm rồi thầy ạ. Cứ cố gắng hành như vậy nhưng con chẳng thấy được ra điều gì. Nếu vẫn ăn mặn, nếu vẫn không ngồi hằng ngày nhưng mọi việc con đều trọn vẹn với hiện tại thấy tất cả mọi cái đều như đang là vv..vv.. Và con đang trọn vẹn với nỗi dày vò trong con. Con xin phép thầy dừng ở đây, con vô cùng biết ơn thầy.

    Trả lời:

    Tại sao con lại bỏ chay theo mặn mà không vượt qua khái niệm chay mặn và chỉ ăn để sống chứ không phải sống để ăn? Tại sao con lại bỏ ngồi thiền theo không ngồi thiền mà không vượt qua hình thức ngồi hay không ngồi để có thể thiền trong mọi lúc, mọi nơi, mọi động tịnh của thân tâm? Tại sao con bỏ thầy này theo thầy kia mà không trở về với tánh biết có sẵn nơi chính mình để thấy biết tĩnh lặng trong sáng, không mê lầm, không dính mắc, không nương tựa bất cứ ai hay điều gì trên đời, như đức Phật đã khai thị? Tại sao con lại tự dày vò chỉ vì sợ hãi những điều do con tưởng tượng ra như phản bội, giấu giếm mà không dám làm điều mình thấy đúng với chánh pháp, với lương tri?

    http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq

    Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

    Chuẩn bị gì cho giây phút cận tử


    1) Kính Thầy. Con xin được thành tâm đảnh lễ Thầy.

    Thưa Thầy, bố con đang bị bệnh nặng và đang chuẩn bị gần kề bên bờ sinh tử. Là một người học Phật, nhưng con đang băn khoăn và không biết có nên mời ban hộ niệm đến để giúp cho bố con vào giờ phút lâm chung sắp đến hay không. Bởi bố con từ trước đến nay sống theo kiểu vô thần, không tôn giáo. Con sợ việc mời ban hộ niệm đến có khi lại phản tác dụng. Con chỉ biết khuyên bảo bố giữ lấy cái tâm bình tĩnh, không sợ hãi, không luyến tiếc bất cứ điều gì. Con đang rất mong chờ lời chỉ dạy của Thầy.


    Trả lời:

    Con nên hỏi ý kiến bố con trước, nếu ông không chịu thì thôi, nhưng cho dù ông đồng ý thì cũng chỉ nên mở máy ghi âm để ông nghe tụng kinh nhẹ nhàng, trầm ấm cho tinh thần lắng dịu bớt lo lắng sợ hãi hơn là mời một nhóm hộ niệm ồn ào làm cho ông có cảm tưởng như cầu cho chết vậy thì thần kinh ông căng sẽ thẳng thêm. 
    Người hấp hối cần sự yên tĩnh, cần sự an ủi, động viên của người thân, cần nhắc những điều tốt đẹp nhất mà người ấy đã từng làm trong đời để người ấy tự tin và hoan hỷ là tốt nhất.


    2) Con xin đảnh lễ thầy!Con tạ ơn thầy đã luôn tận tình giải tỏa thắc mắc ở những thư trước của con. Thầy ơi! Hiện tại ba con bị bệnh xơ gan cổ trướng, khó có thể qua khỏi. Giờ ba đã yếu lắm rồi. Con biết một ngày rất gần đây thôi, ba sẽ ra đi. Con đọc sách thấy người ta nói ý niệm cuối cùng rất quan trọng đối với việc tái sanh của người mất. Xin thầy cho con biết: "Con phải làm sao để giúp ba con giữ được thần thức tỉnh táo khi sắp mất ạ?" Con xin tri ân thầy!

    Trả lời: 

    Cận tử nghiệp thuộc về kết quả của nghiệp quá khứ nên chỉ chấp nhận thôi, chủ yếu là tâm người hấp hối có thái độ bình tĩnh sáng suốt đối với cận tử nghiệp ấy hay không mới quyết định hướng tái sinh của người ấy. Vậy nguyên tắc là thân nhân làm cách nào đó để giúp người hấp hối bình tĩnh sáng suốt là tốt nhất.
    Bình thường người ấy thích điều thiện gì nhất thì nên nhắc điều đó để người ấy hoan hỷ và tự tin mới bình tĩnh sáng suốt được. Ví dụ một người Phật tử thích làm phước hay nghe tụng kinh thì lúc đó nên làm phước và tụng kinh để người ấy hoan hỷ, nhưng phải là loại kinh người ấy thích nghe mới được. Nếu người ấy bình sinh không thích hộ niệm mà hộ niệm chỉ làm người hấp hối bất bình mà thôi. Điều này chỉ người thân mới biết được nên làm gì thích hợp nhất cho người đang hấp hối.

    http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq

    CÁC TIẾN TRÌNH TÂM CẬN TỬ

    Tác giả: Ledi Sayadaw
    Dịch giả: Pháp Thông



    Con người luôn luôn bận rộn với những ý nghĩ tốt và xấu cũng như với những dự định làm điều thiện và ác thế này thế kia. Trong khi mãi còn bận toan tính như vậy, thì tử thần tới vỗ vai và thế là họ phải bỏ lại đằng sau mọi của cải, sở hữu, và những người thân yêu để ra đi khỏi cõi đời này vĩnh viễn. Bởi thế chúng ta phải hiểu rõ tầm quan trọng của thời gian liền trước cái chết (thời cận tử) và làm thế nào để đương đầu với cái chết sắp đến một cách bình tĩnh và lợi ích nhất.

    Bốn Nguyên Nhân Của Sự Chết

    Cái chết xảy ra do bốn nguyên nhân, là (1) thọ mạng đã mãn, (2) nghiệp lực chấm dứt, (3) sự kết hợp của hai nguyên nhân trên, và (4) cái chết phi thời do một nghiệp lực (là đoạn nghiệp - upacchedakakamma) - làm gián đoạn. Một tỷ dụ thích hợp cho bốn nguyên nhân của sự chết này là sự tắt của một ngọn đèn dầu. Ngọn đèn có thể tắt do bốn nguyên nhân là (1) dầu cạn, (2) tim lụn, (3) sự kết hợp của cả hai: dầu cạn và tim lụn, và (4) nguyên nhân bên ngoài như một cơn gió thình lình thổi tắt hay người nào đó cố ý thổi tắt.

    1 . Thọ mạng đã mãn

    Mỗi cõi sống có một thọ mạng khác nhau. Trong cõi nhân loại này thọ mạng thay đổi tuỳ theo kiếp tăng hay kiếp giảm (kappa). Nếu thế gian ở trong thời kỳ kiếp đang tăng dần, thọ mạng con người cũng tăng theo cho đến vô lượng, trong khi ở chu kỳ thế gian đang giảm, thọ mạng của con người cũng giảm dần xuống tới mức chỉ còn mười năm (tuổi). Khi Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian này tuổi thọ tối đa được nói là một trăm tuổi. Ngày nay mức đó chỉ vào khoảng bảy mươi lăm. Những người với nghiệp bình thường không thể vượt quá mức tối đa này; chỉ những người sinh ra với năng lực của thiện nghiệp đặc biệt mới có thể sống vượt qua mức bảy mươi lăm. Tuổi thọ của họ có thể quy cho thiện nghiệp quá khứ và các loại thuốc bổ như thuốc trường sinh bất lão - rasāyana, chẳng hạn.
    Trong thời kỳ Đức Phật Gotama (Cồđàm), Tôn Giả Maha Cadiếp (Mahākassapa), Tôn Giả Anan (Anandā) và Bà Visakha, thí chủ của ngôi Chùa Đông Phương Tự, đã sống đến 120 tuổi; Tôn Giả Bakula sống đến 160 tuổi. Các vị này đã tạo những thiện nghiệp cực kỳ cao thượng trong những kiếp quá khứ. Người bình thường, không có những thiện nghiệp đặc biệt như vậy, sẽ không sống hơn thọ mạng 75 tuổi của họ. Cái chết ở độ tuổi này được gọi là “thọ mạng bình thường đã mãn”, cũng như dầu hết làm tắt ngọn đèn mặc dù tim (bấc đèn) vẫn còn vậy.

    2 . Chết do nghiệp lực chấm dứt

    Nghiệp lực đưa đến đời sống của một người sẽ hỗ trợ cho cuộc sống từ giai đoạn thụ thaitrở đi cho đến ngày năng lực (nghiệp ấy) chấm dứt. Cũng có những nghiệp thuộc loại khác tăng cường thêm cho nghiệp hỗ trợ sự sống chính và khi những nghiệp lực này cạn kiệt, người ta sẽ chết mặc dù thọ mạng của họ vẫn chưa mãn. Vì thế nếu nghiệp lực chấm dứt ở tuổi 50, người đó sẽ chết ở tuổi đó mặc dù thọ mạng của họ là 75. Điều này cũng tương tự như ngọn đèn tắt do tim lụn cho dù dầu trong đèn vẫn còn.

    3 . Cái chết do cả hai yếu tố trên

    Một số chúng sinh chết do thọ mạng và nghiệp lực cạn kiệt, cũng giống như ngọn đèn tắt do cả dầu lẫn tim đều cạn đồng thời. Do đó, có những người sống đến 75 tuổi nếu như họ có sự hỗ trợ của nghiệp lực cho đến tuổi đó. Ba loại chết kể trên gọi là chết đúng thời (kāla-maṇa).

    4 . Chết phi thời


    Upacchedaka có nghĩa là chết phi thời hay cái chết không bình thường. Một số chúng sinh đúng ra vẫn tiếp tục sống vì thọ mạng và nghiệp lực của họ cho phép được sống như vậy. Song nếu những ác nghiệp họ đã làm trong quá khứ bất ngờ trổ quả, thời những ác báo của nghiệp khiến cho họ phải chết một cái chết phi thời. Cái chết này cũng tựa như sự tắt của ngọn đèn do một ngọn gió thổi qua dù tim và dầu vẫn còn, hoặc do một người nào đó cố tình thổi tắt. Một cái chết như vậy thường được gọi là chết do đoạn nghiệp - upacchedaka-kamma, tức là sự gián đoạn do quả của ác nghiệp cực mạnh xen vào.
    Tôn Giả Mục Kiền Liên (Mahā Moggallāna), trong một tiền kiếp đã phạm tội giết mẹ. Ác nghiệp này của Ngài đã có cơ hội trổ quả trong kiếp chót làm Mahā Moggallāna; bởi thế ngài phải chịu sự tấn công của năm trăm tên cướp trước khi đúng thời ngài nhập vô dư Niết-bàn (parinibbāna). Vua Tầnbàsala (Bimbisara), một trong những kiếp trước đã đi giày vào trong chánh điện. Do nghiệp xấu này, ngài phải chết đau đớn do những vết thương chính con ngài rạch trên lòng bàn chân trong kiếp hiện tại. Hoàng hậu Samagoati (Sāmāvatī) và các tỳ nữ của bà, trong một kiếp quá khứ đã châm lửa vào một đống cỏ khô, vô tình trong đó có một vị Phật Độc Giác đang nhập định (Diệt thọ tưởng định) (samapatti). Khi cỏ cháy hết, họ mới khám phá ra rằng mình đã thiêu sống một vị Phật Độc Giác. Để che đậy hành vi tội lỗi ấy (vì họ nghĩ lầm rằng họ đã đốt cháy đức Phật Độc Giác, mà thực ra ngài không thể bị lửa cháy hoặc bị tổn hại gì lúc đang nhập định), họ đã chất thêm củi vào vị Phật Độc giác và châm lửa đốt rồi bỏ đi, nghĩ rằng “Bây giờ thì ngài sẽ cháy ra tro.” Sau khi xuất thiền vào cuối ngày thứ bảy, Đức Phật Độc Giác đứng dậy và ra đi, không bị tổn hại gì cả. Ác nghiệp đó đã tìm được cơ hội để cho quả và vì thế họ phải chết một cái chết phi thời do bị thiêu sống cho đến chết. Đây là những trường hợp trong đó một nghiệp bất thiện mạnh mẽ đã gây ra cái chết phi thời.
    Một số cực ác nghiệp có thể tạo ra quả báo tức thời. Ác ma Dūsī (Māra) ném đá vào đầu vị thánh đệ tử của đức Phật Kassapa. Dạ xoa Nanda đánh một búa vào cái đầu mới cạo của Tôn Giả Xá lợi -Phất. Đức Bồ tát Khantivādī khi làm đạo sĩ đã bị giết theo lệnh của đức vua Kalābu. Tất cả những người này - Dūsī, Nanda, và vua Kalābu - do cực ác nghiệp họ làm, đã bị đất nuốt chửng (đất rút) trong kiếp hiện tại của họ. Như vậy, chính những hành vi tàn ác sẽ tạo ra những ác quả tức thời. Cũng tương tự, những người xúc phạm hay xỉ nhục các bậc cha mẹ, người lớn tuổi và giới đức, chắc chắn phải gánh chịu những ác quả của bất thiện nghiệp họ đã làm và chết những cái chết phi thời gọi là akālamaraṇa (phi thời tử) trước khi thọ mạng của họ chấm dứt.

    Những Trường Hợp Chết Phi Thời


    Dòng tương tục danh - sắc, hay tâm và thân, của mỗi chúng sinh được đi kèm bởi những nghiệp lực xấu của quá khứ. Những nghiệp lực xấu này tự nó không thể cho quả đủ nghiêm trọng để giết chết người đó. Nhưng khi người làm điều sai trái ấy không có sự hiểu biết về cách tự phòng hộ bản thân, không lưu tâm đến sức khoẻ và sự sống hàng ngày của mình, những nghiệp lực ấy sẽ tìm được cơ hội đem đến sự nguy hại hay cái chết cho họ. Nếu trong quá khứ, một người đã từng bỏ đói, hành hạ, đánh đập, thiêu cháy, nhận chìm hoặc tra tấn người khác, thời do những ác nghiệp ấy họ sẽ gặp phải số phận tương tự. Những ai đã từng hành hạ người khác trong quá khứ phải gánh chịu những chứng bệnh mãn tính như hen suyễn, phong cùi, v.v… và phải sống cho đến hết thọ mạng bất hạnh và khốn khổ của mình, sau đó mới chết do những chứng bệnh ấy. Dễ duôi trong những thói quen của cuộc sống sẽ mời gọi những ác nghiệp quá khứ đến cho quả. Các bậc hiền trí ngày xưa đã để lại nhiều câu châm ngôn đáng ghi nhớ: “Cuộc sống được bảo đảm nhờ biết nhìn xa thấy trước và có trí tuệ. Tai hoạ xảy ra chỉ do một phút thiếu suy nghĩ; lắm khi chỉ vì một miếng ăn tồi tàn mà làm hại cả đời người. Kẻ ngu đi vào hang hùm chắc chắn là phải chuốc lấy hoạ, không phải nhờ vào vận may mà có thể tránh được. Chớ tin nghiệp tốt của mình mà nhảy vào lửa, nghiệp ấy sẽ không cứu bạn khỏi bị cháy đâu!”
    Những gì mà các bậc hiền trí ngày xưa muốn nói ở đây là: “Mỗi người ai cũng có một kho chứa những nghiệp lực bất thiện trong quá khứ; nếu những nghiệp ác này không quá mạnh, chúng không thể có được cơ hội để tự trở thành quả. Chúng chỉ có cơ hội cho quả khi người ta dễ duôi (sống cẩu thả), không chú tâm chánh niệm và bất cẩn trong lối sống của họ. Do đó, nếu một người sống cẩu thả và xem thường sức khoẻ của mình, không biết lo xa và dự phòng trước để chăm sóc bản thân mình, thì ngay cả những ác nghiệp nhỏ cũng sẽ có cơ hội để cho quả và cái chết cũng sẽ rất gần đối với một người như vậy (ngay cả trước khi thọ mạng và nghiệp lực của họ chấm dứt)” Đây là lời khuyên của các bậc hiền trí cho các thế hệ sau.
    Tóm lại, trong số bốn loại chết kể trên, loại sau cùng (chết phi thời) ngày nay rất phổ biến vì hầu hết mọi người đều sống một cách liều lĩnh, khinh suất. Cẩu thả trong lối sống là nguyên nhân chính của những cái chết phi thời. Những ai muốn sống cho đến hết thọ mạng của mình cần phải giữ gìn cuộc sống với chánh niệm và trí tuệ.

    Tầm Quan Trọng Của Phút Giây Cuối Cùng

    Khi một người sắp chết do bất kỳ nhân nào trong bốn nhân đã nói, điều quan trọng là họ phải có được những tốc hành tâm thiện (javana-cittas) khoảng nửa giờ trước khi chết. Nếu những thiện tư duy này thắng thế cho đến hơi thở cuối cùng, người ấy chắc chắn sẽ tái sinh trong những cõi an vui. Nếu họ có những tốc hành tâm bất thiện trước lúc chết, chắc chắn họ sẽ phải tái sinh vào bốn ác đạo. Do đó, vòng cuối cùng đối với con ngựa đua quan trọng thế nào, thì những sát-na cuối cùng đối với một người muốn có một tái sinh tốt cũng quan trọng như vậy. Một người có được những tư duy tốt hay xấu trước lúc lâm chung tuỳ thuộc vào loại đối tượng hiện khởi đến tâm họ.

    Ba Loại Đối Tượng


    Ngay trước lúc chết, người ta sẽ thấy một trong ba đối tượng, đó là, kamma (nghiệp),kamma nimitta (nghiệp tướng) và gati-nimitta (thú tướng). Ở đây nghiệp có nghĩa là những việc làm tốt hoặc xấu (nói khác hơn, những tư hay chủ ý - cetanā - thiện hoặc ác) họ đã làm trong quá khứ. Nghiệp tướng - Kamma nimitta là những vật dụng hay công cụ họ đã dùng trong việc thực hiện những việc làm thiện hay ác ấy. Thú tướng - gati nimitta là viễn ảnh về cảnh giới hay nơi họ sẽ tái sinh vào đó.

    Nghiệp Xuất Hiện Như Đối Tượng Như Thế Nào


    Khi các nghiệp quá khứ hay hành động mà người ta đã thực hiện chỉ một vài giây trước, hoặc chỉ nửa giờ hay một giờ trước, hoặc có khi những nghiệp đã thực hiện nhiều kiếp trước, hoặc nhiều đại kiếp trước, có cơ hội cho quả tái sinh trong kiếp sống kế, chúng sẽ xuất hiện ngay đến tâm của người sắp chết. Liên quan đến sự xuất hiện của nghiệp, cần nói rõ ở đây là, nếu nghiệp ấy là nghiệp bố thí hoặc giữ giới, nó sẽ xuất hiện bằng cách nhớ lại hoặc bằng cách tự hiện khởi ngay lúc đó giống như trong một giấc mơ vậy. Vì thế có hai cách xuất hiện của thiện nghiệp. Còn đối với các nghiệp bất thiện, nếu nghiệp ấy là sát sinh, thì sự xuất hiện của nghiệp là được nhớ lại hay do nó tự hiện khởi như thể việc sát sinh ấy đang được làm ngay lúc đó. Như vậy cũng có hai cách xuất hiện của bất thiện nghiệp. Đối với các nghiệp thiện và bất thiện khác sự xuất hiện cũng cần được hiểu theo cách như vậy.

    Nghiệp Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào

    Ai từng sát sinh sẽ thấy những vũ khí họ đã sử dụng: gươm, dao, lưới (cá), mũi tên, gậy gộc, v.v… như cảnh cận tử. Một người đồ tể được bảo là sẽ thấy những hình ảnh có tính cách tiên tri của một đống xương bò. Ai từng làm những việc vô đạo đức như trộm cắp, tà dâm v.v…, sẽ thấy những cảnh tượng tương xứng với ác nghiệp của họ.
    Ai từng làm những việc thiện như xây Chùa, tạo Tháp sẽ thấy những cảnh Chùa Chiền, Bảo tháp ngay trước lúc chết. Hoặc họ có thể thấy những vật mà họ đã bố thí, cúng dường kết hợp với thiện sự xây Chùa tạo Tháp của họ, như Y, Bát, hương hoa, đèn nến v.v… Đối với những người đã từng giữ giới hoặc hành thiền sẽ thấy những hình ảnh như xâu chuỗi, áo quần sạch sẽ, thiền đường, những cánh rừng nơi hành giả thường tới hành thiền v.v… Những ai từng làm việc phục vụ, cung kính khác cũng sẽ thấy những hình ảnh tương xứng.

    Thú Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào


    Vào thời cận tử, những dấu hiệu như điềm báo trước sẽ xuất hiện để cho biết đời sống kế tiếp của một người. Nếu một người sẽ tái sinh Thiên giới, những Thiên nữ, Thiên cung, và Thiên viên v.v… sẽ xuất hiện trước mắt (tâm) người ấy. Nếu một người sẽ tái sinh trong cõi nhân loại, màu đỏ của thành vách thai bào của người mẹ tương lai sẽ xuất hiện với họ. Nếu địa ngục là số phận của họ, thời họ sẽ thấy những con chó đen (hắc khuyển), lửa địa ngục, hay những người cai quản địa ngục. Người sắp trở thành ngạ quỷ (petas) sẽ thấy những khu rừng lớn, núi non, sông nước, bờ biển nơi họ sẽ cư trú.

    Sự Biểu Lộ Trên Gương Mặt

    Sự biểu lộ trên gương mặt của người sắp chết sẽ chỉ ra cho thấy lần sanh kế của họ. Nếu gương mặt họ trong sáng và hân hoan, chắc chắn họ sẽ tái sinh trong những cảnh giới cao (như Chư Thiên v.v…). Một gương mặt u ám, buồn rầu hay nghiêm khắc cho thấy sự tái sinh của họ sẽ là các cảnh giới thấp. Tuy nhiên, cũng có trường hợp họ sẽ mỉm cười trong trạng thái mê mẩn đối với các dục lạc quá khứ. Những nụ cười ấy không thể xem như dấu hiệu tốt.

    Sự Biểu Hiện Qua Lời Thì Thào


    Đôi khi người sắp chết thì thào hay nói khe khẽ những lời gì đó không rõ rệt một cách vô ý thức. Xưa có một ông già, Cha của Trưởng lão Sona, bậc Alahán, từng là thợ săn lúc còn trai trẻ, về già ông xuất gia làm Tỳ Khưu trong Chùa của chính con ông. Khi sắp chết, trong cảnh cận tử, ông thấy những con chó đen cứ rượt đuổi theo ông. Ông kêu lên liên tục “Này con ơi! Hãy đuổi lũ chó đi cho cha.”
    Ngài Sona biết rằng cha mình đang thấy những điềm xấu và chắc chắn sẽ sinh vào địa ngục. Nhờ các vị sư trong chùa tìm kiếm những bông hoa tức thời đem ra rải chúng trên nền Tháp (thờ Xá Lợi), ngài khiêng cha cùng với giường đến bên Tháp và nói với ông, “Này Sư Phụ, hãy hoan hỷ lên. Con đã cúng dường hoa nhân danh Sư Phụ đó.” Người cha hồi tỉnh và trong lúc đang cúng dường hoa với sự chú tâm vào Đức Phật thì bất tỉnh trở lại. Trong cảnh cận tử bây giờ ông thấy các Thiên nữ (nàng tiên trên trời) và vì thế ông thì thào, “Này con, hãy mời họ ngồi; các kế mẫu của con đang đến kìa.” Lúc đó người con nghĩ, “Bây giờ những dấu hiệu của cảnh giới Chư Thiên đã xuất hiện.” Vị sư già chết và được sinh lên Thiên giới.

    Các Loại Thú Tướng (Gati-nimitta) Khác


    Có một số người lúc sắp chết chợt thấy những cảnh thực về lần tái sinh kế của họ. Vào thời Đức Phật Gotama (tức Đức Phật Thích Ca của chúng ta), Revati vợ của một người đàn ông giàu có tên Nandiya, là người đàn bà rất kiêu căng tự phụ. Bà không có đức tin nơi đức Phật và thường hay phỉ báng các vị Tỳ Khưu; ngược lại chồng bà là một thiện nam rất mộ đạo. Sau khi chết ông trở thành một vị Chư Thiên. Khi Revati sắp chết, hai giám ngục từ địa ngục tới lôi bà lên thiên giới và chỉ cho bà thấy cuộc sống huy hoàng mà Nandiya (chồng bà) đang hưởng thụ. Rồi chúng lại kéo bà xuống địa ngục để trừng phạt bà về thái độ độc ác trên nhân thế.
    Cũng trong thời Đức Phật, một thiện nam đáng kính tên Dhammika (Thăm-mí-ká) quy y nơi Tam bảo. Ông hướng dẫn một nhóm thiện tín sống cuộc đời đạo đức. Khi giờ chết đến gần, ông lắng nghe bài kinh các vị Tỳ Khưu tụng bên giường bệnh của ông, và thấy sáu cỗ Thiên xa (xe từ cõi trời xuống) đang chờ ở trên đầu để đưa ông về Thiên giới (devaloka). Ông cũng thấy và nghe các vị Chư Thiên tranh nhau xem ai sẽ là người đưa ông lên Thiên Xa của họ. Chẳng bao lâu ông chết và được Thiên Xa của cõi Trời Tusita (Đẩu Suất) chở lên Thiên giới, nơi đây ông trở thành một vị Chư Thiên (deva).
    Đối với những người bị đất nuốt chửng (đất nứt) do những ác nghiệp nghiêm trọng (ngũ nghịch đại tội), họ sẽ cảm thọ trực tiếp cái nóng của lửa địa ngục Atỳ (Avicī) ngay trong hiện tại. Như vậy, bây giờ chúng ta đã thấy thú tướng (gati-nimitta) xuất hiện theo những cách khác nhau. Trong thời đại của chúng ta cũng vậy, có số người lúc lâm chung nghe được tiếng nhạc (trời) và ngửi được mùi hương thơm ngào ngạt, có khi những người đứng kế bên cũng nghe và ngửi thấy nữa. Những gati-nimitta này cùng với nghiệp (kamma) và nghiệp tướng (kamma nimitta) thường xuất hiện như những ảo ảnh do sức mạnh của nghiệp quá khứ tìm được cơ hội cho quả.

    Giúp Cho Cảnh Tốt Xuất Hiện


    Khi một người bị bệnh đang dần dần chết một cái chết tự nhiên, các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến của họ có thể giúp cho những đối tượng tốt xuất hiện trong thị lực của người sắp lâm chung ấy. Khi biết chắc rằng người bệnh không thể hồi phục được, họ sẽ dọn dẹp phòng và khu vực quanh đó cho thật sạch sẽ và cúng dường hương hoa lên Đức Phật (bàn thờ Phật). Ban đêm, toàn bộ căn phòng phải được thắp sáng. Họ sẽ khuyên người sắp chết hình dung đến cảnh hương hoa, đèn nến đã được cúng dường đến Đức Phật nhân danh họ và yêu cầu người ấy hoan hỷ với thiện sự này. Họ cũng sẽ đọc những bài kinh Paritta (kinh Bảo-hộ) lúc mà tâm người bệnh vẫn có thể nghĩ đến những đối tượng thiêng liêng. Người thân không nên cảm thấy thất vọng và người săn sóc họ cũng không nên để lộ vẻ u sầu. Việc đọc kinh và cúng dường hương hoa không chỉ làm vào giây phút cuối cùng trước khi người ấy chết, mà phải được thực hiện trước đó nhiều ngày. Chỉ như vậy người sắp chết mới được thấm nhuần trong những ý nghĩ về thiện nghiệp cúng dường Đức Phật và giáo pháp, ngửi được mùi hương ngào ngạt của những bông hoa, nghe được những âm thanh của pháp bảo, hay những lời dạy của Đức Phật trong vài ngày.
    Như vậy, khi giây phút lìa đời đến gần, vào lúc người bệnh đang nhìn thấy ánh sáng và hoa quả cúng dường trước đức Phật, ngửi mùi hương trầm ngào ngạt, nghe những lời pháp bảo, thì tử tâm sẽ phát sinh trước khi những đối tượng này biến mất. Vì lẽ đó những tư duy thiện của giây phút cuối cùng này thuộc về thiện nghiệp, người chết chắc chắn sẽ tái sinh vào những cảnh giới tốt. Bởi thế các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến phải có trách nhiệm giúp cho những đối tượng thiện xuất hiện đến tâm người sắp chết trong lúc họ vẫn còn khả năng hướng tâm mình vào những đối tượng này. Hãy nhớ việc Trưởng lão Sona đã giúp cho những dấu hiệu xấu của cha mình biến mất và làm cho những tướng tốt xuất hiện đến tâm ông như thế nào, để giúp cho người sắp chết có được những lợi ích đúng như vậy.

    Tâm Tái Sinh Xuất Hiện Như Thế Nào


    Liền sau tử tâm (thuộc kiếp trước) chấm dứt, tâm tái sinh khởi lên trong kiếp sống mới. Hai tâm này liên quan lẫn nhau. Giữa tử tâm và tâm tái sinh không có khoảng cách (gián đoạn) nào cả. Một người vừa lìa đời ở cõi nhân loại ngay lập tức sẽ tái sinh trong một cảnh giới nào đó, có thể là địa ngục hay thiên giới. Ngay sau khi chết, tâm tái sinh xuất hiện và đưa đến sự hình thành của một chúng sinh mới, một kiếp sống mới.

    Hai Tà Kiến

    Chúng ta phải rất thận trọng, bởi nếu không chúng ta sẽ quan niệm về sự chết và tái sinh trong ánh sáng của hai tà kiến là thường kiến (sassata-diṭṭhi) và đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi). Tin rằng có một linh hồn cư trú trong thể xác, và chính linh hồn này chuyển di sang một thân mới để trở thành một chúng sinh khác là thường kiến (sassata: cho rằng linh hồn là vĩnh hằng + diṭṭhi: tà kiến). Tin rằng mọi danh (nāma) và sắc (rūpa) của kiếp trước (kể cả những gì họ nghĩ là linh hồn) không hề có sự tiếp tục trong kiếp sống mới, khi một người chết mọi chuyện trong kiếp trước kể như chấm dứt (đi đến sự huỷ diệt hoàn toàn), và có lẽ một chúng sinh mới có thể do thượng đế tạo ra, là đoạn kiến (uccheda: cuối cùng của một đời người tất cả danh và sắc trong kiếp đó hoàn toàn huỷ diệt; không có sự liên tục nào cả +diṭṭhi: tà kiến)

    Chánh Kiến


    Đối với người phải tái sinh trong một kiếp sống mới, ba yếu tố - vô minh (avijjā), tham ái (taṅhā), và nghiệp (kamma) được xem là quan trọng nhất. Khi cái chết tới gần, vô minh che đậy những khuyết điểm của các uẩn danh và sắc trong kiếp sống kế. Tham ái lúc này khao khát đối với kiếp sống ấy. Mặc dù những dấu hiệu (tướng trạng) xấu xa và đáng sợ của kiếp sống kế xuất hiện, tham ái nghĩ rằng nó sẽ được một cuộc sống không có những điều xấu xa, đáng sợ ấy. Như vậy, do không thấy khuyết điểm (của các uẩn) vì vô minh đã che đậy nó, tham ái có khuynh hướng hướng đến và chấp thủ cuộc sống mới. Trong kiếp sống mới đó, do sức mạnh của nghiệp, danh và sắc vốn gọi là tái sinh sẽ được thiết lập đầu tiên.
    Như vậy, vì danh và sắc, vào sát na tục sinh trong một kiếp sống mới, phát sinh như kết quả của vô minh, tham ái và nghiệp trong kiếp sống trước, đoạn kiến cho rằng “những người mới sinh (do sự sáng tạo của Thượng đế, v.v…) không có sự liên quan nào với kiếp sống trước”, là không đúng; và thường kiến cho rằng “linh hồn từ kiếp trước đầu thai vào kiếp sống mới” cũng không đúng nốt. Nói gì đến danh và sắc trong kiếp sống trước đầu thai vào kiếp sống mới, ngay cả trong một đời người, danh và sắc sanh ở một nơi, cũng đã không di chuyển sang một nơi khác rồi, vì chúng diệt liền sau khi sanh vậy. Cho nên những gì được gọi là “linh hồn thường hằng” về cơ bản là phi hữu (non-existent: phi hữu, không có hay không tồn tại)
    Bởi thế, chúng ta phải rất cẩn thận không nên để bị dẫn dắt đi lầm đường bởi hai tà kiến này. Chúng ta phải hiểu rằng trong một kiếp sống mới, sự thụ thai, sự hình thành của danh và sắc, là kết quả của vô minh, tham ái, và nghiệp của kiếp trước. Đây là chánh kiến duy nhất. Khi chúng ta hét lớn trong vùng phụ cận của một ngọn núi, chúng ta sẽ nghe thấy một tiếng vang. Tiếng vang này không phải là âm thanh ban đầu do chúng ta tạo ra, song nó cũng không độc lập với âm thanh đầu tiên ấy. Khi một cây đèn được mồi từ ngọn lửa của cây đèn thứ nhất, ngọn lửa mới không phải là ngọn lửa của cây đèn thứ nhất; song nó cũng không độc lập với ngọn lửa của cây đèn ấy. Cũng vậy, kiếp sống mới không phải là sự đầu thai của kiếp sống cũ; song nó cũng không độc lập với kiếp sống cũ. Hãy nhớ rằng nếu nghiệp quá khứ là bất thiện, kiếp sống hiện tại cũng sẽ là bất thiện như vậy. Có thể nói, những kinh nghiệm tốt và xấu trong kiếp hiện tại được giải thích bởi hai yếu tố: những hành động (nghiệp) đã làm trong quá khứ, và sự hiểu biết hay kiến thức và nỗ lực chuyên cần trong kiếp hiện tại.

    Kết luận

    Khi chúng ta nói “một người chết” không có nghĩa rằng đối với người đó thế là hết không còn gì nữa; việc quan trọng là người ấy có được tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hay không, vì chính để được tái sinh trong một kiếp sống mới mà người ta chết vậy. Và để sửa soạn cho mình có được một tâm trạng tốt ngay trước cái chết – điều chỉ có được khi người ta chết ít đau đớn, ốm đau nhẹ nhàng đến mức có thể, và nhất là phải có những người bạn lành biết làm cách nào để trợ giúp chúng ta vào lúc lâm chung – điều tốt hơn và lợi ích hơn cả vẫn là chúng ta biết chuẩn bị trước cho kiếp sống tương lai, thay vì chờ đến giây phút cuối cùng. Chúng ta phải có một cuộc sống đạo đức, và chuẩn bị cho ngày chết của mình sao cho có được một tái sinh tốt đẹp trong vòng luân hồi này cho đến khi chứng đắc Niết-bàn.

    (Trích Chánh kiến và Nghiệp)
    http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/ChanhKienVaNghiep/ChanhKien5.htm

    Ngày gửi: 07-10-2012

    Câu hỏi:

    Kính đảnh lễ Thầy! Xin Thầy cho con được hỏi ạ:Lễ cúng hằng tuần trong 49 ngày cho người vừa chết có phải do Đức Phật chỉ dạy không? Nếu phải thì lễ cúng tuần đó có ý nghĩa gì ạ? Con xin cảm ơn Thầy ạ.

    Trả lời:

    Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì đức Phật chỉ dạy ngài Moggallana (Mục Kiền Liên) là nên để bát hoặc trai Tăng cúng dường để hồi hướng phước báu đến người quá vãng chứ không có nói cúng thất. Cúng thất là cách vận dụng sau này của Phật Giáo Trung Hoa. Tuy nhiên cúng thất cũng tốt nếu nội dung cúng thất như cách đức Phật dạy ngài Mục-kiền-liên, để nhờ đức độ chư Tăng trợ duyên hồi hướng phước báu của thí chủ đến hương linh người quá cố được thiện sanh cảnh giới an lạc. Vì người quá cố chỉ hưởng được tâm lực và phước lực hồi hướng thôi chứ không thể dùng vật thực dương gian như người còn sống.

    http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq