Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Mặc cảm tội lỗi

Tội và xá tội

Cách đây vài năm có một người phụ nữ Úc đến chùa ở Perth tìm gặp tôi. Người ta thường đi gặp các sư để xin ý kiến về những vấn đề riêng tư, có lẽ bởi vì lời khuyên của các thầy rất rẻ – chúng tôi không bao giờ bắt ai trả tiền dịch vụ. Bà ta bị dằn vặt bởi một mặc cảm tội lỗi. Sáu tháng trước đó bà làm việc trong một vùng mỏ ở phía Bắc bang Tây Úc. Công việc vất vả nhưng lương bổng thì khá. Chỉ có điều là giờ rảnh không có gì để giải trí. Vì vậy một hôm vào chiều Chủ nhật bà ấy rủ cô bạn thân nhất và người bạn trai của cô ấy nữa lái xe vào rừng chơi. Cô bạn không thích đi và anh bạn trai cũng không thích, nhưng đi một mình thì không vui cho nên bà ta cố tán tỉnh, thuyết phục, nài nỉ và cuối cùng thì các bạn ấy đồng ý đi cùng.

Trên đường đi thì xảy ra tai nạn: chiếc xe bị trượt trên con đường rải sỏi không đầm chặt. Cô bạn gái bị chết và người bạn trai của cô ấy bị liệt. Còn bà ta, người đề xuất ý tưởng thì lại không sao.
Bà ta kể chuyện cho tôi nghe với đôi mắt buồn rầu: “Giá như con không cố ép họ đi thì cô bạn con vẫn còn sống và anh bạn kia vẫn còn đôi chân. Lẽ ra con không nên nài ép họ. Con cảm thấy rất khổ tâm. Con có mặc cảm tội lỗi”.
Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong trí tôi là nói rằng bà ta không có lỗi gì cả. Bà ta không lên kế hoạch để tai nạn xảy ra. Bà ta không có dự định làm thương tổn bạn bè. Sự việc xảy ra, thế thôi. Hãy quên đi. Bỏ cái mặc cảm tội lỗi ấy đi. Nhưng nghĩ lại tôi thấy có lẽ bà ta đã nghe những lời lẽ như thế hàng trăm lần rồi và rõ ràng là không có hiệu quả gì. Thế nên tôi ngừng lại, nhìn sâu vào tình cảnh của bà ta và nói nếu như bà cảm thấy có tội là rất tốt.
Khuôn mặt bà ta biến đổi ngay, từ chỗ buồn rầu chuyển thành ngạc nhiên, và từ chỗ ngạc nhiên đến chỗ nhẹ nhõm. Bà ta ắt hẳn chưa từng nghe là nên cảm thấy có tội. Tôi đoán đúng. Bà ta cảm thấy có tội về mặc cảm tội lỗi. Bà ta cảm thấy tội lỗi nhưng mọi người lại bảo là đừng có như vậy. Bà ta cảm thấy “có tội gấp đôi”, vừa cảm thấy có tội về tai nạn vừa có tội vì mang mặc cảm có chữa trị cho những người bị chấn thương vì tai nạn xe cộ. Trong môi trường đó bà sẽ làm việc hết lòng và nguôi ngoai dần mặc cảm tội lỗi; và như vẫn thường xảy ra trong công việc thiện nguyện, người đi giúp đỡ cũng được giúp đỡ nhiều không kém những người được giúp.tội. Tâm trí phức tạp của chúng ta vận hành như vậy đó.
Chỉ khi xử lý xong lớp mặc cảm thứ nhất và xác định rằng cảm thấy có tội là đúng chúng ta mới có thể tiếp tục xử lý giai đoạn kế tiếp là tìm cho ra cách giải quyết. Vậy thì phải làm gì với nó?
Có một phương ngôn Phật giáo nói rằng: “Nên thắp một ngọn đèn hơn là than phiền về bóng tối”.
Luôn luôn có thể làm một điều gì đó thay vì cứ hoang mang. Thậm chí có thể ngồi yên một lúc, không than van.
Cảm thấy tội lỗi về cơ bản khác với ăn năn. Trong văn hóa của chúng ta, “có tội” là một phán quyết của quan tòa kèm theo một tiếng búa nện xuống bàn. Nếu không ai trừng phạt, chúng ta sẽ tìm cách này, cách khác tự trừng phạt. Có tội nghĩa là trừng phạt trong sâu thẳm tâm hồn.
Thế nên người phụ nữ trẻ này cần phải có cách sám hối để giải tỏa tội lỗi này. Nếu bảo bà ta quên đi và cứ tiếp tục sống yên vui với cuộc đời, lời khuyên đó sẽ không có hiệu quả. Tôi đề nghị bà đi làm công tác thiện nguyện ở một đơn vị phục hồi chức năng của bệnh viện địa phương,

Tội hình sự

Trước khi tôi có vinh dự được giao trọng trách làm viện chủ một tu viện, tôi vẫn thường viếng thăm các nhà tù xung quanh thành phố Perth. Tôi ghi hồ sơ cẩn thận những giờ phục vụ trong nhà tù như những công trạng để phòng khi tôi bị kết án!
Trong chuyến viếng thăm nhà tù đầu tiên ở Perth, tôi rất ngạc nhiên và có ấn tượng mạnh trước số người tham gia cuộc nói chuyện của tôi về hành thiền. Phòng họp đầy ắp. Khoảng chín mươi lăm phần trăm tội nhân đến học thiền. Tuy nhiên tôi nói chuyện càng lâu thì thính giả càng nhốn nháo. Chừng mười phút sau đó, một người tù đưa tay lên ngắt lời và xin phép đặt câu hỏi. Tôi nói được rồi, cứ hỏi.
Ông ta nói, “Phải chăng qua thiền định có thể học cách bay lên cao qua khỏi những bức tường của trại giam?”.
Lúc ấy tôi mới hiểu tại sao có đông người đến nghe tôi nói chuyện như thế. Tất cả đều muốn học thiền để bay ra khỏi nhà tù! Tôi nói rằng chuyện ấy cũng có thể làm được, nhưng chỉ với một số thiền sinh xuất sắc, và phải mất nhiều năm tập luyện. Lần kế tiếp tôi đến nhà tù đó nói chuyện thì chỉ còn bốn người tới dự.
Sau nhiều năm giảng dạy trong tù tôi quen biết một số tù nhân và hiểu rõ về họ. Tôi khám phá ra một điều là mọi tội nhân đều cảm thấy có lỗi về những gì họ đã làm. Sâu thẳm trong lòng, họ cảm thấy như thế suốt đêm ngày. Họ chỉ nói điều này cho những người bạn rất thân. Trước mặt người khác, họ luôn luôn mang một bộ mặt ngang tàng. Nhưng một khi họ đã tin cậy bạn, xem bạn như một người hướng dẫn tâm linh, thì họ sẽ cởi mở và bộc bạch mặc cảm tội lỗi đớn đau. Tôi chỉ có thể giúp họ với câu chuyện sau đây: chuyện về những học sinh lớp b.

Học sinh lớp B

Cách đây nhiều năm, một thí nghiệm về giáo dục đã được bí mật tiến hành ở một trường học tại nước Anh. Trường có hai lớp nhận học sinh cùng độ tuổi. Cuối năm, nhà trường tổ chức một kỳ thi để chọn lựa học sinh cho năm học sau. Tuy nhiên người ta không công bố kết quả. Để giữ bí mật, chỉ có hiệu trưởng và vài nhà tâm lý học biết kết quả ấy. Rồi người ta xếp các học sinh có điểm cao nhất vào cùng một lớp với các học sinh điểm cao thứ tư và thứ năm, rồi thứ tám, thứ chín, mười hai và mười ba, và cứ như thế. Đồng thời người ta xếp học sinh có điểm cao thứ nhì và thứ ba vào một lớp khác cùng với học sinh thứ sáu và bảy, mười và mười một, và cứ như vậy. Nói cách khác, dựa vào điểm số trong kỳ thi, người ta xếp các học sinh khá và kém chia đều trong hai lớp. Các thầy cô giáo trong năm học kế cũng được chọn lựa về năng lực và kinh nghiệm giảng dạy đồng đều nhau. Thậm chí các phòng học cũng được trang bị với những tiện nghi như nhau. Mọi thứ đều được xếp đặt làm sao cho ngang nhau trong chừng mực có thể, ngoại trừ một chuyện, là một lớp được gọi là lớp A, và lớp kia được gọi là lớp B.
Trên thực tế, học sinh trong hai lớp có trình độ ngang nhau, nhưng trong đầu óc mọi người thì học sinh lớp A là những học sinh giỏi còn học sinh lớp B thì kém hơn. Một số phụ huynh học sinh lớp A cũng lấy làm ngạc nhiên với sự hài lòng là con mình thông minh và do đó khen ngợi và tưởng thưởng các cháu đó. Trong khi đó phụ huynh học sinh lớp B trách mắng con cái mình là không học hành chăm chỉ và còn không cho các cháu những món quà thưởng nữa. Thậm chí các thầy cô giáo dạy lớp B cũng có một thái độ khác. Họ không trông mong những học sinh lớp B đạt kết quả cao. Cái ảo tưởng đó được duy trì suốt năm. Và rồi người ta tổ chức kỳ thi chung cuối năm.
Kết quả làm người ta lạnh xương sống tuy rằng không ngạc nhiên cho lắm. Những học sinh lớp A làm bài tốt hơn rất nhiều so với học sinh lớp B. Kết quả giống như là năm trước người ta đã chia đôi một nửa học sinh giỏi cho vào lớp A. Các học sinh đều trở thành học sinh “lớp A”. Và học sinh của lớp kia, mặc dầu sức học tương đương vào năm trước đã trở thành học sinh “lớp B”. Đó là điều người ta đã bảo các cháu trong suốt năm học, đó là cách mà các cháu được đối xử, và đó là cách mà các cháu đã tin – và quả là đã trở thành như thế.

Đứa trẻ trong siêu thị

Tôi bảo các “bạn tù” đừng bao giờ nghĩ mình là tội phạm mà chỉ là những người đã từng làm một hành vi tội lỗi. Bởi vì nếu họ được gọi là tội phạm, nếu họ bị cư xử như là những tội phạm, và tin rằng họ là những tội phạm thì họ trở thành tội phạm. Sự thể là như thế.
Tại một siêu thị nọ ở quầy tính tiền, một đứa trẻ đánh rơi một hộp sữa. Hộp sữa bị vỡ và sữa chảy lênh láng khắp sàn nhà. Bà mẹ mắng con: “Đồ ngu!”.
Ở một quầy khác, một đứa trẻ đánh rơi một hộp mật ong. Hộp bị vỡ, mật chảy lênh láng. Bà mẹ la con, “Ồ, con làm bậy quá”.
Đứa trẻ thứ nhất bị xếp loại ngu suốt đời; còn đứa kia chỉ phạm lỗi có một lần. Đứa trẻ đầu tiên có thể trở thành một thằng ngu, còn đứa thứ hai có thể học được cách làm sao để khỏi làm bậy.
Tôi hỏi những người bạn trong tù là họ làm gì khác trong ngày phạm tội. Họ làm gì khác vào những ngày khác trong năm ấy? Họ làm gì vào những năm khác trong cuộc đời của họ? Rồi tôi kể cho họ nghe câu chuyện về bức tường gạch của tôi. Có những viên gạch tượng trưng cho cuộc đời của chúng ta ngoài lúc phạm tội. Quả thật, những viên gạch tốt luôn luôn nhiều hơn, nhiều hơn rất nhiều những viên gạch xấu. Vậy thì, các bạn phải chăng là một bức tường gạch xấu cần phải phá bỏ? Hay các bạn là một bức tường gạch tốt có vài viên xấu giống như mọi người khác?
Vài tháng sau đó tôi trở thành viện chủ và không đi thăm các trại giam nữa. Một hôm, tôi nhận được cuộc gọi của một sĩ quan quản giáo. Ông ta mời tôi đến chơi. Ông ta có một lời khen mà tôi rất quí. Ông ta nói rằng các học trò của tôi ở nhà tù khi đã thi hành xong án phạt không bao giờ trở lại nữa.

Tất cả chúng ta đều là tội phạm

Trong câu chuyện trước, tôi nói về những người mà tôi đã trò chuyện trong trại giam, nhưng thông điệp đó cũng áp dụng cho bất cứ ai đang “bị giam” trong nhà tù lương tâm. Ngoài “tội lỗi” mà chúng ta đã phạm và làm cho chúng ta mang mặc cảm – thì chúng ta còn làm gì khác trong ngày hôm đó, trong năm đó, trong cuộc đời này? Chúng ta có thể nhìn thấy những viên gạch khác ở bức tường ấy không? Chúng ta có thể nhìn vượt ra khỏi hành vi sai lầm đã gây ra mặc cảm phạm tội hay không? Nếu như chúng ta cứ tập trung suy nghĩ về hành vi “lớp B” quá lâu, chúng ta có thể trở thành những con người “lớp B” – đó là lý do khiến chúng ta cứ mãi nhắc đi nhắc lại lỗi lầm của mình và chất chồng thêm mặc cảm tội lỗi. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những phần đời khác, những viên gạch khác trong bức tường của mình, khi chúng ta có một tầm nhìn hiện thực thì một tuệ giác tuyệt vời có thể bừng nở trong tâm: chúng ta xứng đáng được tha thứ.

Buông bỏ mặc cảm tội lỗi, mãi mãi

Giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc hành trình vượt thoát mặc cảm tội lỗi là tự mình tin tưởng rằng mình xứng đáng được tha thứ. Những câu chuyện mà tôi kể cho tới lúc này là để hỗ trợ cho chúng ta, nhưng bước cuối cùng để thoát ra khỏi nhà tù thì mỗi người phải tự làm lấy.
Hồi còn nhỏ, một người bạn của tôi đang chơi đùa với một đứa bạn thân. Trong khi đùa nghịch trên một cây cầu ở bến nước, bạn tôi xô người bạn kia xuống sông.

Bạn kia bị chết đuối.

Suốt nhiều năm liền, bạn tôi sống trong sự dằn vặt thường xuyên. Cha mẹ của người bạn chết đuối đó sống bên cạnh nhà. Bạn tôi lớn lên trong ý thức rằng mình đã cướp đi sinh mạng của một người con của họ. Rồi một hôm, người bạn ấy nói với tôi rằng anh ta nhận ra rằng không cần phải mang hoài mặc cảm tội lỗi nữa. Anh ta đã bước ra khỏi nhà tù của mình để đến với bầu không khí ấm áp của tự do.

Nguồn: Who Ordered This Truckload of Dung?

Ajahn Brahm là một tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy người Anh, hiện là viện trưởng một tu viện Nguyên thủy ở Tây Úc, một trong những người tích cực hoằng pháp ở vùng Nam Bán cầu, tác giả nhiều quyển sách có giá trị viết về Phật giáo.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 153 | AJAHN BRAHM | TRẦN NGỌC BẢO trích dịch

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Tiếng Vọng

Có một cậu bé ngỗ nghịch hay bị mẹ khiển trách. Ngày nọ giận mẹ, cậu chạy đến một thung lũng cạnh rừng rậm. Lấy hết sức mình, cậu thét lớn: "Tôi ghét người".
Khu rừng có tiếng vọng lại: "Tôi ghét người". Cậu bé hoảng hốt quay về, sà vào
lòng mẹ khóc nứt nở. Cậu không hiểu được từ trong khu rừng lại có người ghét cậu.
Người mẹ nắm tay con, đưa cậu trở lại khu rừng. Bà nói: "Giờ thì con hãy thét thật to:
“Tôi yêu người”. Lạ lùng thay, cậu bé vừa dứt tiếng thì có tiếng vọng lại: "Tôi yêu người".
Lúc đó người mẹ mới giải thích cho con hiểu: "Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió ắt gặp bão. Nếu con  thù ghét người thì người cũng thù ghét con. Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con"

ST

Lay ta tỉnh mộng, một lời Tâm kinh

Mùa thu rong bước trên ngàn
Đừng theo chân nhé, trần gian muộn phiền!
Võng đong đưa một giấc thiền
Xua mây xuống đậu ngoài hiên ta bà.
Bóng tùng thấp thoáng xa xa
Nghe trong thinh lặng ngân nga chuông chùa
Vàng thu chiếc lá sang mùa
Theo sầu vạn cổ cũng vừa rụng rơi.

Nghiêng nghiêng nắng lụa bên đồi
Chiều qua chầm chậm bóng thời gian phai.
À ơi, cát bụi miệt mài
Ngủ đi tâm niệm trần ai phiêu bồng !..
Như ngày thơ dại giấc nồng
Bên đời có ngọn từ phong vỗ về.

Nhân gian nay khép hẹn thề
Sớm mai thức giấc Bồ đề nở hoa,
Trần tâm sương khói nhạt nhòa
Vén màn sinh tử, bước qua ngậm ngùi.

Mùa thu dỗ giấc trên đồi
Lay ta tỉnh mộng, một lời Tâm kinh
Thiên thu trôi xuống phận mình
Ơ hay.. muôn kiếp gập ghềnh, là mơ!

Trái si mê rụng ơ hờ
Nụ cười lan tận bến bờ.. trạm nhiên.

Thích Tánh Tuệ

Bàn về tư tưởng Phật giáo trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Phật giáo cho đến nay vẫn có một sức sống mạnh mẽ ở nhiều quốc gia và dân tộc. Ở Trung Quốc, việc lưu truyền sớm và phát triển liên tục đã tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo đối với nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc, trong đó có văn học – nghệ thuật.
Do vậy, thử nhìn sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiểu thuyết võ hiệp, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, một trào lưu văn học đã tạo nên cơn sốt vào những năm 60-70 của thế kỷ trước chắc chắn sẽ cho người đọc nhiều bất ngờ.
Ai cũng biết rằng, Phật giáo không chỉ có một địa vị quan trọng trong các tôn giáo trên thế giới mà nó còn cấu thành nên một bộ phận hữu cơ của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo truyền sang Trung Quốc từ Lưỡng Hán, dung hợp với nền văn hóa Trung Nguyên dần dần đã hình thành nên một tôn giáo mang nhiều đặc sắc Trung Quốc.
Do quá trình hình thành lâu dài, tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc. Trong đó, sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến văn học cũng rất lâu dài và to lớn.
Không chỉ rất nhiều những giáo nghị, kinh điển, kinh văn,… (vốn được coi là những hình thức khác nhau của văn văn học) mà đơn giản như một câu chuyện ngụ ngôn của Phật giáo, những tác phẩm văn học mang triết lý Phật giáo (như Tây du ký hay Hồng lâu mộng) đều là những tác phẩm mang màu sắc Phật giáo rất phổ biến trong lịch sử văn học Trung Quốc. Chúng đều có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, tư tưởng cũng như cuộc sống của con người Trung Quốc.
Bên cạnh đó, văn hóa hiệp nghĩa trong các tiểu thuyết võ hiệp của Trung Quốc cũng là một lưu phái rất quan trọng. Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX đã đạt tới đỉnh cao mới. Trong đó, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã tạo nên ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong mà cả ngoài nước.
Do đó thử nhìn những ảnh hưởng của Phật giáo trong tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc nói chung và tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung nói riêng chắc chắn sẽ cho chúng ta những khám phá thú vị.
Trung Quốc và truyền thống tiểu thuyết võ hiệp
Là loại nhân vật có giá trị đặc biệt trong xã hội Trung Quốc cổ đại, hiệp khách, ngay từ thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã hoạt động rất mạnh. Tới đời Tống, một trong tứ đại kỳ thư - Thủy Hử - là tác phẩm khơi dòng cho tiểu thuyết anh hùng truyền kỳ, đồng thời cũng đã đặt nền móng cho nghệ thuật tư tưởng và quy mô sáng tác của tiểu thuyết võ hiệp thời Minh Thanh.
Thời Minh Thanh, tiểu thuyết võ hiệp thịnh hành chưa từng có, đánh dấu sự trưởng thành của một loại sáng tác cận văn học (hay còn gọi là văn học thông tục). Trong thời gian đó những Nữ nhi anh hùng truyện, Hiệp nghĩa phong nguyệt truyện, Tế Công truyện… đều được lưu truyền rộng rãi. Bản thân thể loại tiểu thuyết võ hiệp cũng xuất hiện nhiều biến hóa khác nhau.
Việc phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc được nhiều người giải thích là do nguyên nhân tâm lý:
“Người Trung Quốc rất có thiện cảm với tinh thần hiệp nghĩa của văn hóa dân gian. Đồng thời, tiếp nhận những thể nghiệm tâm lý của sự tự do tự tại của hiệp khách Trung Quốc giúp họ bù lấp về mặt tình thần nhu cầu tự do của mình.
Do tinh thần võ hiệp chính là một loại “vô thức tập thể” của người Trung Quốc nên không chỉ gợi dậy tâm lý phục cổ đối với tính quả cảm của dân tộc Trung Quốc mà còn giúp cho người tiếp nhận đạt được đến cảm giác siêu thoát của tự do. Đây chính là cơ sở tâm lý khiến cho tinh thần hiệp nghĩa luôn có ảnh hưởng sâu sắc không hề suy giảm trong tầng sâu tâm lý của người Trung Quốc”.
Tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc tuy nói là hình thành từ thời cổ đại nhưng thực chất chỉ hưng thịnh khoảng 200 năm trở lại đây. Cuối đời Thanh, xuất hiện Tam hiệp ngũ nghĩa cho đến Nhi nữ anh hùng truyện… là những đỉnh cao của tiểu thuyết võ hiệp thời cận đại. Sau thời Dân quốc, Bình giang bất tiêu sinh, Hoàn Châu lầu chủ, Vương Độ Lư,… là những tên tuổi tạo nên đỉnh cao thứ hai của tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc.
Thời đại thứ 3 là những người sáng tác vào những năm 50 của thế kỷ trước bao gồm những tên tuổi như Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long… Các tác giả này gây nên những cơn sốt thực sự trong công chúng. Ảnh hưởng của họ vượt ra khỏi phạm vi Trung Quốc sang cả Đông Nam Á, thậm chí là Âu Mỹ. Trong đó Kim Dung được coi là bậc “võ lâm minh chủ” của những tác giả võ hiệp.
Ông không chỉ là niềm mong đợi của các tác giả võ hiệp thế hệ thứ 3 mà điểm mặt toàn thể sự phát triển của tiểu thuyết võ hiệp, không thể tìm được người thứ 2 thành công như ông.

Phật giáo và tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa

Phật giáo trong văn hóa Trung Quốc không chỉ là một tôn giáo đơn thuần mà là một triết học. Trong văn hóa tinh thần Trung Quốc, nó tạo thành một bộ phận cực kỳ trọng yếu, là một viên ngọc quý trong di sản văn hóa của người Trung Hoa. Phật giáo không chỉ là tinh túy, là nguồn mạch trọng yếu được kế thừa từ đời này qua đời khác trong đời sống tinh thần của các văn nhân học giả mà còn là yếu tố quan trọng trong đời sống tinh thần của dân gian.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ, ra đời như một trào lưu chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp rất hà khắc khi đó. Nhưng sau đó, nhờ tư tưởng bình đẳng của nó, Phật giáo đã nhanh chóng tìm được sự phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Ấn Độ mà rất nhiều nước ở châu Á khác. Đời Lưỡng Hán, Phật giáo được truyền vào Trung Quốc.
Sau đó, nhanh chóng kết hợp với tư tưởng bản địa sản sinh ra Thiền Tông, Thiên Đài Tông, Hoa Nghiêm Tông, Pháp Tướng Tông, Tĩnh Thổ Tông, Luật Tông, Mật Tông, Tam Luân Tông bao gồm 8 tông phái lớn.
Chính vì Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với người Trung Quốc nên “duyên phận” của tôn giáo này với văn học là chuyện không thể nghi ngờ. Ngoài việc dùng lời trong kinh Phật, hay Phật kệ là những thể loại văn học Phật giáo thì từ xưa tới nay những tác phẩm mang màu sắc Phật giáo, thể hiện tư tưởng Phật giáo là không ít.
Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung rất phong phú, bao gồm những vấn đề của văn hóa truyền thống Trung Hoa trong đó có không ít những tư tưởng tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ, thậm chí có thể nói là tôn giáo có ảnh hưởng khá lớn đến tư duy tự sự tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung.
Tuy nhiên, không phải Kim Dung biến tiểu thuyết thành những cuốn lý luận Phật giáo mà chỉ mang được tư tưởng với bộ phận lý luận Phật giáo. Do đó chỉ có thể nói đến màu sắc Phật giáo trong tiểu thuyết của Kim Dung mà thôi.
Ảnh hưởng của Phật giáo đến tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung – những biểu hiện tổng thể
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiểu thuyết Kim Dung thể hiện ở nhiều cấp độ: Cấp độ thứ nhất thể hiện ở việc ông trích dẫn hoặc sử dụng rất nhiều khái niệm bắt nguồn từ sách kinh Phật trong tác phẩm của mình. Thứ hai là tiểu thuyết của ông thể hiện tư tưởng mang màu sắc Phật giáo.
Trong tiểu thuyết của Kim Dung xuất hiện tên rất nhiều bộ kinh Phật, chẳng hạn như Đại Khánh Nghiêm luận kinh trong Anh hùng xạ điêu, Phật thuyết mẫu lộc kinh trong Thần điêu đại hiệp, Kim cương kinh trong Ỷ thiên đồ long ký, Diệu pháp liên hoa kinh trong Tiếu ngạo giang hồ…
Ngoài ra, rất nhiều chiêu thức võ công trong tiểu thuyết của Kim Dung bắt nguồn từ kinh Phật. Chẳng hạn như: Bát trận bát quái chưởng, Đại cửu thiên thủ, Kim cương chưởng, Giáng long thập bát chưởng, Cửu âm bạch cốt trảo, Niêm hoa chỉ, Vô tướng kiếp chỉ, Tịch diệt trảo, Bát nhã kim cương chưởng, Đạt ma kiếm pháp, Đại từ đại bi thiên diệp thủ, Tiểu vô tướng công, Thiếu lâm cầm nã thập bát đả, Kim cương phục ma công,…
Từ đó có thể phân chia làm 4 loại chính: Một loại liên quan đến các khái niệm triết học của tôn giáo như huyền, nguyên, khí, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, càn khôn, ngũ hành, thất thương, vô tướng, vô vọng, từ bi, tịch diệt, bát nhã,…
Một loại khác liên quan đến kiến trúc, địa danh, tổ chức lưu phái của tôn giáo chẳng hạn như: Thiếu lâm, Võ đang, Hoa sơn, Thiên trúc,… Một loại nữa liên quan đến các nhân vật tôn giáo như Phật, Như Lai, Thích Ca, Đạt Ma. Loại cuối cùng liên quan đến tư tưởng triết học tôn giáo như Tam độc, Nghiệp chướng, Danh tướng, Nhân quả,…
Ngoài ra, tư tưởng Phật giáo tồn tại khắp trong các chi tiết của tiểu thuyết Kim Dung. Chẳng hạn như trong Thiên long bát bộ, nhân vật Hư Trúc khi uống nước vẫn đọc kinh Phật: “Phật nhìn một bát nước, 8 vạn 4 ngàn con vi trùng. Nếu không giữ lời chú này, thì không khác gì ăn thịt chúng sinh”.
Hay như trong Tuyết sơn phi hồ, Liên Hồ Phỉ đối với tình yêu của Viên Tử Y cũng dùng khái niệm của Phật giáo để kết luận: “Toàn bộ chuyện ân ái thường không tồn tại lâu dài. Trên đời có nhiều điều phải sợ sệt, mệnh nguy cũng đã sớm lộ ra rồi. Vì tình mà sinh ưu sầu, vì tình mà sinh sợ hãi. Không bằng bỏ ái tình, không lo cũng không sợ”.
Phật giáo cho rằng, cuộc đời con người sinh ra đã là nghiệp, do vậy phải chịu nhiều nỗi phiền muộn, nhưng cơ bản có thể phân chia làm 3 loại là tham, sân và si.Đó là ba thứ gốc rễ gây nên phiền muộn của con người, khiến con người không được giải thoát, nên gọi là tam độc, cũng gọi là tam cấu (ba thứ dơ bẩn) hay tam hỏa.
Tham bắt nguồn từ cách dịch ý của từ Raga trong tiếng Phạn. Chỉ tham lam, ham muốn. “Tham lam tài vật thì gọi là tham”. Bao gồm loại người tham lam quyền lực, tiền bạc, danh tiếng, địa vị, tình nghĩa, nghệ thuật,… Nói cách khác là loại người muốn hưởng lạc và chiếm hữu.
Sân bắt nguồn từ ý của từ Pratigha trong tiếng Phạn. Chỉ tâm lý thù hận hay muốn làm tổn hại người khác. Trong Đại thừa ngũ uẩn luận nói: “Thế nào gọi là sân? Đó là lấy việc làm tổn hại người khác làm vui”. Sân bao gồm những loại người mang tâm lý thù hằn, đố kỵ, báo thù hay muốn làm hại người khác.
Si cũng bắt nguồn từ chữ Phạn là Moha hoặc Mudha. Tức là sự ngu muội vô tri, không biết việc gì. Cũng gọi là vô minh (bắt nguồn từ Avidya trong tiếng Phạn), cũng có gọi là hoặc (nghi hoặc) hay ngu hoặc.
Theo cách nhìn của Phật giáo thì chính vì sự tham dục này mới sản sinh ra sản phẩm văn minh xã hội (gồm vật chất và tinh thần). Vì thế, Phật giáo cho rằng văn minh xã hội là không thuần khiết, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội ác. Do đó, việc con người theo đuổi những dục vọng chính là một sự ngu dại. Chính vì vậy, tham, sân, si mới được Phật giáo coi là “tam độc” (ba thứ gây hại).
Trong các tiểu thuyết của Kim Dung chủ yếu chú ý đến câu chuyện của loại người đầy tham dục này. Đó là loại người theo đuổi quyền lực, thanh danh của những vương vị, giáo chủ, chưởng môn, võ lâm minh chủ hay thiên hạ đệ nhất hay tham lam mỹ nữ và ái tình…
Cho nên, hầu hết các tiểu thuyết võ hiệp đều là những câu chuyện ân oán giang hồ theo dạng: “gặp họa diệt môn – gặp cao nhân truyền thụ - thành nghệ xuống núi báo thù – cơ duyên trùng hợp, gặp được bảo đao, bảo kiếm hay võ công bí kíp, gặp được mỹ nhân”…
Như thế, tam độc nhân sinh cũng chính là mô thức tự sự của tiểu thuyết võ hiệp. Trong tiểu thuyết Kim Dung, chủ yếu là biểu hiện tham, sân, si đối với tiền bạc, địa vị, thanh danh, và quyền lực.



Chẳng hạn như nhân vật Càn Long trong Thư kiếm ân cừu lục vốn không phải là kẻ đại gian đại các, bất trung bất nghĩa nhưng lại là người theo đuổi tiền bạc, thanh danh, địa vị, quyền lực. Ông ta cho rằng bản thân mình không phải là dòng dõi Mãn tộc cũng đủ thấy lòng trung của ông ta đối với cha mẹ và dân tộc mình. Nhưng khi ông ta giành được quyền lực và địa vị thì ngay lập tức thay đổi, không chỉ quay ra tàn sát hàng loạt những đồng bào của mình mà còn lập mưu tiêu diệt tận gốc đối với Trần Gia Lạc, hội trưởng Hồng hoa hội, trở thành kẻ bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa.
Hay như Thành Cát Tư Hãn trong Thần điêu đại hiệp hay Gia Luật Hồng Cơ trong Thiên Long bát bộ đối với Quách Tĩnh và Tiêu Phong đều coi là người bạn, đàn anh có tình có nghĩa nhưng đối với người dân họ lại là kẻ làm chính trị, rất vô tình vô nghĩa. Họ chiếm thành, giết dân, coi người dân như cỏ rác. Họ có thể nói đều là những kẻ nô lệ của quyền lực, thanh danh và địa vị.
Đó là với những bậc vua chúa thành công, còn đối với những kẻ bị ức hiếp bên dưới, sự tham lam đối với quyền lực địa vị lại càng là vô hạn. Kẻ thất bại biến thành giặc cỏ như Lý Tự Thành trong Bích huyết kiếm hay kẻ đi đến thành công trở thành đấng quân vương như Chu Nguyên Chương trong Ỷ thiên đồ long ký đều là loại người tham lam quyền lực.
Cho nên những kẻ này bao giờ cũng từ một lãnh tụ nghĩa quân cứu dân khỏi cơn nước lửa biến thành kẻ cướp đoạt chính quyền, tác oai tác phúc với thiên hạ, từ kẻ giúp thiên hạ thoát khỏi thống khổ biến thành kẻ tạo ra thống khổ cho thiên hạ.
Do đó có thể thấy, sự tham lam đối với quyền lực, địa vị, thanh danh chính là tính chất chung của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến. Trong việc theo đuổi quyền lực và địa vị, họ đều dùng thứ logic cường đạo của chính trị: Thiểu số phải phục tùng một cách vô điều kiện đa số, cấp dưới phục tùng vô điều kiện cấp trên từ đó mà “hợp pháp hóa” lòng tham của cá nhân mình thành công việc mang lại lợi ích cho trăm dân, để trở thành “cứu tinh” của nhân dân đang lầm than.
Trong giới giang hồ, nhân vật Đoàn Diên Khánh trong Thiên Long bát bộ cả đời theo đuổi vương vị, hay Đinh Xuân Thu (Thiên Long bát bộ) cho đến Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Nhậm Ngã Hành (Tiếu ngạo giang hồ) đều theo đuổi ngôi vị võ lâm minh chủ, thiên hạ đệ nhất.
Lòng tham dục này theo lý thuyết Phật giáo có mối liên thông chặt chẽ với tinh thần con người. Lòng người đầy tham dục thì thế giới tinh thần bao giờ cũng đại gian đại ác. Vì thế mà Đoàn Diên Khánh trở thành một trong tứ đại ác nhân, hiệu xưng là “Ác quán mãn doanh” (Tội ác khắp nơi), Đinh Xuân Thu trở thành “Tinh túc lão quái”, mối họa của giang hồ…
Ngoài ra, những người lãnh tụ nghĩa quân phản Thanh, phục Minh như Trần Gia Lạc hội chủ của Hồng hoa hội trong Thư kiếm ân cừu lục hay Trần Cận Nam hội chủ Thiên địa hội, từ giác độ nhân bản và phát triển của Phật giáo mà nói, thì không khác gì nhiều so với cuộc đấu tranh phục quốc của cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục trong Thiên Long bát bộ, đều bắt nguồn từ sự tham lam đối với thanh danh.
Bởi vì, thực tế, quốc gia dân tộc không ngừng có những biến động và phát triển. Vì thế việc theo đuổi một hình thái quốc gia, dân tộc đã là quá khứ là việc làm hoàn toàn vô vọng. Đó thực tế chỉ là cái cớ để họ theo đuổi lòng tham thanh danh và quyền lực của mình mà thôi.
Trở lên là những kẻ tham, sân, si đối với quyền lực, thanh danh. Phật giáo còn khuyên con người không tham, sân, si ngay cả trong tình yêu nam nữ. Vì vậy mới có những trường hợp như: Nam Lan trong Tuyết sơn phi hồ, dưới trăng trước hoa nghe những lời dụ dỗ ngọt ngào đã vứt bỏ đứa trẻ còn quấn tã; Mã Xuân Hoa trong Phi hồ ngoại truyện cũng vì như vậy mà làm mất tính mạng của bản thân và vị huynh đệ thiện lương của mình; Lý Mạc Sầu trong Thần điêu đại hiệp bởi vì thất tình mà thành ma, tàn sát người vô tội; Khang Mẫn trong Thiên Long bát bộ cũng vì không tình yêu của mình đối với Tiêu Phong không được đền đáp cũng gây nên tai họa lớn trong giới võ lâm… Tất cả những trường hợp này đều là không thoát khỏi sự ngu muội, vô minh của tình yêu nam nữ mà nhận lấy kết cục rất bi thảm.
Như vậy có thể thấy, Phật giáo từ khi truyền vào Trung Quốc đã ăn sâu trong tâm thức và trở thành một bộ phận cơ hữu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân của quốc gia này.
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tiểu thuyết võ hiệp, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, trên nhiều cấp độ có thể cho thấy một biểu hiện quan trọng của những ảnh hưởng to lớn của Phật giáo đến đời sống văn hóa của người Trung Quốc trong xã hội hiện đại.
Sự ảnh hưởng của những quan niệm Phật giáo đối với tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung là điều không còn phải bàn cãi. Điều quan trọng vẫn là, tư tưởng đó đã thâm nhập vào kết cấu, chủ đề thậm chí từng chi tiết của mỗi tác phẩm, tạo nên những bài học nhân sinh sâu sắc.
Đó chính là lý do tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, trong một thời gian dài đã trở thành “cơn sốt” trong sinh hoạt tinh thần của người Trung Hoa.
Hiệp khách hành – dùng võ công thể hiện quan niệm Phật giáo
Năm 1977, trong một bài viết của mình Kim Dung từng nói: “Gần đây, đọc nhiều kinh Phật, vì thế có ý muốn bác bỏ những luận giải sai lầm (của các học giả). Tôi nghiệm ra rằng “vô trước”(không viết), “vô vãng” (không hướng đến), “vô tác”(không làm), “vô nguyện”(không có ý định gì), như thế thì nhìn xấu cũng không thể mà nhìn tốt cũng không. Kinh Kim Cương từng có câu rằng: “Phàm hữu sở tướng, giai thị hư vọng” (phàm đã có tướng, đều là hư vô cả) cũng là có ý như vậy”.
Dựa vào sự ý đồ sáng tác ở trên, Kim Dung sáng tạo nên Hiệp khách hành. Tác phẩm này xoay quanh một bộ tuyệt học võ lâm được khắc trên vách các động của đảo Hiệp khách. Sau khi những tuyệt học này được Long, Mộc phát hiện, đã rất say mê dịch chúng. Nhưng càng giải thích, chú giải thì sự rắc rối càng nhiều, càng khó lý giải. Đó chính là “càng nghĩ thì càng hồ đồ, càng giải thích càng mù quáng”.
Hai người đã tìm một người thông minh để giúp họ giải mã nhưng cũng không được. Họ cũng đã nghĩ đến việc nhận đệ tử, mong có một người đủ tài trí để giúp họ hóa giải cũng vô vọng. Cuối cùng họ nghĩ ra cách thỉnh giáo hai cao nhân của võ lâm đã ẩn cư hơn 10 năm là Diệu Đế đại sư của Thiếu Lâm Tự và Ngu Trà đạo trưởng của núi Võ Đang nhưng rốt cục vẫn uổng phí tâm sức. Hai người chỉ còn cách mời các chưởng môn cứ 10 năm đến đảo 1 lần để thảo luận, tìm cách lý giải bài thơ trên vách đá.
Năm này qua năm khác, người đến càng nhiều, nhưng không có ai có thể lĩnh hội được bộ tuyệt học đó. Cuối cùng, duy chỉ có một người vô danh, vô tính, vô tri, vô thức, vô dục, vô cầu, anh ta đến đảo không nhằm mục đích phá giải những võ lâm tuyệt học đó lại phá giải được. “Cẩu tạp chủng” giải mã được Thần công hiệp khách hành chính là nhờ sự “vô tướng” (“vô nhân tướng”, “vô ngã tướng”, “vô chúng sinh tướng”), “vô tham” của anh ta.
Trong Phật học, “tướng” dùng để chỉ hình trạng và bản chất của hiện tượng, cũng dùng để chỉ khái niệm và biểu tượng trong nhận thức, tức “danh tướng”. “Vô tướng” là sự đối lập với “hữu tướng”, chỉ sự siêu thoát khỏi thế tục mới đạt đến độ nhận thức được chân như thực tướng. Ngoài câu Kim Dung đã nói, Kinh Kim Cương còn viết: “Ly nhất thiết chư tướng, tắc danh chư Phật” (dời bỏ được tất cả tướng thì có thể gọi là Phật).
Ma Kha Bát Nhã Mật Kinh – Thán Tịnh Phẩm cũng viết: “Chư pháp tính phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại bất khả thủ tướng, bất khả duyên, bất khả kiến, bất khả giác, bất khả tri, bất khả hồi hướng… bất khả dĩ tâm chi cố” (Bản tính của chư pháp là không có quá khứ, không có tương lai, không có hiện tại, không thể nắm bắt hình trạng, không có nguyên nhân, không thể thấy, không thể cảm giác, không thể nhận biết, không thể quay lại… cũng không thể dùng tâm mà làm ra được). Do đó, “vô tướng” cũng chính là “pháp tính”, là “niết bàn”. Quyển thứ 30 của Niết bàn Kinh cũng nói: “Niết bàn danh vô tướng” (Niết bàn tên gọi là vô tướng).
Trong quan niệm của Thiền Tông Trung Quốc cũng coi vô tướng chính là một nội dung quan trọng. Kinh Đàn cũng từng nói: “Ngoại ly nhất thiết tướng, danh vi vô tướng, năng ly vu tướng khước pháp bản thanh tịnh” (Bên ngoài dời bỏ tất cả tướng, gọi là vô tướng; có thể dời ở tướng, tức là pháp thể đã thành tịnh rồi).
Ngược lại, trong Phật học, phàm những gì có thể nắm bắt, tri nhận được đều gọi là “hữu tướng”. Trong Đại nhật kinh sơ viết: “Khả kiến khả hiện chi pháp, khước vi hữu tướng. Phàm hữu tướng giả, giai thị hư vong” (Pháp mà có thể nhìn, có thể hiện ra thì gọi là hữu tướng. Phàm những thứ hữu tướng, đều là hư vô cả).
Như thế, những hiệp khách trên đảo đều lý giải sai đối với Thần công hiệp khách hành rõ ràng đều là cách làm chỉ nhìn thấy hữu tướng. Họ hoặc cố chấp câu nệ trong cách đọc đối với Hiệp khách hành, hoặc do quá chú ý đến những bẫy ngôn từ của lời chú mà dẫn đến vọng tưởng đối với bộ thần công này. Vì thế, một kẻ như Cẩu tạp chủng, không hề biết chữ, vô tri, vô thức xem không hiểu những chú giải, cũng không hiểu gì bài thơ gốc vì thế mà không gặp phải sự đánh lừa của người sáng tạo ra bộ thần công này, cuối cùng đã nắm bắt được ý nghĩa bản nguyên của bộ thần công này.
Đồng thời việc lĩnh hội thần công của Cẩu tạp chủng còn là vì sự vô tham của anh ta. Anh ta đến Hiệp khách đảo hoàn toàn không có mục đích gì, ngay cả việc đọc Hiệp khách hành cũng cũng là hành vi không tự giác, không mục đích. Do đó, sự “vô tham” cũng là lý do khiến Cẩu tạp chủng lĩnh hội thành công bộ Thần công hiệp khách hành mà suốt mấy trăm năm bao cao thủ vẫn không lý giải được.
Lấy việc lý giải thần công Hiệp khách hành làm sợi dây xuyên suốt cho cốt truyện, trên ý nghĩa tổng thể là một cách thể hiện quan niệm Phật giáo “vô tướng”, “vô tham” của Kim Dung.

Thiên long bát bộ - một bộ ngụ ngôn Phật giáo


Thiên long bát bộ là bộ tiểu thuyết mang được cả ý nghĩa triết học và tôn giáo. Mở đầu tiểu thuyết, phần giải thích tên tác phẩm có viết:
“Thiên long bát bộ là một danh từ bắt nguồn trong kinh Phật. Kinh Phật thường kể rằng rằng khi đức Phật thuyết pháp trước các bồ tát và hòa thượng thường có thiên long bát bộ đến nghe. Như Pháp hoa Kinh viết: “Thiên long bát bộ, nhân dữ phi nhân” (Thiên long bát bộ, bao gồm người và không phải người). Phi nhân tức là hình dạng giống người mà thực tế không phải là chúng sinh. “Thiên long bát bộ” đều là phi nhân, bao gồm 8 loại thần đạo quái vật. Vì lấy Thiên và Long làm chủ, nên mới gọi là thiên long bát bộ”
Theo đó, tám loại thần đạo tinh quái trong Thiên long bát bộ được phân thành Thiên chúng và Long chúng. Ngoài ra còn có Dạ xoa (một loại ác quỷ có thể ăn quỷ cũng có thể làm tổn thương người), Càn Đạt Bà, A Tu La (các loại hung thần), Gia Lâu La, Tử Na La (chỉ thần ca hát), Ma La Già (chỉ thần rắn). Các loại này đều có một đặc tính chung là thần thông. Tuy là chúng sinh nằm ngoài nhân gian nhưng cũng phải chịu sự mọi sự đau khổ sung sướng của trần thế.
Trong tiểu thuyết này, Kim Dung hoàn toàn không nói chuyện thần đạo tinh quái, tác giả chỉ mượn danh từ của Phật kinh để tượng trưng cho các nhân vật trong tác phẩm của mình. Giống như trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am có những nhân vật như Mẫu Dạ Xoa Tôn Nhị Nương hay Ma Vân Kim Xí Âu Bằng…
Ở đây cần chú ý là quan niệm về hình tượng Long (rồng) trong kinh Phật cũng liên quan đến quan niệm về rồng tổ trong văn học Trung Quốc. Trong các văn hiến cổ đại Trung Quốc, là một trong 4 loại thú linh thiêng (tứ linh). Đây là một loại sinh vật tưởng tượng, bắt nguồn từ sự sùng bái tô tem một loại bò sát mà hình thành nên. Trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc cũng có không ít những thủy thần, hà bá, tương quân, tương phu,… đều lấy rồng làm hình tượng. Trong chú giải Thiên Vấn của Sở Từ của Vương Miễn cũng có cách lý giải về việc Hà Bá hóa thành bạch long. Nhưng đã hóa thành rồng tức là đã không còn nhân cách nữa. Mà Long trong Thiên long bát bộ của Kinh Phật lại là một loại thần linh có nhân cách. Đó chính là điểm khác biệt cần phải chú ý.
Trong bộ tiểu thuyết này, bát bộ của Thiên long bát bộ chính là để chỉ 8 những nhân vật nào. Điều đáng lo là vấn đề mỗi người một cách lý giải khác nhau, theo kiểu “nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí”. Một học giả chuyên nghiên cứu về tiểu thuyết Kim Dung từng đưa ra kiến giải rằng, ông dựa vào đặc trưng của 8 loại thần đạo tinh quái để chỉ ra 8 nhân vật tương ứng là: Đoàn Diên Khánh, Đoàn Chính Thuần, Tu La Đao Tần Hồng Miên, Vương Phu Nhân, Cốc chủ Vạn Kiếp Cốc Chung Vạn Thù, vợ chồng Cam Bảo Bảo, Vô ác bất tác (Không phải việc ác không làm) Diệp Nhị Nương, Nguyễn Tinh Trúc và Khang Mẫn.
Thiên long bát bộ lấy chuyện tình cảm oan nghiệt, phục thù, và tranh quyền đoạt lợi làm ba sợi dây chính để xây dựng cốt truyện. Điều này rất dễ chứng minh. Như nhân vật Đoàn Chính Thuần chỗ nào cũng có chuyện tình cảm, yêu đương khiến cho tình nhân của ông ta suốt ngày ganh ghét, truy sát lẫn nhau, ngay đến bản thân cũng không có phút nào yên ổn, còn khiến cho con cái của họ yêu nhau, gây nên không ít chuyện tình oan nghiệt. Lý Thu Thủy, A Tử đều bị đắm chìm trong mê cung của những mối tình oan nghiệt mà không cách nào thoát ra được.
Sự xung đột giữa Tiêu Phong với võ lâm Trung Nguyên cũng chính là từ sự phục thù mà tạo ra. Đoàn Diên Khánh, Diệp Nhị Nương trở thành ác nhân bị tất cả mọi người căm ghét cũng vì phụ thù. Ngay đến Du Thản Chi cũng bị biến thành một kẻ điên loạn cũng là món quà từ dục vọng của việc phục thù. Đây chính là sợi dây thứ hai xuyên suốt cốt truyện của Thiên long bát bộ.
Chuyện đấu tranh để tranh giành quyền lực lại càng rõ nét. Chính những cuộc âm mưu tranh quyền đoạt lợi mới là nguyên nhân gây nên những cơn bạo loạn, những bi kịch trong giới giang hồ. Chính vì mưu đồ bá vương của cha con Cô Tô Mộ Dung mới gây nên tấn thảm kịch của cha con Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong. Người đứng đầu trong tứ đại ác nhân, được mọi người gọi là “tội ác khắp nơi” Đoàn Diên Khanh ban đầu cũng là Đoàn Diên Thái tử của tiên triều Đại Lý. Ông ta trở thành đại ác nhân cũng là vì không rời bỏ được chuyện tranh quyền đoạt lợi.
Đây chính là ba sợi dây xuyên suốt trong cốt truyện của Thiên long bát bộ. Chúng kết thành một mạng lưới nhân vật của tiểu thuyết cũng là hình ảnh tượng trưng của cuộc sống con người. Thông qua đó, tác giả Kim Dung muốn đưa ra suy ngẫm của mình về hai chữ vận mệnh: Không tại trời, không tại đất mà tại chính bản thân con người. Mỗi người vừa là kẻ phải chịu đựng số mệnh vừa là kẻ tạo nên số mệnh của bản thân mình.
Diệp Nhị Nương trở thành kẻ ác là vì con của bà ta bị đánh cắp. Du Thản Chi cũng là vì cha và bá phụ bị Tiêu Phong giết chết, một lòng muốn trả thù. Mà ngay đến Tiêu Phong cũng không cách nào thoát khỏi số mệnh mà người khác đã đẩy anh ta vào. Các nhân vật trong tiểu thuyết cứ như vậy mà liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Trong Thiên long bát bộ, sự đồng tình và thể nghiệm đối với những cảnh ngộ nhân sinh đã thay thế cho những lời giáo huấn đạo đức cứng nhắc. Câu chuyện hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã dần nhường chỗ cho một câu chuyện của cuộc đời. Đó chính là lý do vì sao nhiều người thích đọc tiểu thuyết Kim Dung.
Trong tiểu thuyết của mình, Kim Dung tạo ra một cục diện khi mà không ai thoát khỏi “tam độc nhân sinh”, không ai không mang sự oán hận, thù hằn. Vì thế phải làm thế nào để hóa giải những âm thanh của sự chém giết, những ánh gươm đao của sự oán thù? Chỉ có sự đại từ đại bi của Phật môn mới có thể phá giải mà thôi. Nhân sinh không ai là không đau khổ, cố chấp đối với ân oán, quyền lực mà không biết rằng được thua chỉ khiến cho con người mãi mãi cảm thấy ân hận, hối tiếc. Chi bằng: “Chúng sinh vô ngã, khổ lạc tùy duyên” (Chúng sinh đạt đến chỗ vô ngã thì sướng khổ có thể mặc duyên số), “đắc thất tùy duyên, tâm vô tăng giảm” (Được mất đều để mặc duyên số, tâm mình không hề lay động).
Chính vì lẽ đó, ở cuối tác phẩm, mối thâm thù gây bao tai họa giữa Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn chỉ một câu nói của vị sư vô danh mà được hóa giải mà hoàn toàn không chút mảy may nào miễn cưỡng. Vị tăng vô danh này, chính là hiện thân của trí tuệ Phật học: Tri thức phong phú mà không kiêu ngạo, nhìn rõ cuộc sống nhân sinh cũng không tỏ ra mình là kẻ bề trên, chỉ điểm chi người khác thoát khỏi mê lầm cũng không tỏ ra mình cao thâm, thoát khỏi bụi trần nhưng không thoát ly cuộc sống. Có thể coi đây là cảnh giới cao nhất của nhân sinh mà tiểu thuyết Kim Dung theo đuổi.
Nói tới Thiên long bát bộ không không nói đế ba nhân vật chính của tác phẩm: Đoàn Dự, Tiêu Phong và Hư Trúc. Ở ba nhân vật này, chính là nơi Kim Dung gửi gắm những triết lý mang màu sắc Phật giáo của mình.
Ba nhân vật này, một sinh ở Đại Lý, một là bang chủ cái bang, một nữa là hòa Thượng Thiếu Lâm. Xem qua thì thấy chẳng có gì liên quan đến nhau cả nhưng cuối cùng họ lại kết bái huynh đệ, trở thành câu chuyện truyền kỳ trong võ lâm giang hồ. Thêm nữa, Đoàn Dự vốn là nho sinh, nhưng trên thực tế là Phật tử. Hư Trúc vốn tu hành tại ngôi chùa Thiếu Lâm tự của Phật giáo nhưng cuối cùng lại trở thành trưởng môn nhân của phái Tiêu Dao của Đạo gia. Tiêu Phong không phải Phật cũng không phải Đạo, anh ta vốn là bang chủ Cái bang, nhưng cuối cùng đã thực hiện lý tưởng của một đệ tử Nho gia “đạt tắc kiêm tế thiên hạ” (đạt thì thực hiện việc lo lắng cho thiên hạ) và “Lo trước nỗi lo của thiên hạ”. Vì thế, câu chuyện của họ chính là câu chuyện ngụ ngôn về “Nho Phật Đạo - tam giáo hợp nhất”.
Ba người này, một tên là Đoàn Dự - chữ Dự nghĩa là danh, là xưng. Một là Hư Trúc – chữ Hư nghĩa là giả, là không. Môt nữa là Kiều Phong – chữ Kiều, nghĩa là phân, là hư. Từ tên của ba nhân vật này, có thể thấy câu chuyện của họ, hình tượng của họ kỳ thực đều là ngụ ý “danh tướng không phải là chân tướng”. Giống như câu nói của Mộ Dung Bác ngộ ra được khi quyết định xuất gia: “Thứ dân như cát bụi, đế vương cũng như cát bụi. Đại Yến không khôi phục cũng là không mà khôi phục được cũng là không mà thôi”.
Có thể khẳng định Đoàn Dự là một đệ tử Phật môn chân chính, sự trải nghiệm của anh ta cũng là một loại khải thị đối với Phật tử. Nhân vật này khiến chúng ta liên tưởng đến Phật tổ Thích Ca, nghĩ tới thân phận trước khi xuất gia của Phật tổ: hoàng tử Tất Đạt Đa. Do sự chi phối của một tâm hồn cao quý, ông không chấp nhận cuộc sống sung sướng của một vương tử cho bản thân àm quyết định dời bỏ hoàng cung, sống một cuộc sống của người thông thường nhằm tìm cách hóa giải những đau khổ của cuộc sống con người. Để tìm con đường giải thoát cho con người, ông đã phải khổ tu khổ hành, khổ tầm, khổ mịch, khổ tư, khổ tưởng, rốt cục mới sáng tạo ra Phật học bất hủ.
Sự trải nghiệm của Đoàn Dự trong tiểu thuyết cũng phần nào là một thao tác mô phỏng cuộc sống của Phật tổ. Cho dù là “vô ý” nhưng ngay từ đầu nhân vật này đã bỏ cuộc sống xa hoa của một vương tử, đi vào dân gian để tìm chân tướng của nhân sinh thế tục. Anh ta nhận ra rằng, trong thế giới giang hồ, người ta không dùng vương pháp là tiêu chuẩn, càng không phải là dùng Diệu Đế trong Phật lý để sống, không có ai thực sự hiểu vô lượng là gì. Đoàn Dự thuyết pháp rất thông: “Kinh Phật có dạy rằng: Vô lượng có bốn điều: Một là Từ, hai là Bi, ba là Hỷ, bốn là Xả. Đó chính là tứ vô lượng. Các vị đương nhiên hiểu rằng: Tâm vui vẻ chính là từ, tâm đau khổ là bi, giúp chúng sinh thoát khổ vui vẻ chính là hỷ, giúp tất cả chúng sinh từ bỏ oán niệm mà bình đẳng gọi là xả. Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật vậy”.
Điều lý thú là, Đoàn Dự tuy đọc thông kinh Phật, thông hiểu giáo lý nhà Phật nhưng anh ta đối với bản thân mình lại không có khả năng tự lý giải. Tình yêu của anh ta đối với Vương Ngữ Yên cứ như sợi xích vô hình trói buộc anh ta, khiến anh ta không chỉ thân không do mình mà đến tâm cũng không do mình. Phật học chân chính, phải chăng không đơn giản là làu thông kinh Phật?
Ý tưởng xây dựng Tiêu Phong trở thành một anh hùng cái thể, đương nhiên bắt nguồn từ tư tưởng bình đẳng của Phật giáo. Trong cách nhìn của Phật gia, người và vật đều gọi là chúng sinh, đều bình đẳng. Vì thế một người sinh ở nước Liêu, lớn lên ở Trung Nguyên như Tiêu Phong mới trở thành một vị anh hùng cái thế ở mảnh đất hoàn toàn xa lạ với anh ta.
Việc vô tình làm tử thương A Châu có thể nói là việc đau lòng nhất trong cuộc đời của Tiêu Phong cũng là cao trào trong bi kịch cuộc đời của nhân vật này. Nhưng vận mệnh bi kịch này cũng chính là sự tất yếu từ tính cách của anh ta. Đi tìm vị Đại ca dẫn đầu đã gây ra cái chết của cha mẹ mình, rồi “đại ác nhân” đã giết cha mẹ nuôi cho đến sư phụ của anh ta để trả mối thâm thù, Tiêu Phong đã bị cừu hận, ân oán khống chế, tựa hồ đã đánh mất toàn bộ lý trí thông thường. Đó chính là lý do anh ta liên tiếp mắc phải những sai lầm không thể tha thứ trong cả cuộc đời mình.
Nhân vật Hư Trúc lại là một câu chuyện khác: muốn làm hòa thượng cũng không được, phúc lành không cầu mà lại được. Câu chuyện của Hư Trúc rất tiểu biểu cho cách nói: “Không cầu mà được” trong thuyết nhân duyên của Phật giáo. Anh ta không biết chơi cờ, không hề có mục đích tham gia giải thế cờ của chưởng môn Tiêu Dao phái nhưng anh ta lại là người giải được thế cờ, trở thành trưởng môn nhân của phái Tiêu Dao. Anh ta cũng không có ý định tham dự việc tuyển chọn phò mã Tây Hạ nhưng cuối cùng, nhân duyên đưa đẩy, công chúa Tây Hạ lại chính là người tình trong mộng của anh ta.
Ngoài ba nhân vật chính ở trên, còn rất nhiều nhân vật trong Thiên long bát bộ cũng mang tính biểu tượng như vậy. Nhân vật Khưu Ma Trí là một ví dụ. Nhân vật này cả đời theo đuổi võ công, tranh quyền đoạt lợi, đến cuối cùng đã phải thừa nhận: “Lão nạp thân tại Phật môn, nhưng lại luôn tranh cường háo thắng. Thân tự coi là cao tăng nhưng kiêu căng tự mãn, không biết xấu hổ ăn năn”, “Như Lai Phật tổ dạy các đệ tử, đầu tiên là phải bỏ tham, bỏ ái, bỏ sự tranh giành, bỏ mọi vướng víu mới có hy vọng giải thoát...”.
Có thể thấy rõ rằng, đối với Thiên long bát bộ, quan niệm Phật giáo không chỉ thấm đẫm trong chủ đề, trong nhân vật mà còn trong từng chi tiết của tác phẩm. Nếu nói rằng, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung mang màu sắc Phật giáo đậm nét thì nét đậm nhất chính là ở bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ này.

Hy Văn dịch

(Nguồn: Vietimes)

Một cuộc sống mới

Ngay chung quanh ta, bệnh ung thư cứ rình rập đâu đó, và thỉnh thoảng ta vẫn nghe tin người thân này vừa mới chớm bệnh ung thư, người thân kia sớm lìa trần sau mấy tháng bệnh viện trả về gia đình.
Ngày nay, nền y khoa thế giới đã có những tiến bộ diệu kỳ trong việc phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh, khiến tuổi thọ con người gia tăng đáng kể. Tuy thế, con người vẫn chưa thắng được bệnh ung thư, và căn bệnh quái ác này hầu như ngày càng phổ biến ở mọi nơi trên thế giới.
Nhưng chiều hướng tích cực là con người ngày càng có ý thức hơn trong phòng ngừa bệnh ung thư, cũng như đã có những phương pháp mới đương đầu với sự lây lan của tế bào ung thư, nhằm kéo dài sự sống. Kéo dài bao lâu thì tùy điều kiện từng người và tiến bộ y khoa ở từng nơi. Mới đây, một nhà khoa học đã chung sống với bệnh ung thư suốt gần 20 năm, bằng phương pháp riêng của mình, kết hợp với y khoa hiện đại, và đã ngộ ra một cuộc sống mới, hạnh phúc và đem lại lợi lạc cho đời.
Đó là tiến sĩ y khoa David Servan-Schreiber, người Pháp, một nhà khoa học về não bộ nổi tiếng. Ông là giáo sư về tâm thần học tại đại học y khoa Pittsburg (Mỹ), và giáo sư thỉnh giảng tại đại học Lyon(Pháp). Ông là người đồng sáng lập và sau đó là giám đốc Trung tâm y khoa tổng hợp tại đại học Pittsburg. Ông đã phục vụ tình nguyện tại Iraq năm 1991, là một trong những người sáng lập chi nhánh tại Mỹ của tổ chức Thầy thuốc không biên giới, một tổ chức quốc tế được giải Nobel năm 1999. Sau đó, ông đã làm việc tại Guatemala, Kurdistan, Tajikistan, Ấn Độ và Kosovo. Năm 2002, ông được tặng thưởng về những đóng góp nổi bật về tâm thần học của Hiệp hội tâm thần Pennsylvania (Mỹ).
Đang hăng say nghiên cứu và giảng dạy về ngành chuyên môn của mình, nhất là kỹ thuật soi MBI về não bộ do ông và người bạn Doug, một nhà vật lý học, phát minh, thì một dịp tình cờ, ông phát hiện mình bị ung thư não vào tuổi 30.


Kết nối với người khác, sống đời hoạt động, quan tâm sâu sắc thời khắc hiện tại, không ngừng học tập, sống vị tha.
"Tôi vẫn còn nhớ rõ buổi chiều tháng 10 tại Pittsburg đó, tôi phóng xe mô tô trên đại lộ dọc theo hai hàng cây, lá mùa thu đã trở màu đỏ ối, tôi đang trên đường đi đến trung tâm MRI. Jonathan và Doug đang đợi tôi ở đó để làm thí nghiệm với các sinh viên tình nguyện. Họ sẽ nhận được một số thù lao nhỏ sau khi nằm vào máy soi và thực hành một số động tác do chúng tôi soạn trước. Sinh viên thứ nhất bắt đầu lúc 8 giờ. Sinh viên thứ hai đáng lẽ phải đến vào lúc 10 giờ nhưng không thấy đến. Jonathan và Doug bảo tôi thay thế. Lẽ dĩ nhiên tôi nhận lời. Tôi nằm vào máy soi. (...) Sau 10 phút nằm trong máy soi để cho hai bạn chụp hình, tôi chờ đợi bắt đầu thể hiện các động tác chiếu trên màn hình, nhưng tôi không thấy gì cả. Doug và Jonathan đang ở trong phòng phía trong và chúng tôi phải liên lạc với nhau qua bộ đàm. Tôi nghe trên ống loa: "David, có vấn đề. Phải chụp hình lại." Không sao, tôi sẽ đợi. Chúng tôi bắt đầu lại. Mười phút trôi qua. Tôi nghe tiếng Jonathan: "Có vấn đề. Chúng tôi sắp vào đây." Khi tôi ra khỏi máy soi, tôi thấy sắc mặt của hai bạn tôi có vẻ hơi lạ. Jonathan để tay lên vai tôi và nói: "Chúng ta không thể tiếp tục thí nghiệm được. Có một cái gì trên não của anh." Tôi bảo tôi muốn xem các hình họ mới chụp. (...) Bên tay phải của vùng tiền não của tôi có một cục bướu to bằng quả trứng gà nhỏ. Ở vị trí này cục bướu đó không phải là một cục bướu vô hại, chỉ cần mổ ra là xong chuyện. Cục bướu này là dấu hiệu của một chứng bệnh rất nguy hiểm..."
Hào quang khoa học vừa đến thì bất hạnh ung thư cũng ập tới. Người bác sĩ tài ba choáng váng. "Làm sao đời tôi lại chấm dứt như thế này nhỉ? Thật khó mà tưởng tượng được. Có một cái vực rất sâu giữa những gì tôi mới khám phá và những gì tôi đã cố gắng xây đắp từ bao lâu nay." David dự cảm là mình chỉ sống khoảng 6 tháng hoặc quá lắm là một năm. Ông trở về nhà, vắt tay lên trán và chiêm nghiệm cuộc đời qua làn khói thuốc. Nhưng cuối cùng, ông ngộ ra một điều bình thường: "Đây là một phần của kinh nghiệm làm người thôi. Rất nhiều người khác đã bị như tôi và tôi đâu có gì đặc biệt. Kiếp làm người là đơn giản như vậy. Trí óc tôi dần dần tìm ra lối thoát cho mình. Đêm đó tôi ngủ được và ngày hôm sau tôi có thể đi làm việc lại và bắt đầu đối diện với cơn bệnh và cuộc đời của tôi."
Thật lạ lùng! Tưởng là tai họa, không dè căn bệnh ung thư lại hé mở cho ông một cuộc đời khác, mà trước đây, ông không hề biết vì mải mê với vinh quang khoa học, đến nổi vợ chồng ông sớm ly dị. "Một vài tuần sau khi biết mình mang bệnh, tôi có cảm tưởng kỳ lạ hình như có một tấm màn mới được vén ra mà lâu nay đã che mắt tôi lại. Một chiều chủ nhật, trong căn phòng nhỏ của chúng tôi, tôi ngồi ngắm Anna[1]. Chăm chú và bình yên, nàng ngồi trên sàn nhà, cạnh bàn nước, đang cố dịch những bài thơ từ tiếng Pháp ra tiếng Anh. Lần đầu tiên tôi nhìn nàng và không còn muốn tự hỏi tôi có nên yêu người khác không. Tôi chỉ thấy vài sợi tóc duyên dáng rủ xuống mặt nàng khi nàng cúi xuống trên trang sách, tôi chỉ thấy những ngón tay mềm mại của nàng đang cầm bút hý hoáy viết. (...) Sự hiện diện của nàng làm tôi vô cùng cảm động. Tôi thấy chỉ cần được phép chứng kiến giây phút đó đã là một đặc ân lớn lao đối với tôi lắm rồi. Tại sao tôi không nhìn thấy nàng như vậy trước đây?"
Ông tiếp tục sống như trước, ăn kiêng cử đường và thịt đỏ, tập thể dục. Bệnh ung thư trở lại vài năm sau đó, ông đã chịu đựng một đợt giải phẩu thứ hai, và hóa trị, xạ trị. Rồi thì ông quyết định dùng năng lực y khoa và khoa học của mình để khám phá và kiểm tra làm thế nào tự cơ thể mình ngăn ngừa ung thư tốt hơn. Ông bộc bạch: "Là một bác sĩ và nhà khoa học, tôi chẳng bảo vệ mình khỏi bị ung thư. Nhưng tôi có thể khảo cứu sâu xa trong tài liệu y khoa và khoa học để tìm ra cách thức sống lâu hơn là một vài năm mà tôi chắc sống được."
"Điều đầu tiên tôi học được là ai ai cũng đều có tế bào ung thư trong người, dù ít dù nhiều. Nhưng ai cũng có những sự bảo vệ tự nhiên để ngăn ngừa những tế bào đó khỏi trở thành bệnh tấn công mình. Những bảo vệ đó bao gồm hệ miễn dịch, những chức năng cơ thể kiểm soát viêm nhiểm, và thực phẩm làm giảm sự gia tăng mạch máu gây nên khối u." "Tôi khám phá một danh sách những thực phẩm chống ung thư, rất dài. Một vài thực phẩm ngăn chận tiến trình tự nhiên trong cơ thể, ví dụ như viêm nhiểm làm mồi cho ung thư phát triển. Một số thực phẩm khác làm chết tế bào ung thư thông qua một quá trình mà các chuyên gia gọi là apostosis. Một số khác làm giải độc cơ thể hay che chở chống lại chiều hướng xấu từ gốc. Nhưng phần lớn thực phẩm đều tấn công bệnh trên nhiều chiến tuyến khác nhau. Chúng tấn công ngày lại ngày, ba lần trong ngày, mà không gây ra biến chứng nào. Để tránh bệnh, điều cốt yếu là nắm lấy lợi thế tự nhiên đó, và nuôi dưỡng nó." "Lối sống của chúng ta là một dạng phân bón cho ung thư. Quá nhiều thịt đỏ, quá nhiều đường, ít rau cải và trái cây: tất cả cần phải được xét lại trong thói quen ăn uống của chúng ta nếu muốn tăng cường sức đề kháng tự nhiên để chống lại ung thư" - David Servan-Schreiber nhấn mạnh.
Trong website cũng như trong sách của mình, David Servan-Schreiber đã liệt kê tỉ mỉ và đầy đủ chế độ ăn uống và dùng thực phẩm ngăn ngừa bệnh ung thư. Cũng đã có nhiều trang web tiếng Việt trích dịch các tài liệu đó, xin tóm tắt một đoạn trong bài: "Phòng chống ung thư theo phương cách tự nhiên" của Trọng Thanh trong website tintuccaonien.com:
"Nên ăn các các thức ăn chống ung thư như rau xanh, đặc biệt là bắp cải, súp lơ, súp lơ xanh, cà rốt, bí đỏ, cà chua, hành, tỏi, nghệ, các loại quả như táo, nho, lê, quả lựu,... nên ăn cá với số lượng vừa phải. Đặc biệt ưu tiên các sản phẩm sạch. Về đồ ngọt, nên dùng đường trái cây, mía, hoặc đường chưa tinh chế, hoặc mật ong, với số lượng vừa phải. Uống nước chè xanh, nước sạch, nếu ở khu vực nước bị nhiễm bẩn thì nên có máy lọc nước. Những thực phẩm cần tránh hoặc hạn chế là : thịt, đặc biệt là thịt có màu đỏ, đường, đồ béo quá, đồ nướng, đồ rán cháy, đồ chế biến sẵn, thịt chế biến sẵn và các sản phẩm từ sữa như pho mát (tuy nhiên có thể ăn sữa chua). Không uống rượu, hút thuốc lá hoặc tránh môi trường có nhiều khói thuốc lá."
Nhưng cuộc chiến của ông chống ung thư không chỉ là chuyện ăn uống, mà là phương pháp điều trị y khoa tổng hợp, bao gồm trị liệu của bệnh viện và các bác sĩ chuyên khoa, cải thiện dinh dưỡng và ổn định tinh thần. Cuộc đời và sự đóng góp của ông càng phong phú hơn, không chỉ trong lãnh vực y khoa, mà còn trong lãnh vực viết văn, nhằm bày tỏ cách sống mới của mình và chia sẻ với mọi người về kinh nghiệm và kiến thức chống ung thư, đem lại ổn định tinh thần cho người bệnh. Quà tặng cho đời là website do ông lập ra: Anticancer - A new way of life (Chống ung thư - Một cách sống mới), và cuốn sách cùng tên với website, được xem là loại best-seller (bán chạy). Ông cũng đã cho xuất bản sách bằng tiếng Pháp: "On peut se dire aurevoir plusieur fois" (Ta có thể nói giả từ nhiều lần). Ông cũng đã phát biểu những vấn đề về ung thư tại nhiều hội nghị khoa học về ung thư trên thế giới.
Thật bất ngờ và cảm động khi ông bày tỏ niềm hạnh phúc dâng tràn, với thời gian gần 20 năm sống cùng căn bệnh: "Thật lạ lùng, ngày nay tôi mạnh khỏe hơn, hạnh phúc hơn trước khi tôi bị bệnh. Tôi cảm thấy bình yên hơn, sáng sủa hơn, giàu nghị lực hơn, và thiết tha với cuộc sống. (...) Những khảo sát gần đây gợi ý rằng những tập quán hàng ngày có lợi cho sức khỏe có thể đảm bảo tiến triển về thể chất sau hai hay bốn tháng... Những gì tôi học được từ chặng đường riêng của tôi, đó là hãy nuôi dưỡng đời sống với những mức độ mà mình có được, qua những bữa ăn, qua đi bộ trong thiên nhiên, qua mục đích tốt lành của công việc, qua dòng yêu thương trong quan hệ, và qua sự che chở của môi trường của chúng ta. Khoa học bảo tôi rằng những điều đó làm chậm tiến trình của bệnh ung thư, và có thể quan trọng hơn, chúng mang lại cho cuộc sống hàng ngày tia sáng mới và ý nghĩa mới."
Nhưng rồi cuộc chiến đấu 20 năm chống ung thư đó cũng phải kết thúc: ông từ trần vào ngày 24/7/2011, hưởng thọ 50 tuổi. Ông đã để lại cho đời những kiến thức và kinh nghiệm chống ung thư quý báu, bên cạnh những đóng góp lớn cho khoa tâm thần học trên thế giới. Cuộc đời mới của ông đầy ý nghĩa nhân văn sau khi phát giác bệnh ung thư đã làm mọi người tin yêu cuộc sống, và làm dịu nổi đau của bệnh nhân ung thư.
Những lời tâm huyết sau đây của ông muốn nhắn nhủ thiết tha đến mọi người, nhằm tạo hạnh phúc cho mình và an lạc cho xã hội đó là: Kết nối với người khác, sống đời hoạt động, quan tâm sâu sắc thời khắc hiện tại, không ngừng học tập, sống vị tha.

[1]")life Bác sĩ David gặp Anna, một phụ nữ Nga trẻ, lần đầu tiên tại căng-tin của bệnh viện. Khi đó, Anna đang đọc thơ Baudelaire (nhà thơ Pháp thế kỷ 19), một chuyện rất hiếm thấy tại Mỹ (theo "A new way of

CAO HUY HÓA

Từ chuyện một người "ăn trộm" nổi tiếng

Hình như nhiều người trong chúng ta chỉ nhớ cái cách làm giàu mà quên đi sau khi ăn trộm của trời đất để trở nên giàu có. 

Nước Tề có một người họ Quốc rất giàu có. Nước Tống có một người họ Hướng rất nghèo. Người họ Hướng lặn lội sang nước Tề hỏi người họ Quốc về cách làm giàu.
Người họ Quốc bảo "Ta chỉ khéo ăn trộm thôi. Ban đầu ta ăn trộm một năm thì đủ dùng, hai năm thì có dư, ba năm thì giàu có. Từ đó ta đem của cải một phần đi cứu giúp người nghèo và trả lại một phần cho những nơi mà ta ăn trộm".
Người họ Hướng nghe xong thì rất vui mừng. Nhưng khốn nỗi, anh ta chỉ nghe được câu chuyện ăn trộm mà không hiểu cách ăn trộm ra sao.
Lúc trở về nước, người họ Hướng bèn nghĩ cách ban đêm trèo tường vào nhà người ta lấy trộm...
Anh ta ăn trộm không lâu thì bị bắt quả tang, bao nhiêu của cải lấy trộm được bị tịch thu sạch.
Sau khi ra tù, anh chàng họ Hướng bèn đi tìm người ăn trộm họ Quốc để trách mắng.
Người họ Quốc hỏi "Anh ăn trộm như thế nào?".
Người họ Hướng bèn kể lại cách ăn trộm của mình.
Người họ Quốc nói "Cách ăn trộm của anh sai lầm đến thế ư? Nay tôi bảo cho anh biết: Trời có bốn mùa. Đất có sản vật. Thứ mà tôi ăn trộm là bốn mùa của trời, sản vật của đất.
Tôi đi cấy lúa trồng cây, xây tường làm nhà. Trên cạn thì tôi nuôi chim thú dưới nước thì tôi dăng lưới bắt tôm cá, rùa, ba ba...
Nào hoa màu, cây cối, đất cát, chim muông, tôm cá, ba ba... là của trời sinh ra cả, nào có phải của ta đâu.
Mình dù có săn bắt nuôi trồng rồi cũng phải trả lại cái gì cho đất đai, trời biển chứ?

Còn như vàng bạc, của cải trong nhà người ta là của riêng người ta. Anh ăn trộm những thứ của riêng người khác mang phải tội là đúng, còn trách ai chứ?!
Tuy nhiên, trời đất vạn vật không tách rời nhau, nếu tham lam cái gì cũng muốn có cho riêng mình là hoàn toàn sai lầm . Cách ăn trộm theo đạo trời, nên không bị tai họa. Cách ăn trộm nghịch đạo tư tâm cho nên mới bị tai ương! (Liệt Tử)
Câu chuyện của người ăn trộm nổi tiếng họ Quốc có từ 2500 năm trong luận thuyết của Lão Tử .
Ngày nay, phải chăng chúng ta cũng đã học cách ăn trộm của người họ Quốc là nuôi trồng cấy hái, khai thác mọi thứ trên đất đai, nhưng hình như nhiều người trong chúng ta chỉ nhớ cái cách làm giàu mà quên đi sau khi ăn trộm của trời đất để trở nên giàu có, rồi không làm cái việc mà anh chàng họ Quốc đã làm là trả lại một phần cho những nơi mà ta lấy trộm, và chia một phần cho người nghèo.
Hãy xem những nơi khai thác rừng, khai thác biển, khai thác vàng, cát đen khai thác quặng, khai thác nhiều thứ nữa, khai thác đến cạn kiệt tài nguyên... sau đó mà ta không đầu tư để trồng lại cây, cấy lại cỏ, không đầu tư để bảo vệ môi trường, bảo vệ cho trời đất được trong lành...
Như vậy có khác chi cách lấy trộm của anh chàng họ Hướng đâu?!
Như vậy thì làm sao chúng ta có được chất lượng cuộc sống hàng ngày tốt đẹp được?!
Như vậy là không thuận theo lẽ trời, và tất nhiên sẽ gặp tai họa vậy!

Tác giả: XUÂN NAM
Theo: tuanvietnam.vietnamnet.vn

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Chuẩn bị gì cho giây phút cận tử


1) Kính Thầy. Con xin được thành tâm đảnh lễ Thầy.

Thưa Thầy, bố con đang bị bệnh nặng và đang chuẩn bị gần kề bên bờ sinh tử. Là một người học Phật, nhưng con đang băn khoăn và không biết có nên mời ban hộ niệm đến để giúp cho bố con vào giờ phút lâm chung sắp đến hay không. Bởi bố con từ trước đến nay sống theo kiểu vô thần, không tôn giáo. Con sợ việc mời ban hộ niệm đến có khi lại phản tác dụng. Con chỉ biết khuyên bảo bố giữ lấy cái tâm bình tĩnh, không sợ hãi, không luyến tiếc bất cứ điều gì. Con đang rất mong chờ lời chỉ dạy của Thầy.


Trả lời:

Con nên hỏi ý kiến bố con trước, nếu ông không chịu thì thôi, nhưng cho dù ông đồng ý thì cũng chỉ nên mở máy ghi âm để ông nghe tụng kinh nhẹ nhàng, trầm ấm cho tinh thần lắng dịu bớt lo lắng sợ hãi hơn là mời một nhóm hộ niệm ồn ào làm cho ông có cảm tưởng như cầu cho chết vậy thì thần kinh ông căng sẽ thẳng thêm. 
Người hấp hối cần sự yên tĩnh, cần sự an ủi, động viên của người thân, cần nhắc những điều tốt đẹp nhất mà người ấy đã từng làm trong đời để người ấy tự tin và hoan hỷ là tốt nhất.


2) Con xin đảnh lễ thầy!Con tạ ơn thầy đã luôn tận tình giải tỏa thắc mắc ở những thư trước của con. Thầy ơi! Hiện tại ba con bị bệnh xơ gan cổ trướng, khó có thể qua khỏi. Giờ ba đã yếu lắm rồi. Con biết một ngày rất gần đây thôi, ba sẽ ra đi. Con đọc sách thấy người ta nói ý niệm cuối cùng rất quan trọng đối với việc tái sanh của người mất. Xin thầy cho con biết: "Con phải làm sao để giúp ba con giữ được thần thức tỉnh táo khi sắp mất ạ?" Con xin tri ân thầy!

Trả lời: 

Cận tử nghiệp thuộc về kết quả của nghiệp quá khứ nên chỉ chấp nhận thôi, chủ yếu là tâm người hấp hối có thái độ bình tĩnh sáng suốt đối với cận tử nghiệp ấy hay không mới quyết định hướng tái sinh của người ấy. Vậy nguyên tắc là thân nhân làm cách nào đó để giúp người hấp hối bình tĩnh sáng suốt là tốt nhất.
Bình thường người ấy thích điều thiện gì nhất thì nên nhắc điều đó để người ấy hoan hỷ và tự tin mới bình tĩnh sáng suốt được. Ví dụ một người Phật tử thích làm phước hay nghe tụng kinh thì lúc đó nên làm phước và tụng kinh để người ấy hoan hỷ, nhưng phải là loại kinh người ấy thích nghe mới được. Nếu người ấy bình sinh không thích hộ niệm mà hộ niệm chỉ làm người hấp hối bất bình mà thôi. Điều này chỉ người thân mới biết được nên làm gì thích hợp nhất cho người đang hấp hối.

http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq

CÁC TIẾN TRÌNH TÂM CẬN TỬ

Tác giả: Ledi Sayadaw
Dịch giả: Pháp Thông



Con người luôn luôn bận rộn với những ý nghĩ tốt và xấu cũng như với những dự định làm điều thiện và ác thế này thế kia. Trong khi mãi còn bận toan tính như vậy, thì tử thần tới vỗ vai và thế là họ phải bỏ lại đằng sau mọi của cải, sở hữu, và những người thân yêu để ra đi khỏi cõi đời này vĩnh viễn. Bởi thế chúng ta phải hiểu rõ tầm quan trọng của thời gian liền trước cái chết (thời cận tử) và làm thế nào để đương đầu với cái chết sắp đến một cách bình tĩnh và lợi ích nhất.

Bốn Nguyên Nhân Của Sự Chết

Cái chết xảy ra do bốn nguyên nhân, là (1) thọ mạng đã mãn, (2) nghiệp lực chấm dứt, (3) sự kết hợp của hai nguyên nhân trên, và (4) cái chết phi thời do một nghiệp lực (là đoạn nghiệp - upacchedakakamma) - làm gián đoạn. Một tỷ dụ thích hợp cho bốn nguyên nhân của sự chết này là sự tắt của một ngọn đèn dầu. Ngọn đèn có thể tắt do bốn nguyên nhân là (1) dầu cạn, (2) tim lụn, (3) sự kết hợp của cả hai: dầu cạn và tim lụn, và (4) nguyên nhân bên ngoài như một cơn gió thình lình thổi tắt hay người nào đó cố ý thổi tắt.

1 . Thọ mạng đã mãn

Mỗi cõi sống có một thọ mạng khác nhau. Trong cõi nhân loại này thọ mạng thay đổi tuỳ theo kiếp tăng hay kiếp giảm (kappa). Nếu thế gian ở trong thời kỳ kiếp đang tăng dần, thọ mạng con người cũng tăng theo cho đến vô lượng, trong khi ở chu kỳ thế gian đang giảm, thọ mạng của con người cũng giảm dần xuống tới mức chỉ còn mười năm (tuổi). Khi Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian này tuổi thọ tối đa được nói là một trăm tuổi. Ngày nay mức đó chỉ vào khoảng bảy mươi lăm. Những người với nghiệp bình thường không thể vượt quá mức tối đa này; chỉ những người sinh ra với năng lực của thiện nghiệp đặc biệt mới có thể sống vượt qua mức bảy mươi lăm. Tuổi thọ của họ có thể quy cho thiện nghiệp quá khứ và các loại thuốc bổ như thuốc trường sinh bất lão - rasāyana, chẳng hạn.
Trong thời kỳ Đức Phật Gotama (Cồđàm), Tôn Giả Maha Cadiếp (Mahākassapa), Tôn Giả Anan (Anandā) và Bà Visakha, thí chủ của ngôi Chùa Đông Phương Tự, đã sống đến 120 tuổi; Tôn Giả Bakula sống đến 160 tuổi. Các vị này đã tạo những thiện nghiệp cực kỳ cao thượng trong những kiếp quá khứ. Người bình thường, không có những thiện nghiệp đặc biệt như vậy, sẽ không sống hơn thọ mạng 75 tuổi của họ. Cái chết ở độ tuổi này được gọi là “thọ mạng bình thường đã mãn”, cũng như dầu hết làm tắt ngọn đèn mặc dù tim (bấc đèn) vẫn còn vậy.

2 . Chết do nghiệp lực chấm dứt

Nghiệp lực đưa đến đời sống của một người sẽ hỗ trợ cho cuộc sống từ giai đoạn thụ thaitrở đi cho đến ngày năng lực (nghiệp ấy) chấm dứt. Cũng có những nghiệp thuộc loại khác tăng cường thêm cho nghiệp hỗ trợ sự sống chính và khi những nghiệp lực này cạn kiệt, người ta sẽ chết mặc dù thọ mạng của họ vẫn chưa mãn. Vì thế nếu nghiệp lực chấm dứt ở tuổi 50, người đó sẽ chết ở tuổi đó mặc dù thọ mạng của họ là 75. Điều này cũng tương tự như ngọn đèn tắt do tim lụn cho dù dầu trong đèn vẫn còn.

3 . Cái chết do cả hai yếu tố trên

Một số chúng sinh chết do thọ mạng và nghiệp lực cạn kiệt, cũng giống như ngọn đèn tắt do cả dầu lẫn tim đều cạn đồng thời. Do đó, có những người sống đến 75 tuổi nếu như họ có sự hỗ trợ của nghiệp lực cho đến tuổi đó. Ba loại chết kể trên gọi là chết đúng thời (kāla-maṇa).

4 . Chết phi thời


Upacchedaka có nghĩa là chết phi thời hay cái chết không bình thường. Một số chúng sinh đúng ra vẫn tiếp tục sống vì thọ mạng và nghiệp lực của họ cho phép được sống như vậy. Song nếu những ác nghiệp họ đã làm trong quá khứ bất ngờ trổ quả, thời những ác báo của nghiệp khiến cho họ phải chết một cái chết phi thời. Cái chết này cũng tựa như sự tắt của ngọn đèn do một ngọn gió thổi qua dù tim và dầu vẫn còn, hoặc do một người nào đó cố tình thổi tắt. Một cái chết như vậy thường được gọi là chết do đoạn nghiệp - upacchedaka-kamma, tức là sự gián đoạn do quả của ác nghiệp cực mạnh xen vào.
Tôn Giả Mục Kiền Liên (Mahā Moggallāna), trong một tiền kiếp đã phạm tội giết mẹ. Ác nghiệp này của Ngài đã có cơ hội trổ quả trong kiếp chót làm Mahā Moggallāna; bởi thế ngài phải chịu sự tấn công của năm trăm tên cướp trước khi đúng thời ngài nhập vô dư Niết-bàn (parinibbāna). Vua Tầnbàsala (Bimbisara), một trong những kiếp trước đã đi giày vào trong chánh điện. Do nghiệp xấu này, ngài phải chết đau đớn do những vết thương chính con ngài rạch trên lòng bàn chân trong kiếp hiện tại. Hoàng hậu Samagoati (Sāmāvatī) và các tỳ nữ của bà, trong một kiếp quá khứ đã châm lửa vào một đống cỏ khô, vô tình trong đó có một vị Phật Độc Giác đang nhập định (Diệt thọ tưởng định) (samapatti). Khi cỏ cháy hết, họ mới khám phá ra rằng mình đã thiêu sống một vị Phật Độc Giác. Để che đậy hành vi tội lỗi ấy (vì họ nghĩ lầm rằng họ đã đốt cháy đức Phật Độc Giác, mà thực ra ngài không thể bị lửa cháy hoặc bị tổn hại gì lúc đang nhập định), họ đã chất thêm củi vào vị Phật Độc giác và châm lửa đốt rồi bỏ đi, nghĩ rằng “Bây giờ thì ngài sẽ cháy ra tro.” Sau khi xuất thiền vào cuối ngày thứ bảy, Đức Phật Độc Giác đứng dậy và ra đi, không bị tổn hại gì cả. Ác nghiệp đó đã tìm được cơ hội để cho quả và vì thế họ phải chết một cái chết phi thời do bị thiêu sống cho đến chết. Đây là những trường hợp trong đó một nghiệp bất thiện mạnh mẽ đã gây ra cái chết phi thời.
Một số cực ác nghiệp có thể tạo ra quả báo tức thời. Ác ma Dūsī (Māra) ném đá vào đầu vị thánh đệ tử của đức Phật Kassapa. Dạ xoa Nanda đánh một búa vào cái đầu mới cạo của Tôn Giả Xá lợi -Phất. Đức Bồ tát Khantivādī khi làm đạo sĩ đã bị giết theo lệnh của đức vua Kalābu. Tất cả những người này - Dūsī, Nanda, và vua Kalābu - do cực ác nghiệp họ làm, đã bị đất nuốt chửng (đất rút) trong kiếp hiện tại của họ. Như vậy, chính những hành vi tàn ác sẽ tạo ra những ác quả tức thời. Cũng tương tự, những người xúc phạm hay xỉ nhục các bậc cha mẹ, người lớn tuổi và giới đức, chắc chắn phải gánh chịu những ác quả của bất thiện nghiệp họ đã làm và chết những cái chết phi thời gọi là akālamaraṇa (phi thời tử) trước khi thọ mạng của họ chấm dứt.

Những Trường Hợp Chết Phi Thời


Dòng tương tục danh - sắc, hay tâm và thân, của mỗi chúng sinh được đi kèm bởi những nghiệp lực xấu của quá khứ. Những nghiệp lực xấu này tự nó không thể cho quả đủ nghiêm trọng để giết chết người đó. Nhưng khi người làm điều sai trái ấy không có sự hiểu biết về cách tự phòng hộ bản thân, không lưu tâm đến sức khoẻ và sự sống hàng ngày của mình, những nghiệp lực ấy sẽ tìm được cơ hội đem đến sự nguy hại hay cái chết cho họ. Nếu trong quá khứ, một người đã từng bỏ đói, hành hạ, đánh đập, thiêu cháy, nhận chìm hoặc tra tấn người khác, thời do những ác nghiệp ấy họ sẽ gặp phải số phận tương tự. Những ai đã từng hành hạ người khác trong quá khứ phải gánh chịu những chứng bệnh mãn tính như hen suyễn, phong cùi, v.v… và phải sống cho đến hết thọ mạng bất hạnh và khốn khổ của mình, sau đó mới chết do những chứng bệnh ấy. Dễ duôi trong những thói quen của cuộc sống sẽ mời gọi những ác nghiệp quá khứ đến cho quả. Các bậc hiền trí ngày xưa đã để lại nhiều câu châm ngôn đáng ghi nhớ: “Cuộc sống được bảo đảm nhờ biết nhìn xa thấy trước và có trí tuệ. Tai hoạ xảy ra chỉ do một phút thiếu suy nghĩ; lắm khi chỉ vì một miếng ăn tồi tàn mà làm hại cả đời người. Kẻ ngu đi vào hang hùm chắc chắn là phải chuốc lấy hoạ, không phải nhờ vào vận may mà có thể tránh được. Chớ tin nghiệp tốt của mình mà nhảy vào lửa, nghiệp ấy sẽ không cứu bạn khỏi bị cháy đâu!”
Những gì mà các bậc hiền trí ngày xưa muốn nói ở đây là: “Mỗi người ai cũng có một kho chứa những nghiệp lực bất thiện trong quá khứ; nếu những nghiệp ác này không quá mạnh, chúng không thể có được cơ hội để tự trở thành quả. Chúng chỉ có cơ hội cho quả khi người ta dễ duôi (sống cẩu thả), không chú tâm chánh niệm và bất cẩn trong lối sống của họ. Do đó, nếu một người sống cẩu thả và xem thường sức khoẻ của mình, không biết lo xa và dự phòng trước để chăm sóc bản thân mình, thì ngay cả những ác nghiệp nhỏ cũng sẽ có cơ hội để cho quả và cái chết cũng sẽ rất gần đối với một người như vậy (ngay cả trước khi thọ mạng và nghiệp lực của họ chấm dứt)” Đây là lời khuyên của các bậc hiền trí cho các thế hệ sau.
Tóm lại, trong số bốn loại chết kể trên, loại sau cùng (chết phi thời) ngày nay rất phổ biến vì hầu hết mọi người đều sống một cách liều lĩnh, khinh suất. Cẩu thả trong lối sống là nguyên nhân chính của những cái chết phi thời. Những ai muốn sống cho đến hết thọ mạng của mình cần phải giữ gìn cuộc sống với chánh niệm và trí tuệ.

Tầm Quan Trọng Của Phút Giây Cuối Cùng

Khi một người sắp chết do bất kỳ nhân nào trong bốn nhân đã nói, điều quan trọng là họ phải có được những tốc hành tâm thiện (javana-cittas) khoảng nửa giờ trước khi chết. Nếu những thiện tư duy này thắng thế cho đến hơi thở cuối cùng, người ấy chắc chắn sẽ tái sinh trong những cõi an vui. Nếu họ có những tốc hành tâm bất thiện trước lúc chết, chắc chắn họ sẽ phải tái sinh vào bốn ác đạo. Do đó, vòng cuối cùng đối với con ngựa đua quan trọng thế nào, thì những sát-na cuối cùng đối với một người muốn có một tái sinh tốt cũng quan trọng như vậy. Một người có được những tư duy tốt hay xấu trước lúc lâm chung tuỳ thuộc vào loại đối tượng hiện khởi đến tâm họ.

Ba Loại Đối Tượng


Ngay trước lúc chết, người ta sẽ thấy một trong ba đối tượng, đó là, kamma (nghiệp),kamma nimitta (nghiệp tướng) và gati-nimitta (thú tướng). Ở đây nghiệp có nghĩa là những việc làm tốt hoặc xấu (nói khác hơn, những tư hay chủ ý - cetanā - thiện hoặc ác) họ đã làm trong quá khứ. Nghiệp tướng - Kamma nimitta là những vật dụng hay công cụ họ đã dùng trong việc thực hiện những việc làm thiện hay ác ấy. Thú tướng - gati nimitta là viễn ảnh về cảnh giới hay nơi họ sẽ tái sinh vào đó.

Nghiệp Xuất Hiện Như Đối Tượng Như Thế Nào


Khi các nghiệp quá khứ hay hành động mà người ta đã thực hiện chỉ một vài giây trước, hoặc chỉ nửa giờ hay một giờ trước, hoặc có khi những nghiệp đã thực hiện nhiều kiếp trước, hoặc nhiều đại kiếp trước, có cơ hội cho quả tái sinh trong kiếp sống kế, chúng sẽ xuất hiện ngay đến tâm của người sắp chết. Liên quan đến sự xuất hiện của nghiệp, cần nói rõ ở đây là, nếu nghiệp ấy là nghiệp bố thí hoặc giữ giới, nó sẽ xuất hiện bằng cách nhớ lại hoặc bằng cách tự hiện khởi ngay lúc đó giống như trong một giấc mơ vậy. Vì thế có hai cách xuất hiện của thiện nghiệp. Còn đối với các nghiệp bất thiện, nếu nghiệp ấy là sát sinh, thì sự xuất hiện của nghiệp là được nhớ lại hay do nó tự hiện khởi như thể việc sát sinh ấy đang được làm ngay lúc đó. Như vậy cũng có hai cách xuất hiện của bất thiện nghiệp. Đối với các nghiệp thiện và bất thiện khác sự xuất hiện cũng cần được hiểu theo cách như vậy.

Nghiệp Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào

Ai từng sát sinh sẽ thấy những vũ khí họ đã sử dụng: gươm, dao, lưới (cá), mũi tên, gậy gộc, v.v… như cảnh cận tử. Một người đồ tể được bảo là sẽ thấy những hình ảnh có tính cách tiên tri của một đống xương bò. Ai từng làm những việc vô đạo đức như trộm cắp, tà dâm v.v…, sẽ thấy những cảnh tượng tương xứng với ác nghiệp của họ.
Ai từng làm những việc thiện như xây Chùa, tạo Tháp sẽ thấy những cảnh Chùa Chiền, Bảo tháp ngay trước lúc chết. Hoặc họ có thể thấy những vật mà họ đã bố thí, cúng dường kết hợp với thiện sự xây Chùa tạo Tháp của họ, như Y, Bát, hương hoa, đèn nến v.v… Đối với những người đã từng giữ giới hoặc hành thiền sẽ thấy những hình ảnh như xâu chuỗi, áo quần sạch sẽ, thiền đường, những cánh rừng nơi hành giả thường tới hành thiền v.v… Những ai từng làm việc phục vụ, cung kính khác cũng sẽ thấy những hình ảnh tương xứng.

Thú Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào


Vào thời cận tử, những dấu hiệu như điềm báo trước sẽ xuất hiện để cho biết đời sống kế tiếp của một người. Nếu một người sẽ tái sinh Thiên giới, những Thiên nữ, Thiên cung, và Thiên viên v.v… sẽ xuất hiện trước mắt (tâm) người ấy. Nếu một người sẽ tái sinh trong cõi nhân loại, màu đỏ của thành vách thai bào của người mẹ tương lai sẽ xuất hiện với họ. Nếu địa ngục là số phận của họ, thời họ sẽ thấy những con chó đen (hắc khuyển), lửa địa ngục, hay những người cai quản địa ngục. Người sắp trở thành ngạ quỷ (petas) sẽ thấy những khu rừng lớn, núi non, sông nước, bờ biển nơi họ sẽ cư trú.

Sự Biểu Lộ Trên Gương Mặt

Sự biểu lộ trên gương mặt của người sắp chết sẽ chỉ ra cho thấy lần sanh kế của họ. Nếu gương mặt họ trong sáng và hân hoan, chắc chắn họ sẽ tái sinh trong những cảnh giới cao (như Chư Thiên v.v…). Một gương mặt u ám, buồn rầu hay nghiêm khắc cho thấy sự tái sinh của họ sẽ là các cảnh giới thấp. Tuy nhiên, cũng có trường hợp họ sẽ mỉm cười trong trạng thái mê mẩn đối với các dục lạc quá khứ. Những nụ cười ấy không thể xem như dấu hiệu tốt.

Sự Biểu Hiện Qua Lời Thì Thào


Đôi khi người sắp chết thì thào hay nói khe khẽ những lời gì đó không rõ rệt một cách vô ý thức. Xưa có một ông già, Cha của Trưởng lão Sona, bậc Alahán, từng là thợ săn lúc còn trai trẻ, về già ông xuất gia làm Tỳ Khưu trong Chùa của chính con ông. Khi sắp chết, trong cảnh cận tử, ông thấy những con chó đen cứ rượt đuổi theo ông. Ông kêu lên liên tục “Này con ơi! Hãy đuổi lũ chó đi cho cha.”
Ngài Sona biết rằng cha mình đang thấy những điềm xấu và chắc chắn sẽ sinh vào địa ngục. Nhờ các vị sư trong chùa tìm kiếm những bông hoa tức thời đem ra rải chúng trên nền Tháp (thờ Xá Lợi), ngài khiêng cha cùng với giường đến bên Tháp và nói với ông, “Này Sư Phụ, hãy hoan hỷ lên. Con đã cúng dường hoa nhân danh Sư Phụ đó.” Người cha hồi tỉnh và trong lúc đang cúng dường hoa với sự chú tâm vào Đức Phật thì bất tỉnh trở lại. Trong cảnh cận tử bây giờ ông thấy các Thiên nữ (nàng tiên trên trời) và vì thế ông thì thào, “Này con, hãy mời họ ngồi; các kế mẫu của con đang đến kìa.” Lúc đó người con nghĩ, “Bây giờ những dấu hiệu của cảnh giới Chư Thiên đã xuất hiện.” Vị sư già chết và được sinh lên Thiên giới.

Các Loại Thú Tướng (Gati-nimitta) Khác


Có một số người lúc sắp chết chợt thấy những cảnh thực về lần tái sinh kế của họ. Vào thời Đức Phật Gotama (tức Đức Phật Thích Ca của chúng ta), Revati vợ của một người đàn ông giàu có tên Nandiya, là người đàn bà rất kiêu căng tự phụ. Bà không có đức tin nơi đức Phật và thường hay phỉ báng các vị Tỳ Khưu; ngược lại chồng bà là một thiện nam rất mộ đạo. Sau khi chết ông trở thành một vị Chư Thiên. Khi Revati sắp chết, hai giám ngục từ địa ngục tới lôi bà lên thiên giới và chỉ cho bà thấy cuộc sống huy hoàng mà Nandiya (chồng bà) đang hưởng thụ. Rồi chúng lại kéo bà xuống địa ngục để trừng phạt bà về thái độ độc ác trên nhân thế.
Cũng trong thời Đức Phật, một thiện nam đáng kính tên Dhammika (Thăm-mí-ká) quy y nơi Tam bảo. Ông hướng dẫn một nhóm thiện tín sống cuộc đời đạo đức. Khi giờ chết đến gần, ông lắng nghe bài kinh các vị Tỳ Khưu tụng bên giường bệnh của ông, và thấy sáu cỗ Thiên xa (xe từ cõi trời xuống) đang chờ ở trên đầu để đưa ông về Thiên giới (devaloka). Ông cũng thấy và nghe các vị Chư Thiên tranh nhau xem ai sẽ là người đưa ông lên Thiên Xa của họ. Chẳng bao lâu ông chết và được Thiên Xa của cõi Trời Tusita (Đẩu Suất) chở lên Thiên giới, nơi đây ông trở thành một vị Chư Thiên (deva).
Đối với những người bị đất nuốt chửng (đất nứt) do những ác nghiệp nghiêm trọng (ngũ nghịch đại tội), họ sẽ cảm thọ trực tiếp cái nóng của lửa địa ngục Atỳ (Avicī) ngay trong hiện tại. Như vậy, bây giờ chúng ta đã thấy thú tướng (gati-nimitta) xuất hiện theo những cách khác nhau. Trong thời đại của chúng ta cũng vậy, có số người lúc lâm chung nghe được tiếng nhạc (trời) và ngửi được mùi hương thơm ngào ngạt, có khi những người đứng kế bên cũng nghe và ngửi thấy nữa. Những gati-nimitta này cùng với nghiệp (kamma) và nghiệp tướng (kamma nimitta) thường xuất hiện như những ảo ảnh do sức mạnh của nghiệp quá khứ tìm được cơ hội cho quả.

Giúp Cho Cảnh Tốt Xuất Hiện


Khi một người bị bệnh đang dần dần chết một cái chết tự nhiên, các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến của họ có thể giúp cho những đối tượng tốt xuất hiện trong thị lực của người sắp lâm chung ấy. Khi biết chắc rằng người bệnh không thể hồi phục được, họ sẽ dọn dẹp phòng và khu vực quanh đó cho thật sạch sẽ và cúng dường hương hoa lên Đức Phật (bàn thờ Phật). Ban đêm, toàn bộ căn phòng phải được thắp sáng. Họ sẽ khuyên người sắp chết hình dung đến cảnh hương hoa, đèn nến đã được cúng dường đến Đức Phật nhân danh họ và yêu cầu người ấy hoan hỷ với thiện sự này. Họ cũng sẽ đọc những bài kinh Paritta (kinh Bảo-hộ) lúc mà tâm người bệnh vẫn có thể nghĩ đến những đối tượng thiêng liêng. Người thân không nên cảm thấy thất vọng và người săn sóc họ cũng không nên để lộ vẻ u sầu. Việc đọc kinh và cúng dường hương hoa không chỉ làm vào giây phút cuối cùng trước khi người ấy chết, mà phải được thực hiện trước đó nhiều ngày. Chỉ như vậy người sắp chết mới được thấm nhuần trong những ý nghĩ về thiện nghiệp cúng dường Đức Phật và giáo pháp, ngửi được mùi hương ngào ngạt của những bông hoa, nghe được những âm thanh của pháp bảo, hay những lời dạy của Đức Phật trong vài ngày.
Như vậy, khi giây phút lìa đời đến gần, vào lúc người bệnh đang nhìn thấy ánh sáng và hoa quả cúng dường trước đức Phật, ngửi mùi hương trầm ngào ngạt, nghe những lời pháp bảo, thì tử tâm sẽ phát sinh trước khi những đối tượng này biến mất. Vì lẽ đó những tư duy thiện của giây phút cuối cùng này thuộc về thiện nghiệp, người chết chắc chắn sẽ tái sinh vào những cảnh giới tốt. Bởi thế các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến phải có trách nhiệm giúp cho những đối tượng thiện xuất hiện đến tâm người sắp chết trong lúc họ vẫn còn khả năng hướng tâm mình vào những đối tượng này. Hãy nhớ việc Trưởng lão Sona đã giúp cho những dấu hiệu xấu của cha mình biến mất và làm cho những tướng tốt xuất hiện đến tâm ông như thế nào, để giúp cho người sắp chết có được những lợi ích đúng như vậy.

Tâm Tái Sinh Xuất Hiện Như Thế Nào


Liền sau tử tâm (thuộc kiếp trước) chấm dứt, tâm tái sinh khởi lên trong kiếp sống mới. Hai tâm này liên quan lẫn nhau. Giữa tử tâm và tâm tái sinh không có khoảng cách (gián đoạn) nào cả. Một người vừa lìa đời ở cõi nhân loại ngay lập tức sẽ tái sinh trong một cảnh giới nào đó, có thể là địa ngục hay thiên giới. Ngay sau khi chết, tâm tái sinh xuất hiện và đưa đến sự hình thành của một chúng sinh mới, một kiếp sống mới.

Hai Tà Kiến

Chúng ta phải rất thận trọng, bởi nếu không chúng ta sẽ quan niệm về sự chết và tái sinh trong ánh sáng của hai tà kiến là thường kiến (sassata-diṭṭhi) và đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi). Tin rằng có một linh hồn cư trú trong thể xác, và chính linh hồn này chuyển di sang một thân mới để trở thành một chúng sinh khác là thường kiến (sassata: cho rằng linh hồn là vĩnh hằng + diṭṭhi: tà kiến). Tin rằng mọi danh (nāma) và sắc (rūpa) của kiếp trước (kể cả những gì họ nghĩ là linh hồn) không hề có sự tiếp tục trong kiếp sống mới, khi một người chết mọi chuyện trong kiếp trước kể như chấm dứt (đi đến sự huỷ diệt hoàn toàn), và có lẽ một chúng sinh mới có thể do thượng đế tạo ra, là đoạn kiến (uccheda: cuối cùng của một đời người tất cả danh và sắc trong kiếp đó hoàn toàn huỷ diệt; không có sự liên tục nào cả +diṭṭhi: tà kiến)

Chánh Kiến


Đối với người phải tái sinh trong một kiếp sống mới, ba yếu tố - vô minh (avijjā), tham ái (taṅhā), và nghiệp (kamma) được xem là quan trọng nhất. Khi cái chết tới gần, vô minh che đậy những khuyết điểm của các uẩn danh và sắc trong kiếp sống kế. Tham ái lúc này khao khát đối với kiếp sống ấy. Mặc dù những dấu hiệu (tướng trạng) xấu xa và đáng sợ của kiếp sống kế xuất hiện, tham ái nghĩ rằng nó sẽ được một cuộc sống không có những điều xấu xa, đáng sợ ấy. Như vậy, do không thấy khuyết điểm (của các uẩn) vì vô minh đã che đậy nó, tham ái có khuynh hướng hướng đến và chấp thủ cuộc sống mới. Trong kiếp sống mới đó, do sức mạnh của nghiệp, danh và sắc vốn gọi là tái sinh sẽ được thiết lập đầu tiên.
Như vậy, vì danh và sắc, vào sát na tục sinh trong một kiếp sống mới, phát sinh như kết quả của vô minh, tham ái và nghiệp trong kiếp sống trước, đoạn kiến cho rằng “những người mới sinh (do sự sáng tạo của Thượng đế, v.v…) không có sự liên quan nào với kiếp sống trước”, là không đúng; và thường kiến cho rằng “linh hồn từ kiếp trước đầu thai vào kiếp sống mới” cũng không đúng nốt. Nói gì đến danh và sắc trong kiếp sống trước đầu thai vào kiếp sống mới, ngay cả trong một đời người, danh và sắc sanh ở một nơi, cũng đã không di chuyển sang một nơi khác rồi, vì chúng diệt liền sau khi sanh vậy. Cho nên những gì được gọi là “linh hồn thường hằng” về cơ bản là phi hữu (non-existent: phi hữu, không có hay không tồn tại)
Bởi thế, chúng ta phải rất cẩn thận không nên để bị dẫn dắt đi lầm đường bởi hai tà kiến này. Chúng ta phải hiểu rằng trong một kiếp sống mới, sự thụ thai, sự hình thành của danh và sắc, là kết quả của vô minh, tham ái, và nghiệp của kiếp trước. Đây là chánh kiến duy nhất. Khi chúng ta hét lớn trong vùng phụ cận của một ngọn núi, chúng ta sẽ nghe thấy một tiếng vang. Tiếng vang này không phải là âm thanh ban đầu do chúng ta tạo ra, song nó cũng không độc lập với âm thanh đầu tiên ấy. Khi một cây đèn được mồi từ ngọn lửa của cây đèn thứ nhất, ngọn lửa mới không phải là ngọn lửa của cây đèn thứ nhất; song nó cũng không độc lập với ngọn lửa của cây đèn ấy. Cũng vậy, kiếp sống mới không phải là sự đầu thai của kiếp sống cũ; song nó cũng không độc lập với kiếp sống cũ. Hãy nhớ rằng nếu nghiệp quá khứ là bất thiện, kiếp sống hiện tại cũng sẽ là bất thiện như vậy. Có thể nói, những kinh nghiệm tốt và xấu trong kiếp hiện tại được giải thích bởi hai yếu tố: những hành động (nghiệp) đã làm trong quá khứ, và sự hiểu biết hay kiến thức và nỗ lực chuyên cần trong kiếp hiện tại.

Kết luận

Khi chúng ta nói “một người chết” không có nghĩa rằng đối với người đó thế là hết không còn gì nữa; việc quan trọng là người ấy có được tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hay không, vì chính để được tái sinh trong một kiếp sống mới mà người ta chết vậy. Và để sửa soạn cho mình có được một tâm trạng tốt ngay trước cái chết – điều chỉ có được khi người ta chết ít đau đớn, ốm đau nhẹ nhàng đến mức có thể, và nhất là phải có những người bạn lành biết làm cách nào để trợ giúp chúng ta vào lúc lâm chung – điều tốt hơn và lợi ích hơn cả vẫn là chúng ta biết chuẩn bị trước cho kiếp sống tương lai, thay vì chờ đến giây phút cuối cùng. Chúng ta phải có một cuộc sống đạo đức, và chuẩn bị cho ngày chết của mình sao cho có được một tái sinh tốt đẹp trong vòng luân hồi này cho đến khi chứng đắc Niết-bàn.

(Trích Chánh kiến và Nghiệp)
http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/ChanhKienVaNghiep/ChanhKien5.htm

Ngày gửi: 07-10-2012

Câu hỏi:

Kính đảnh lễ Thầy! Xin Thầy cho con được hỏi ạ:Lễ cúng hằng tuần trong 49 ngày cho người vừa chết có phải do Đức Phật chỉ dạy không? Nếu phải thì lễ cúng tuần đó có ý nghĩa gì ạ? Con xin cảm ơn Thầy ạ.

Trả lời:

Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì đức Phật chỉ dạy ngài Moggallana (Mục Kiền Liên) là nên để bát hoặc trai Tăng cúng dường để hồi hướng phước báu đến người quá vãng chứ không có nói cúng thất. Cúng thất là cách vận dụng sau này của Phật Giáo Trung Hoa. Tuy nhiên cúng thất cũng tốt nếu nội dung cúng thất như cách đức Phật dạy ngài Mục-kiền-liên, để nhờ đức độ chư Tăng trợ duyên hồi hướng phước báu của thí chủ đến hương linh người quá cố được thiện sanh cảnh giới an lạc. Vì người quá cố chỉ hưởng được tâm lực và phước lực hồi hướng thôi chứ không thể dùng vật thực dương gian như người còn sống.

http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=faq